MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam đã có những tiến bộ đáng kể trong việc thu hút các nhà đầu tư nước ngoài. Tính tới hết tháng 11-2018, tổng số vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong năm 2018 đạt gần 31 tỷ USD (Cục Đầu tư nước ngoài, 2018). Đây là kết quả của các nỗ lực tích cực trong hơn 30 năm hội nhập kinh tế quốc tế và cải cách môi trường đầu tư của Việt Nam.
Kể từ đại hội Đảng lần VI (1986), Việt Nam đã tiến hành mở cửa nền kinh tế và đã đặt những bước đi đúng hướng và chắc chắn với mục tiêu: “Xây dựng một nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới”. Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế được thực hiện có hiệu quả bằng việc tham gia các Hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương và đa phương với các đối tác trong khu vực và trên thế giới, đã tham gia tới 16 FTA, trong đó có 10 FTA đã ký kết và có hiệu lực. Với số lượng FTA nhiều như vậy, chúng ta đang có xu hướng tập trung nhiều vào các FTA thế hệ mới như EVFTA, T-TIP, NAFTA,… và gần đây nhất, vào ngày 12-11-2018, Quốc hội Việt Nam đã biểu quyết phê chuẩn Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) để Việt Nam trở thành thành viên thứ 7 thông qua Hiệp định, sau Nhật Bản, Australia, New Zealand, Singapore, Canada, và Mexico. Việc tham gia CPTPP đã mở cửa cho Việt Nam tiếp cận với thị trường gồm 10 quốc gia với hơn 502 triệu dân có thu nhập bình quân 30.000 USD/năm, và có tổng kim ngạch thương mại lên đến 10.
Với những thế mạnh về nguồn tài nguyên phong phú, nguồn nhân lực trẻ với chi phí nhân lực thấp, môi trường thiên nhiên và địa lý phù hợp, Việt Nam sẽ tận dụng tốt các cơ hội và ưu đãi từ CPTPP để phát triển mạnh mẽ các ngành như nuôi trồng thủy sản, công nghiệp may và giày da, và đang dành quan tâm nhiều đến việc phát triển ngành cơ khí sản xuất chế tạo máy. Cơ khí từ lâu đã được xem là một ngành cơ bản, có vị trí như là ngành xương sống để làm động lực cho các ngành công nghiệp khác phát triển. Một khi có được ngành cơ khí phát triển mạnh, những ngành khác như công nghiệp chế biến nông Luan van -2- sản, xây dựng, giao thông vận tải, và cả an ninh quốc phòng sẽ được hỗ trợ tốt để phát triển nhanh chóng. Ngành cơ khí Việt Nam tuy vẫn còn hạn chế so với thế giới, nhưng cũng đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ, số lượng doanh nghiệp cơ khí tăng mạnh từ 10.000 doanh nghiệp vào năm 2010 lên đến khoảng 21.000 doanh nghiệp năm vào năm 2016 (Trần Thị Minh Hằng, 2018), và kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm cơ khí đạt trên 16 tỷ USD.
Những số liệu trên cho thấy ngành cơ khí giữ vị trí khá quan trọng trong nền kinh tế của Việt Nam. Khi tham gia vào CPTPP, ngành cơ khí tuy sẽ có thêm nhiều khách hàng do được tiếp cận thêm với một thị trường rất lớn với nhu cầu gần như vô tận nhưng cũng sẽ gặp rất nhiều khó khăn nhất định. Vì vậy, các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam cần phải nỗ lực tìm lối đi đúng đắn, hóa giải các khó khăn và kịp thời nắm bắt các cơ hội đến từ CPTPP để tồn tại và phát triển. Cùng tham gia vào ngành cơ khí Việt Nam, Công ty TNHH Saigon Precision đã được thành lập và bắt đầu sản xuất mặt hàng cơ khí chính xác từ năm 1995.
Sản phẩm của Công ty là những linh kiện cơ khí chính xác, được dùng trong các hệ thống tự động hóa, quang học, hoặc các khuôn chính xác cao, được xuất khẩu hầu hết ra thị trường như Đông Nam Á, Trung Quốc, Hàn Quốc, Châu Âu, Mỹ, và chiếm đa số là thị trường Nhật Bản. Nắm bắt được xu thế hội nhập và tiến trình tham gia CPTPP của Việt Nam, ban lãnh đạo Công ty cũng đã chỉ đạo tập trung cải tiến chất lượng, rút ngắn thời hạn giao hàng, và gia hiệu quả sản xuất nhằm từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh của các sản phẩm của Công ty, để sẵn sàng cạnh tranh với các sản phẩm giá rẻ có xuất xứ từ Trung Quốc hay Đài Loan. Xuất phát từ những vấn đề cấp thiết nêu trên, và mong muốn góp phần giúp các doanh nghiệp cơ khí chuẩn bị tốt hơn cho tiến tình hội nhập kinh tế thế giới, tác giả quyết định chọn đề tài "Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương: cơ hội và thách thức đối với hoạt động xuất khẩu mặt hàng cơ khí chính xác của Công ty Saigon Precision sang thị trường Nhật Bản" làm Luận văn thạc sĩ của mình. Tổng quan tình hình nghiên cứu Tham gia các FTA quan trọng luôn mang đến cơ hội và thách thức song song với nhau, ảnh hưởng sâu rộng đến kinh tế, xã hội, và cả chính trị.
Vì vậy, các nhà nghiên cứu quốc tế và trong nước đều có quan tâm đặc biệt đến từng khía cạnh ảnh hưởng và của nó. Gần đây nhất, với những FTA lớn như TPP và sau này chuyển đổi thành CPTPP đã thu hút được rất nhiều quan tâm và nghiên cứu do tính quy mô và quan trọng của nó. Các nghiên cứu phần lớn tập trung ở việc xem xét ảnh hưởng của các FTA này đến các khía cạnh khác nhau của từng ngành hay từng khu vực địa lý, hoặc các nghiên cứu về cách vận dụng các điều khoản của các FTA này vào từng ngành hoặc từng tổ chức kinh tế cụ thể. Nghiên cứu ngoài nước (1) Công trình nghiên cứu “Economic and Distributional Impacts of Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership: The case of Vietnam” do Maryla Maliszewska, Zoryana Olekseyuk và Israel Osorio Rodarte thực hiện năm 2018.
Công trình này đánh giá được tác động của CPTPP về kinh tế và phân bổ thu nhập, phân tích được những lợi ích đạt được từ việc mở cửa thị trường, những tác động tiềm tàng của CPTPP so sánh với Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) và Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương ban đầu (TPP-12) đối với Việt Nam. Đặc biệt quan tâm phân tích ảnh hưởng đến các yếu tố: sản lượng, xuất nhập khẩu, thuế xuất nhập khẩu, hàng rào phi thuế quan, tác động theo ngành, tác động phân bổ thu nhập…Tuy nhiên, nhiều nội dung của các FTA không đưa được vào mô hình phân tích như: tác động đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài, những lợi ích về năng suất (nội sinh) hay phát triển sản phẩm xuất khẩu mới. Ngoài ra, mô hình cũng không tính đến tác động của những biện pháp như hài hòa các tiêu chuẩn lao động hay môi trường, các điều khoản về quyền sở hữu trí tuệ, doanh nghiệp nhà nước, cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư giữa nhà nước và nhà đầu tư hay đấu thầu, mua sắm công. (2) Bài viết “Đối tác monozukuri Việt Nam - Nhật Bản trong Công nghiệp hỗ trợ” do Kenichi Ohno thực hiện năm 2008.
Bài viết phân tích tình hình sản xuất của Luan van -4- các doanh nghiệp trong nước của Việt Nam, và đề xuất các phương án cụ thể nhằm nâng cao năng lực sản xuất và quản lý để phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ. Công trình nghiên cứu cũng đưa ra quy trình hợp tác giữa các doanh nghiệp Việt Nam và Nhật Bản nhằm tận dụng thế mạnh của mỗi bên để cùng nhau đạt mục tiêu. Tuy vậy, nghiên cứu này mới chỉ nhấn mạnh nhiều đến phương án để giúp các doanh nghiệp ngành Công nghiệp hỗ trợ khắc phục các điểm yếu mang tính địa phương chứ chưa đề cập đến việc tận dụng cơ hội và đối phó với các thách thức do các FTA thế hệ mới, cụ thể hơn là CPTPP mang đến. (3) Công trình nghiên cứu “The New Regionalism: A Country Perspective” do Jaime de Melo, World Bank, University of Geneva and CEPR, 1993.
Nghiên cứu này xem xét và mở rộng lý thuyết hội nhập khu vực và đánh giá sự đóng góp của hội nhập đối với tăng trưởng, đánh giá các lợi ích của hội nhập khu vực từ quan điểm của các nước tham gia. Trọng tâm nghiên cứu trả lời câu hỏi là liệu phương pháp tiếp cận khu vực có thể hoàn thành các mục tiêu không thể thực hiện được thông qua tự do hóa thương mại đơn phương hay không. Bài nghiên cứu cũng nêu ra vai trò của các thể chế kinh tế trong quá trình hội nhập khu vực. Nghiên cứu này phân tích và so sánh được ảnh hưởng của các FTA theo khu vực và các Hiệp định đơn phương đến nền kinh tế quốc gia.
Tuy nhiên, nghiên cứu này tập trung phân tích nền kinh tế quốc gia, các liên minh hải quan, ảnh hưởng hội nhập đến khả năng thương lượng và tiếp cận thị trường, chứ chưa phân tích cụ thế các tác động của một FTA cụ thể đến một ngành nghề cụ thể để có tính thực tiễn hơn. (4) Công trình nghiên cứu “The Impact of Free Trade Agreements on Foreign Direct Investment in the Asia-Pacific Region” của Shandre M. Thangavelu và Christopher Findlay thực hiện năm 2011. Nghiên cứu đã điều tra xem liệu thành viên của Hiệp định thương mại song phương hay Hiệp định thương mai khu vực có tác động khác biệt đến dòng FDI trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương hay không do bối cảnh tăng cường các thỏa thuận kinh doanh và dòng vốn FDI đang phát triển, kiểm tra tác động của RTA trong việc xác định dòng vốn FDI.
Nghiên cứu này đã phân tích được ảnh hưởng của FTA đến dòng vốn FDI tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, trong đó có Công ty Saigon Precision cũng là một doanh Luan van -5- nghiệp FDI trong khu vực này. Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu về các ưu đãi và hạn chế của các FTA lên các doanh nghiệp trong khu vực. Nghiên cứu trong nước (1) Đề tài “Chính sách nhập khẩu của Nhật Bản và khả năng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản” do Nguyễn Đức Thắng thực hiện năm 2005. Bài báo cáo phân tích mối quan hệ Việt Nam-Nhật Bản và các hiệp định đa phương và đa phương hiện có giữa 2 quốc gia.
Phân tích cụ thể chính sách nhập khẩu của Nhật Bản, các hàng rào thuế quan và phi thuế quan, nghiên cứu ảnh hưởng của chính sách nhập khẩu của Nhật Bản áp dụng đối với hàng hóa Việt Nam.