CÁC YẾU TỔ CỦA QUYEN SỞ HỮU TRÍ TUỆ TS. PHUNG TRUNG TẬP CÁC YEU TO CUA QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUE (SÁCH CHUYÊN KHẢO) THU Ui Ẹ ‘A muonsz DAI ïìTÁC, LUAJ HẠ NHÀ XUẤT BẢN TƯ PHÁP HÀ NỘI - 2004 Mã số: TPA/K - 04 - 01 LỜI NHÀ XUẤT BẢN Sở hữm trí tuệ ngày càng có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế- xã hội, là yếu tố vật chất thúc đẩy xã hội phát triển. Việc tạo khuôn khổ pháp lý chặt chế và năng động để khuyến khích sáng tạo ngày càng nhiều tri thức mới cho con người, phục vu lợi ich của con người và sự phát triển chung của xã hội là một trong những nhiệm vụ quan trong của pháp luật quốc gia và quốc tế. Ở nước ta, nhận thức sâu sắc vai trò của sở hữu trí tệ trong su nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước, Dang va Nhà nước luôn coi trọng việc xây dựng hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyên sở hữu công nghiệp, quyền tác giả.
Ở góc độ chung nhất có thể khẳng định pháp luật về sở hữu tri tuệ của Việt Nam là một trong những lĩnh vực pháp luật được hoàn thiện nhanh chóng, bám sát thực tién và hội nhập được với hệ thống pháp luật về sở hữm trí tuệ của nhiều nước có nền kinh tế phát triển. Để góp phần nghiên cứu lĩnh vực pháp luật quan trọng này, Nhà xuất bản Tư pháp xuất bản cuốn sách “Các yếu tố của quyền sở hữu trí tuệ” của tác giả Phùng Trung Tập, Tiến sỹ luật học, hiện dang công tác tại Trudéng Đại học Luật Hà Nội, là một trong những người dày công nghiên cứu về pháp luật dân sự và đã có một số công trình được công bố về vấn đề này. Cuốn sách tập trung phân tích quy định của pháp luật Việt Nam, pháp luật một số nước trên thế giới, có sự dan chiếu dé so sánh với các công tớc quốc tế, đặc biệt lưu ý những vấn dé mới của sở hữm tri tué trong bối cảnh khoa học công nghệ phái triển mạnh mé hiện nay. Hy vọng cuốn sách sẽ cung cấp những tri thức pháp luật cần thiết để cán bộ nghiên cứu, giảng dạy và hoạt động thực tiễn trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, sinh viên các trường luật, kính tế tham khảo phục vụ công tác và học tập.
Tháng 10/2004 Nhà xuất bản Tu pháp Khái quát về quyền sở hữu trí tuệ PHAN THỨNHẤT KHÁI QUÁT VỀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ I. SỞ HỮU TRÍ TUỆ Xét về góc độ lịch sử thì sở hữu trí tuệ khêng phải là khái niệm mới và tinh. Kể từ thế kỷ thứ XV, tai Venice, Nhà nước đã ban hành lệnh trao độc quyền cho những người trong lao động đã sáng tạo ra giải pháp kỹ thuật dưới dạng sáng chế. Tính chất độc quyền được thể hiện trong việc chỉ người tạo ra giải pháp kỹ thuật đó mới được độc quyền sử dụng những giải pháp kỹ thuật do mình tạo ra như độc quyền áp dụng giải pháp đó vào sản xuất và quyền đó được bảo hộ theo nguyên tắc không ai được xâm phạm dưới bất kỳ hình thức nào.
Sự kiện trên đã được lan truyền nhanh chóng sang các nước như Đức, Pháp, Phần Lan và Vương quốc Anh trong suốt thế kỷ XVI.°) Sự độc quyền sử dụng sản phẩm tri tuệ dưới đạng sáng chế của người tạo ra nó một mặt đã thúc đẩy khả nang tạo ra những chung loại hàng hóa mới ngày một dep hơn, phong phú hơn, mặt khác người độc quyền sử dụng sáng chế sẽ trở nên giàu có nhanh chóng. Ngoài ra, việc sử dụng độc quyền sáng chế đã tạo ra sự cạnh tranh thương trường và từ đó đã nảy sinh những khát vọng và nghị lực sáng tạo ra những giải pháp kỹ (l)Xem: Bruce A.Lehman, “Giới thiệu về quyền sở hitu tri tuệ” do Văn phòng các Chương trình thông tin quốc tế Bộ ngoại giao Hoa Ky phat hành, tr. Khái quát về quyền sở hữu trí tuệ thuật có hàm lượng trí tuệ cao hơn. Thực tế đã chứng minh, trong nền kinh tế thị trường tự do (mà các nước Tây Âu đều tồn tại một thị trường như vậy) việc bảo hộ phát minh, sáng chế đã tạo ra hoàn cảnh xã hội đầy tính khích lệ cho việc sáng tạo, là điều kiện vo cùng quan trọng và không thể thiếu.
Nhu một tất yếu của lịch sử, nhu cầu của nhân loại là sáng tạo, theo đó trí tuệ của con người không ngừng phát triển. Trong mot xã hội có môi trường ưu tiên, khích lệ và trân trọng đối với mọi sự sáng tạo cho dù những sáng tạo đó là nhỏ thì khả năng thích nghi với những điều mới lạ, khát vọng vươn tới cái mới sẽ làm thay đổi trình độ sản xuất thực tại của con người, xã hội đó sẽ có điều kiện phát triển không ngừng. Đặc biệt, những cá nhân có trí lực, óc sáng tạo sẽ đam mê tìm ra những giải pháp kỹ thuật mới, phát hiện ra những quy luật vận động của thế giới tự nhiên, những giải pháp kỹ thuật mới nhằm phục vụ những lợi ích lớn lao của nhân loại. Trong lĩnh vực phát minh, sáng chế và quyền công bố những sản phẩm trí tuệ, việc bảo hộ các sản phẩm trí tuệ dưới hình thức cấp bằng phát minh, sáng chế, đầu tư thương mại vào các sản phẩm trí tuệ đã tạo ra những điều kiện cần thiết và quan trọng cho những người có khả năng đóng góp vào kho tàng kiến thức chung của nhân loại.
Việc bảo hộ này đã trở thành nhu cầu của xã hội. Vào năm 1709, tai Anh quốc Đạo luật bản quyền") của Nữ hoàng Anh Anne được ban hành, Đạo luật này ghi nhận những lợi ích bản quyền của tác giả, người sáng tạo ra tác phẩm. Luật bản quyền đã ghi nhận và bảo hộ các quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả sáng tạo ra tác phẩm. Những nguyên tắc được quy định trong Luật bản quyền của Nữ Hoàng Anh Anne đã trở thành công cụ bảo hộ (1)Xem: Bruce A.Lehman, Sdd, tr.
8 Khát quát về quyền sở hữu trí tuệ quyền cua tác gia tác phẩm nham chống lại các hành vi xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của tác giả trong lĩnh vực sáng tác văn học, âm nhạc và các sáng tác thuộc lĩnh vực nghệ thuật, khoa học khác. Ngoài những sản phẩm trí tuệ được thể hiện dưới dạng các tác phẩm văn học, nghệ thuật còn có những đối tượng khác cũng thuộc lĩnh vực sáng tạo trí tuệ của con người. Hiện nay, theo quy định của pháp luật các nước trên thế giới thì những sản phẩm trí tuệ được thể hiện dưới dạng sáng chế đều được bảo hộ. Con người tự mình tạo ra những sản phẩm hàng hóa và sản phẩm văn hoá thông qua quá trình lao động.
Những sản phẩm do con người tạo ra ngày một đa dạng và phong phú. Những sản phẩm đó đã mang lại cho con người những lợi ích vat chất và tinh thân. Nền van hoá và sự giàu có về mat vật chất trong xã hội đánh dấu bước phát triển của nhân loại. Ngày nay, khái niệm nhãn hiệu hàng hóa đã được hiểu một cách rộng rãi và nó có vai trò quan trọng không chỉ đối với nhà sản xuất và người tiêu dùng mà nó còn có nhiều ý nghĩa khác ngoài ý nghĩa kinh tế.
Vậy nhãn hiệu hàng hóa có nguồn gốc lịch sử từ bao giờ? Câu trả lời nằm trong những gì còn lại của nền van minh nhân loại trong quá khứ dựa trên kết quả của ngành khảo cổ học. Ngành khảo cổ học đã phát hiện ra những đồ dùng bằng gốm do con người tạo ra cách ngày nay khoảng 3500 năm. Những người thợ thủ công tiền sử đã chạm, khác các ký hiệu trên những đỏ dùng bang gốm dé đánh dấu, phân biệt xuất xứ và nguồn của các đồ dùng bằng gốm đó. Tuy nhiên, các bộ luật, đạo luật được ban hành dé bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa cũng mới chi xuất hiện cách ngày nay khoảng 350 năm vào đầu thế ky XVII tại Vương quốc Anh.“ Nếu xét về khoảng cách thời gian thì những (1).Xem: Bruce A Lehman, Sdd, tr.
Khái quát về quyền sở hữu trí tuệ giá tri nhân van và giá trị vật chất do con người sáng tạo ra chỉ được chính con người nhận biết và có cơ chế bảo vệ muộn hơn rất nhiều. Vào đầu thế kỷ XVIII, tại nước Anh, Luật bao hộ thương hiệu được ban hành để điều chỉnh quan hệ xã hội trong lĩnh vực thương mại. Thương hiệu theo khái niệm bảo hộ của luật hiện đại trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ được dùng để phân biệt nguồn gốc hoặc xuất xứ của một sản phẩm hoặc dịch vụ với mục đích phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp này với các sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp khác. Theo thuộc tính và đặc điểm riêng của thương hiệu thì thương hiệu còn có chức năng quan trọng trong việc bảo vệ người tiêu dùng, trong việc kết nối một hàng hóa hoặc dịch vụ với nguồn gốc của nó.
Các luật bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ không tính mà luôn được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với những đòi hỏi của đời sống kinh tế - xã hội. Những thay đổi trong công nghệ trên thế giới ngày nay một mặt mang lại cho nhân loại những cơ hội thay đổi vượt bậc và căn bản mọi mặt của đời sống kinh tế-xã hội, mặt khác cũng đưa ra những thách thức trong việc tạo ra công nghệ và triển khai công nghệ trên phạm vi toàn cầu. Thành tựu của khoa học công nghệ mà nền tảng của nó là sự sáng tạo trí tuệ, không ngừng phát triển song song với sự tồn tại và phát triển của nhân loại. Trong thé ky XX con người đã được chứng kiến và sử dụng những sản phẩm có hàm lượng trí tuệ cao và có sức mạnh chinh phục tự nhiên như phát minh ra máy photocopy, đài thu thanh, máy ghi hình, truyền hình cáp, vệ tinh, máy tính và Internet.
Những nước phát triển trên thế giới đều là những nước có được các ngành công nghiệp hiện đại và luôn luôn ở thứ bậc của nền đại công nghiệp và sáng tạo. Thực tế ở các nước phát triển đã 10 Khái quát về quyền sở hữu trí tué cho thấy ngành công nghiệp sáng tạo của họ bao giờ cũng có các đạo luật có những quy định khuyến khích sáng tạo bang cách quản lý việc sao chép các sáng chế, các biểu tượng định dạng và các hình thức sáng tạo khác.