Đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế dược phẩm và vấn đề tiếp cận dược phẩm nhằm bảo vệ sức khỏe cộng đồng

Tài liệu nghiên cứu Đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế dược phẩm và vấn, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Đại học Luật Hà Nội

Chuyên ngành

Khoa học xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

báo cáo tổng kết đề tài

2022

96
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ ĐỐI VỚI SÁNG CHẾ DƯỢC PHẨM

1.1. Khái quát chung về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế dược phẩm

1.2. Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế dược phẩm theo pháp luật quốc tế

1.3. Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế dược phẩm theo pháp luật Việt Nam

1.4. Nguyên tắc bảo hộ, điều kiện và phạm vi đối tượng bảo hộ sáng chế dược phẩm

1.5. Thời hạn bảo hộ sáng chế dược phẩm

1.6. Xác lập quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế dược phẩm

2. CHƯƠNG 2: VẤN ĐỀ TIẾP CẬN DƯỢC PHẨM NHẰM BẢO VỆ SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG VÀ VIỆC THIẾT LẬP SỰ CÂN BẰNG BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ ĐỐI VỚI SÁNG CHẾ DƯỢC PHẨM

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ ĐỐI VỚI SÁNG CHẾ DƯỢC PHẨM VÀ ĐẢM BẢO TIẾP CẬN DƯỢC PHẨM NHẰM BẢO VỆ SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG

3.1. Thực trạng bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế dược phẩm hiện nay

3.2. Thực trạng áp dụng các quy định linh hoạt nhằm cân bằng quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế dược phẩm và quyền tiếp cận dược phẩm nhằm bảo vệ sức khỏe cộng đồng trên thế giới và Việt Nam

3.3. Định hướng và giải pháp, kiến nghị nâng cao hiệu quả bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế dược phẩm và đảm bảo tiếp cận dược phẩm nhằm bảo vệ sức khoẻ cộng đồng tại Việt Nam

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế dược phẩm

Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế dược phẩm là một vấn đề quan trọng trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Sáng chế dược phẩm không chỉ là sản phẩm của sự sáng tạo mà còn đóng vai trò thiết yếu trong việc bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế dược phẩm được quy định trong các điều ước quốc tế như Công ước Paris 1883, Hiệp định TRIPS, và Hiệp định CPTPP. Các quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu sáng chế, đồng thời đảm bảo sự cân bằng giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội. Tuy nhiên, việc bảo hộ quá mức có thể dẫn đến tình trạng độc quyền, gây khó khăn cho việc tiếp cận dược phẩm của người dân, đặc biệt là ở các nước đang phát triển như Việt Nam.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của sáng chế dược phẩm

Sáng chế dược phẩm là những phát minh liên quan đến quy trình sản xuất, công thức hóa học, hoặc ứng dụng mới trong lĩnh vực dược phẩm. Đặc điểm nổi bật của sáng chế dược phẩm là tính sáng tạo và khả năng ứng dụng thực tiễn cao. Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế dược phẩm không chỉ khuyến khích đầu tư vào nghiên cứu và phát triển mà còn đảm bảo quyền lợi của chủ sở hữu. Tuy nhiên, việc bảo hộ này cần được cân nhắc kỹ lưỡng để tránh tác động tiêu cực đến khả năng tiếp cận dược phẩm của cộng đồng.

1.2. Pháp luật quốc tế và Việt Nam về bảo hộ sáng chế dược phẩm

Pháp luật quốc tế như Hiệp định TRIPSCông ước Paris đặt ra các tiêu chuẩn cao về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế dược phẩm. Tại Việt Nam, Luật Sở hữu trí tuệ cũng quy định rõ các điều kiện, thời hạn, và phạm vi bảo hộ sáng chế dược phẩm. Tuy nhiên, việc áp dụng các quy định này còn gặp nhiều thách thức, đặc biệt là trong việc cân bằng giữa quyền lợi của chủ sở hữu và lợi ích công cộng.

II. Tiếp cận dược phẩm và bảo vệ sức khỏe cộng đồng

Tiếp cận dược phẩm là một quyền cơ bản của con người, được ghi nhận trong Tuyên ngôn Quyền con người năm 1948Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966. Việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế dược phẩm có thể tạo ra rào cản trong việc tiếp cận dược phẩm, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Bảo vệ sức khỏe cộng đồng đòi hỏi sự cân bằng giữa việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và đảm bảo quyền tiếp cận dược phẩm của người dân. Các quy định pháp luật quốc tế và Việt Nam cần được điều chỉnh để đạt được sự cân bằng này.

2.1. Quyền tiếp cận dược phẩm dưới góc độ quyền con người

Quyền tiếp cận dược phẩm được coi là một phần không thể thiếu của quyền được bảo vệ và chăm sóc sức khỏe. Các quy định pháp luật quốc tế và Việt Nam đều công nhận quyền này, nhưng việc thực thi còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là trong bối cảnh bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ mạnh mẽ. Việc đảm bảo quyền tiếp cận dược phẩm cần được ưu tiên trong các chính sách y tế và pháp luật liên quan.

2.2. Ảnh hưởng của bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đến tiếp cận dược phẩm

Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế dược phẩm có thể dẫn đến tình trạng độc quyền, làm tăng giá thuốc và hạn chế khả năng tiếp cận của người dân. Điều này đặc biệt nghiêm trọng ở các nước đang phát triển, nơi nguồn lực y tế còn hạn chế. Các quy định pháp luật cần được điều chỉnh để giảm thiểu tác động tiêu cực này, đảm bảo sự cân bằng giữa lợi ích cá nhân và lợi ích công cộng.

III. Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

Thực trạng bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế dược phẩm hiện nay cho thấy nhiều bất cập, đặc biệt là trong việc cân bằng giữa quyền lợi của chủ sở hữu và lợi ích công cộng. Các quy định pháp luật cần được hoàn thiện để đảm bảo hiệu quả bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời đảm bảo quyền tiếp cận dược phẩm của người dân. Các giải pháp đề xuất bao gồm việc tăng cường hợp tác quốc tế, phát triển thuốc generic, và ứng dụng kiến thức y học cổ truyền.

3.1. Thực trạng bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam

Tại Việt Nam, việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế dược phẩm còn nhiều hạn chế, đặc biệt là trong việc áp dụng các quy định pháp luật. Thực trạng này đòi hỏi sự điều chỉnh và hoàn thiện các quy định pháp luật để đảm bảo hiệu quả bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời đảm bảo quyền tiếp cận dược phẩm của người dân.

3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

Các giải pháp đề xuất bao gồm việc tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực dược phẩm, phát triển thuốc generic, và ứng dụng kiến thức y học cổ truyền. Những giải pháp này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ mà còn đảm bảo quyền tiếp cận dược phẩm của người dân, đặc biệt là trong bối cảnh đại dịch COVID-19.

21/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I BAO HỘ QUYEN SỞ HỮU TRÍ TUỆ DOI VỚI SANG CHE DƯỢC PHAM 1. Khái quát chung về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế dược phẩm 1. Khái niệm về sáng chế dược phẩm và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ doi với sáng chế dược phẩm 1. Sáng chế dược phẩm a.

Khải niệm sáng chê Ngày nay, cùng với sự tiến bộ và phát triển khoa học kỹ thuật, con người dần tạo ra các sản phẩm nhằm phục vụ cho nhu cau của chính mình. Bên cạnh việc sản phẩm ngày càng pho biến thì nhu cầu khai thác và bảo vệ sáng chế của sản phẩm cũng ngày càng cao. Do đó, dé san pham của minh không bi sự xâm phạm của chu thé khác, đòi hỏi cần có các quy định về pháp luật SHTT với mục đích bảo vệ tốt các thành quả lao động sáng tạo của con người. Trong đó, sáng chế là một trong những đối tượng quan trọng của quyền sở hữu trí tuệ và là một nhân tố quan trọng trong việc thúc đây sự phát triển và sáng tạo nền khoa học công nghệ của các quốc gia nói riêng và thế giới nói chung.

Dưới góc độ pháp luật quốc tế, theo định nghĩa của Tô chức sở hữu trí tuệ thé giới (WIPO), sáng chế là: “Sáng chế là một độc quyền được cấp cho một giải pháp/phát hiện là sản phẩm hoặc quy trình, tạo ra một cách mới dé thực hiện một điều gì đó hoặc đưa ra một giải pháp kỹ thuật mới cho một van dé” 3 Dưới góc độ khoa học pháp lý tại Việt Nam, Từ điển Luật học có định nghĩa: “Sáng chế được hiểu là giải pháp kỹ thuật mới so với trình độ kỹ thuật trên thế giới, có tính sáng tạo và có khả năng áp dụng trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội”. Vũ Cao Đảm đã định nghĩa “Sáng chế là giải pháp kỹ thuật mang tính mới về nguyên lý kỹ thuật, tinh sáng tạo và áp dung duoc". Dưới góc độ pháp luật Việt Nam, Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 định nghĩa tại khoản 12 Điều 4: “Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhăm giải quyết một van đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên". Có thê thây răng, không đơn giản đê đưa ra một khái niệm chính xác vê “sáng chê”, tuy nhiên từ các khái niệm dưới nhiêu góc độ nêu trên, ta có thê hiêu về ban chat 3https://www.int/patents/en/truy cập lần cuối ngày 08/02/2022.

"A patent is an exchusive right granted for an invention, which is product or a process that provides, in general, a new way of doing something, or offerd a new technical solution to a problem". * Từ điển bách khoa Việt Nam, NXB Tư dién bách khoa, Hà Nội, 2003. > Vũ Cao Dam, Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 2005. 8 sáng chế là một giải pháp kỹ thuật, là ý tưởng của con người về việc thực hiện một giải pháp dé giải quyết một van dé kỹ thuật.

Sáng chế không phải là một sản phâm hay một quy trình cụ thé nào đó và sáng chế cũng không phải là các ý tưởng chỉ nêu van đề mà còn là cách giải quyét van dé đó. Khai niệm sang chê dược pham Theo tô chức Y tế thé giới WHO, dược pham duoc hiéu chung như sau: "Dược phẩm hay còn được gọi là thuốc bao gồm hai thành phan cơ bản thuốc Tân dược và thuốc Y học cô truyền. Thuốc phải đảm bảo được độ an toàn, hiệu quả và có chất lượng tốt được quy định thời gian sử dụng và sử dụng theo thời lượng hợp lý." Theo định nghĩa tại Chỉ thị 2004/27/EC của Hội đồng và Nghị viện Châu Âu ngày 31/03/2004 sửa đổi Chi thị 2001/83/EC về Đạo luật của Cộng đồng chung liên quan tới dược phâm cho con người thì được phẩm là: “bất kỳ chất hay hợp chất có tác dung chữa trị hoặc ngăn ngừa bệnh ở con người; hoặc bat ky chat hay hop chat có thé được sử dụng trong hoặc thêm vào co thé con người với chức năng phục hồi, chỉnh lý hay thay đổi các chức năng vật lý bằng viéc., tạo ra phương pháp chân đoán bệnh." Quyết định về Thực thi đoạn 6 Tuyên bố Doha về TRIPS và Sức khoẻ cộng đồng được Đại hội đồng WTO thông qua ngày 30/82003 thì “được phẩm được hiểu là bất kỳ sản phẩm nào được cấp bằng sáng chế hoặc những sản phẩm được sản xuất thông qua quy trình đã được cấp bằng độc quyền sáng chế của lĩnh vực dược phẩm dùng để giải quyết các vấn đề sức khoẻ cộng đồng. Nó còn được hiểu bao gồm cả những hoạt chất cân thiệt cho quá trình sản xuât và bộ dụng cụ chuân đoán cân thiệt được sử dụng”.

Tại Điều 2 Luật Dược 105/2016/QH13 quy định: "J. Dược là thuốc và nguyên liệu làm thuốc. Thuốc là chế phẩm có chứa dược chất hoặc dược liệu dùng cho người nhằm Mục đích phòng bệnh, chan đoán bệnh, chữa bệnh, Điều trị bệnh, giảm nhẹ bệnh, Điều chỉnh chức năng sinh lý cơ thể người bao gồm thuốc hóa được, thuốc được liệu, thuốc cô truyền, vac xin và sinh pham.” Từ khái niệm về dược pham và sáng chế đã nêu trên, ta có định nghĩa như sau về sáng chế dược pham: “Sáng chế liên quan đến dược phẩm là các đối tượng có thé được cấp bằng độc quyền sáng chế bao gồm sản phẩm, quy trình, phương pháp hay bat kì đôi tượng nào khác được dùng dé giải quyét các vân dé trong lĩnh vực sức khỏe cộng 5 Lê Thị Bích Thủy, Bảo hộ sáng chế liên quan đến dược phẩm theo quy định của Hiệp định TRIPS và pháp luật Việt Nam, Hà Nội,2012. 7 Trích tại: Lê Duy Quy — Khảo sat một số được chất sắp hết hiệu lực bảo hộ bằng độc quyền sáng chế tại nước ta giai đoạn 2010-2015 — Khóa luận tốt nghiệp — Thư viện trường Đại học Dược Hà Nội, 2010.

9 đồng, cụ thê cho việc phòng bệnh, chân đoán và chữa bệnh cho người hoặc động vật, băng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên. Đặc trưng cơ bản của sang chê dược pham Bên cạnh những đặc điểm chung như những đối tượng khác của quyền SHCN, SCLQĐDP có những đặc trưng riêng tới lĩnh vực được phẩmy tế: Thứ nhất, sáng chế dược phẩm là những đối tượng nhằm hướng tới giải quyết van đề sức khoẻ cộng đồng. Chính nhờ sự ra đời của các loại thuốc, vaccine,. đã chữa trị cho rất nhiều căn bệnh nhằm bảo đảm tính mạng và sức khoẻ của con người.

Do đó, với đối tượng hướng tới trên nên phạm vi sáng chế được phẩm rộng, có thê là các hợp chất, quá trình sản xuất và điều chế thuốc, bài thuốc đông y. Thứ hai, sáng chế được phẩm có tiêu chuẩn bảo hộ và điều kiện để được bảo hộ cao hơn so với các sáng chế trong lĩnh vực khác. Xuất phát từ đối tượng hướng tới liên quan trực tiếp đến sức khoẻ của người tiêu dùng nên việc sản xuất, thử nghiệm lâm sàng kiểm tra tính an toàn và hiệu quả của nó,. rất phức tạp.

Theo thông tư số 29/ 2018/TT-BYT quy định về thử thuốc trên lâm sàng: “Thử thuốc trên lâm sàng là hoạt động khoa học nghiên cứu thuốc trên người tình nguyện nhằm thăm dò hoặc xác định sự an toàn và hiệu quả cua thuốc; nhận biét, phái hiện phản ứng có hại do tác động của thuốc; khả năng hap thu, phan bố, chuyển hóa, thải trừ của thuốc.” Thứ ba, sáng chế dược phâm khác với các sáng chế khác trong các chính sách mà nhà lập pháp đưa ra luôn phải cân nhắc đến việc đạt được sự cân bằng tương đối trong lợi ích của chủ sở hữu sáng chế và lợi ích cộng đồng. Do đó đối với sáng chế trong lĩnh vực dược phâm phải có những phạm vi và hạn chế nhất định đối với chủ sở hữu sáng chế dược phẩm. Bảo hộ quyên sở hữu trí tuệ đối với sáng chế dược phẩm Về khái niệm “bảo hộ”, Hiệp định về các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (Hiệp định TRIPS) đã đưa ra cách giải thích cho khái niệm này theo nghĩa rất rộng tại Điều 3 và Điều 4 Hiệp định như sau: “Thuật ngữ bảo hộ phải bao gom các van đề ảnh hưởng đến khả năng đạt được, việc đạt được, phạm vi, việc duy tri hiệu lực và việc thực thi các quyên SHTT cũng như các vấn dé ảnh hưởng đến việc sử dụng quyên SHTT được quy định trong Hiệp định”. Như vậy có thê thay Hiệp định TRIPS đã đưa ra khái niệm “bdo hộ”.

Với cách hiểu như trên thì Hiệp định TRIPS đã mang Š Lê Thị Bích Thuỷ, Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế liên quan đến dược phẩm tại Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tê quôc tê - Luận án tiên sĩ, Hà Nội, 2021.38-39 10 đến một sự thay đổi mới về khái niệm bảo hộ quyền SHTT nói chung và bảo hộ sáng chế nói riêng. Trước đây, trong các DUQT về SHCN mà tiêu biểu là Công ước Paris 1883 về Bảo hộ sở hữu công nghiệp, khái niệm “bao hộ” được hiểu theo nghĩa hẹp hơn nhiều, chỉ bao gồm các vấn đề liên quan đến việc xác định đối tượng được bảo hộ, các quy định về xác lập quyền, các quyền được cấp cho chủ thể, thời hạn bảo hộ. còn hầu như không đề cập đến van dé thực thi quyền. Pháp luật Việt Nam không đưa ra một khái niệm riêng về “bảo hộ sang ché”, cũng như không có một quy định nào về “bdo hộ sáng chế được phẩm ” nhưng căn cứ vào nội dung của Luật SHTT thì bảo hộ quyền SHTT doi với các đối tượng của quyên SHCN là việc mà Nhà nước Việt Nam thừa nhận quyền SHTT của tổ chức cá nhân đối với các đối tượng SHCN do thông qua việc cấp Van bằng bảo hộ, duy trì và đảm bảo duy trì quyên cho các chủ thể quyén trong giới hạn và phạm vi của văn bằng bảo hộ đã được cấp và thực thi các quyên đó bằng các biện pháp cụ thể 9.

Đặc điểm của bảo hộ quyên sở hữu trí tuệ doi với sáng chế dược phẩm a. Diéu kiện bảo hộ quyên sở hữu trí tuệ doi với sang chê dược phẩm Đê sản phâm dược phâm được câp băng độc quyên bảo hộ sáng chê phải đáp ứng hai điêu kiện sau: (i) điêu kiện vê tiêu chuân bao hộ (tiêu chuân sáng chê); (1) điêu kiện loại trừ !°. Thứ nhất, điều kiện về tiêu chuẩn bảo hộ: Đề được pháp luật bảo hộ dưới danh nghĩa là sáng chế được phẩm, giải pháp kỹ thuật phải được cấp văn băng bảo hộ. Nha nước có nghĩa vụ bảo hộ các sáng chế dược phâm đã được cấp văn bằng bảo hộ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ sáng chế dược phẩm và tiếp cận dược phẩm bảo vệ sức khỏe cộng đồng là một tài liệu quan trọng tập trung vào việc cân bằng giữa bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) đối với các sáng chế dược phẩm và đảm bảo khả năng tiếp cận thuốc men cho cộng đồng. Tài liệu này nhấn mạnh vai trò của SHTT trong thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong ngành dược, đồng thời đề xuất các giải pháp để giảm thiểu rào cản tiếp cận thuốc, đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển. Đây là nguồn tham khảo hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách, doanh nghiệp dược phẩm và các tổ chức y tế công cộng.

Để hiểu sâu hơn về các vấn đề liên quan đến sức khỏe cộng đồng, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ y học thực trạng suy dinh dưỡng thể thấp còi ở trẻ em từ 25 đến 60 tháng và một số yếu tố liên quan tại hai xã vùng cao tỉnh lào cai, nghiên cứu này cung cấp cái nhìn chi tiết về tình trạng suy dinh dưỡng và các yếu tố ảnh hưởng. Ngoài ra, Luận văn thực trạng tự kỳ thị và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân đang điều trị HIV/AIDS tại phòng khám ngoại trú huyện Đông Anh Hà Nội năm 2017 cũng là một tài liệu đáng đọc, giúp hiểu rõ hơn về các thách thức xã hội trong việc điều trị bệnh mãn tính. Cuối cùng, Luận văn nghiên cứu tỷ lệ nhiễm ba bệnh ký sinh trùng truyền lây giữa động vật và người tại huyện Bắc Yên tỉnh Sơn La cung cấp thông tin quan trọng về các bệnh truyền nhiễm, một vấn đề sức khỏe cộng đồng không thể bỏ qua.