mở đầu và kết thúc” (Khoản 10, Điều 3, Luật Báo chí 2016). 11 Trong mỗi chương trình truyền hình có thể có nhiều tác phẩm với các thể loại khác nhau, như: tin, phóng sự, phim tài liệu, phóng vấn, phóng sự điều tra,… Những thể loại này cũng được xem là những tác phẩm báo chí được đăng phát, truyền tải đến khán, thính giả thông qua phương tiện là kênh truyền hình. Đặc điểm của tác phẩm, chương trình truyền hình 1. Về nội dung: Tác phẩm hay chương trình truyền hình nào, ngoài những đặc điểm chung của tác phẩm báo chí thì chúng cũng mang những đặc điểm riêng của loại hình truyền hình, giúp khán, thính giả phân biệt được chương trình này với chương trình khác.
- Tính thời sự, tính xác thực, tính định hướng trực tiếp: + Tính thời sự: Chỉ những sự việc, sự kiện đã và đang xảy ra, có ý nghĩa xã hội và được nhiều người quan tâm. Tính thời sự ở đây để chỉ riêng đối với các thể loại tác phẩm báo chí được đăng phát trên sóng truyền hình như tin tức thời sự, bài phản ánh, phóng sự, ghi nhanh, tường thuật,… Còn đối với các chương trình truyền hình mang tính giải trí (gameshow, hài,…), phim truyện thì không nhất thiết phải mang tính thời sự, mà các nhà sản xuất chương trình truyền hình dựa trên sự khảo sát về thị hiếu của khán giả để xây dựng các forrmat chương trình giải trí hay phim truyện phản ánh hơi thở cuộc sống, gần gũi với cuộc sống thực tại, từ đó để thu hút người xem, thu hút nguồn thu do chương trình mang lại. + Tính xác thực: Đòi hỏi tác giả của tác phẩm, chương trình truyền hình khi thông tin về những biến cố, sự việc, con người, hoàn cảnh, tình huống đều phải là những cái có thật vừa mới xảy ra, đang xảy ra hoặc chắc chắn sẽ xảy ra. + Tính định hướng trực tiếp: Thể hiện ở hiệu ứng xã hội của thông tin mà tác phẩm, chương trình truyền hình truyền tải, đó là những sự kiện, sự việc, vấn đề đưa ra phải là những vấn đề thân thiết liên quan đến đời sống của cộng đồng.
Những giá trị thông tin mang lại của tác phẩm, chương trình đó giúp cho công chúng nắm bắt 12 kịp thời bản chất sự kiện để có những phản ứng một cách tích cực. Thước đo giá trị hiện thực hóa phụ thuộc vào hàm lượng sự thật và tính đúng đắn của tác phẩm, chương trình truyền hình (hình ảnh, âm thanh hiện trường được ghi lại từ sự kiện) tác động vào đời sống, làm thay đổi hành vi, cách nghĩ của con người trong hoạt động chính trị - kinh tế - văn hóa - xã hội. Đó chính là tính hiệu quả và định hướng trực tiếp của tác phẩm báo chí. Về hình thức: Tác phẩm, chương trình truyền hình có hình thức thể hiện bao gồm toàn bộ các yếu tố hàm chứa, biểu hiện và chuyển tải nội dung như: thể loại, kết cấu, dung lượng, bút pháp, giọng điệu, ngôn ngữ (lời bình), âm thanh, tiếng động, hình ảnh.
Trong đó hình ảnh, tiếng động, lời bình là đặc trưng tiêu biểu của tác phẩm, chương trình truyền hình. Về thể loại của tác phẩm, chương trình phát thanh, truyền hình đa dạng, phong phú, như: tin tức thời sự, chính luận, chuyên đề, khoa giáo, giải trí, tường thuật, truyền hình trực tiếp, ghi hình sự kiện, ghi nhanh, phản ánh, điều tra, phỏng vấn, phóng sự, chuyên mục, mục, ký sự, phim tài liệu, talk show, game show,… Với các thể loại đa dạng, các tác phẩm, chương trình truyền hình ngày nay ngày càng phát triển phong phú hơn nhằm đáp ứng thị hiếu và nhu cầu của khán giả, nhất là trong việc kết nối, ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực truyền hình cũng buộc các nhà sản xuất truyền hình phải thích ứng để phát triển. Vì vậy, hình thức thể hiện của các tác phẩm, chương trình truyền hình không ngừng được cải tiến, phù hợp để phát sóng và truyền tải trên các hạ tầng công nghệ khác nhau. Khái quát chung về bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan trong lĩnh vực truyền hình 1.
Khái niệm quyền tác giả, quyền liên quan đối với tác phẩm báo chí, chương trình truyền hình: 1. Khái niệm quyền tác giả, quyền liên quan: Quyền tác giả là một bộ phận cấu thành của quyền sở hữu trí tuệ - quyền đối với các tài sản trí tuệ của con người được pháp luật ghi nhận và bảo hộ. Đối tượng của quyền tác giả bao gồm các sáng tạo tinh thần có tính chất văn hóa, đó là các sản 13 phẩm trí tuệ phục vụ nhu cầu tinh thần, giải trí của con người, có thể là các sản phẩm văn học, khoa học, nghệ thuật,… được gọi chung là “tác phẩm”. Để làm rõ bản chất việc bảo hộ quyền tác giả, trước tiên cần làm rõ khái niệm về quyền tác giả và một số đặc điểm về quyền tác giả.
Quyền tác giả có thể được tiếp cận theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng. Khoản 2, khoản 3, Điều 4, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2009 (sau đây gọi chung là Luật Sở hữu trí tuệ) quy định: “Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu; Quyền liên quan đến quyền tác giả (sau đây gọi là quyền liên quan) là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa”. Ở đây, quyền tác giả được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan. Về căn cứ phát sinh quyền, quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký.
Còn quyền liên quan phát sinh kể từ khi cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa, được định hình hoặc thực hiện mà không gây phương hại đến quyền tác giả. Về mặt nội dung, quyền tác giả và quyền liên quan luôn bao gồm sự bảo hộ về mặt tài sản (tức là những lợi ích kinh tế do sản phẩm trí tuệ đem lại) và sự bảo hộ về mặt nhân thân tác giả. Ở đây, khi tác giả - người sáng tạo - được bảo hộ thì không có nghĩa là tác giả giấu kín tác phẩm của mình, độc chiếm nó. Bởi về mặt bản chất của các tác phẩm sáng tạo, nếu nó không được khai thác, sử dụng thì nó sẽ chẳng có giá trị và không đem lại lợi ích gì.
Việc độc quyền chiếm hữu tài sản trí tuệ sẽ làm cản trở nhu cầu phát triển của xã hội và kìm hãm hoạt động sáng tạo. Nhưng khi khai thác, sử dụng, công khai tác phẩm thì làm phát sinh nhiều vấn đề về mặt lợi ích kinh tế cũng như giá trị của bản thân tác giả, có thể dẫn đến hạn chế sự 14 sáng tạo. Do đó, khi bảo hộ các quyền tác giả và quyền liên quan phải thực hiện sự bảo hộ trên cả hai mặt là lợi ích kinh tế và giá trị nhân thân, để có thể đạt được mục đích vừa khuyến khích sự sáng tạo, vừa đảm bảo sự phát triển xã hội. Về mặt giới hạn quyền, cũng xuất phát từ việc phải cân bằng các lợi ích trong xã hội, cân bằng giữa lợi ích cá nhân và lợi ích của cộng đồng mà trong quá trình bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan, cần phải đặt ra các giới hạn đối với chủ thể của các quyền này.
Các giới hạn thường được sử dụng như giới hạn về không gian, giới hạn về thời gian, giới hạn bởi quyền, lợi ích chính đáng của chủ thể khác, giới hạn bởi lợi ích của cộng đồng hoặc giới hạn bởi các nghĩa vụ của chính chủ sở hữu các quyền này phải thực hiện. Căn cứ phát sinh quyền tác giả là thành quả sáng tạo của tác giả, tuy nhiên thành quả này phải được thể hiện dưới một hình thức nhất định mà không phải những ý tưởng sáng tạo chứa đựng trong tác phẩm, được thể hiện ra từ tác phẩm. Do đó, quyền tác giả được bảo hộ không phụ thuộc vào nội dung và giá trị nghệ thuật của tác phẩm, mà chỉ bảo hộ hình thức thể hiện tác phẩm. Bên cạnh đó, tác phẩm được bảo hộ phải có tính nguyên gốc, không sao chép, bắt chước tác phẩm khác.
“Điều đó không có nghĩa là ý tưởng của tác phẩm phải mới mà có nghĩa là hình thức thể hiện của ý tưởng phải do chính tác giả sáng tạo ra”. Như vậy, bảo hộ quyền tác giả hiểu một cách chung nhất, là việc Nhà nước ban hành các quy phạm pháp luật, tạo cơ sở pháp lý cho việc xác lập, công nhận và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho các tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do họ sáng tạo. Bảo hộ quyền tác giả gồm các nội dung: (i) Xác lập, công nhận quyền tác giả cho các cá nhân, tổ chức; (ii) Quản lý, sử dụng, khai thác quyền tác giả; (iii) Bảo vệ quyền tác giả chống lại các hành vi xâm phạm. Nội dung của quyền tác giả bao gồm: Quyền nhân thân và quyền tài sản.
Quyền nhân thân: a) Quyền đặt tên cho tác phẩm Việc đặt tên tác phẩm trước hết có ý nghĩa trong việc cá biệt hóa tác phẩm. Bên cạnh đó, tên tác phẩm thường phản ánh nội dung, ý tưởng của tác giả trong tác phẩm, giúp cho công chúng có thể tiếp cận dễ dàng hơn với “ý đồ” của tác giả. Tuy nhiên, việc đặt tên cho tác phẩm không có ý nghĩa pháp lý đối với việc bảo hộ quyền tác giả vì tác phẩm có thể được bảo hộ thậm chí khi nó là tác phẩm vô đề. Quyền đặt tên cho tác phẩm là quyền nhân thân chỉ thuộc về tác giả của tác phẩm, kể cả khi tác giả sáng tạo ra tác phẩm theo nhiệm vụ được giao hay theo hợp đồng thì quyền đặt tên vẫn thuộc về tác giả.
Quyền đặt tên không áp dụng trong trường hợp tác giả dịch tác phẩm từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác. b) Quyền đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng Để khẳng định tác phẩm là kết quả hoạt động sáng tạo của mình, tác giả thường đứng tên trên tác phẩm (có thể sử dụng tên thật hoặc bút danh).