CHƯƠNG 1: MOT SO LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE THONG TIN DOI NGOAI QUOC PHONG TREN TRUYEN HINH 1. Các khái niệm liên quan đến đề tài: 1. Thông tin doi ngoại Thông tin (Information) là khái niệm của khoa hoc cũng là khái niệm trung tâm của xã hội. Sự quan tâm đến hiện tượng thông tin gia tăng đột biến vào thế kỷ XX và ngày nay, chúng trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành chuyên môn, trong đó có ngôn ngữ học, thông tin học và báo chí truyền thông cùng nhiều ngành khoa học xã hội.
Có rất nhiều cách hiéu về thông tin. Theo nghĩa thông thường: Thông tin là tất cả các sự việc, sự kiện, ý tưởng, phán đoán làm tăng thêm sự hiểu biết của con người. Thông tin hình thành trong quá trình giao tiếp: một nguời có thể nhận thông tin trực tiếp từ người khác thông qua các phương tiện thông tin dai chúng, từ các ngân hang dữ liệu, hoặc từ tất cả các hiện tượng quan sát được trong môi trường xung quanh. Sự bùng nỗ thông tin mang tính toàn cầu thúc đây sự phát triển, giao lưu kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học- kỹ thuật giữa các quốc gia, dân tộc.
Như cầu giữ và tiếp nhận thông tin cũng tăng lên nhanh chóng. Trong kỷ nguyên số của cuộc Cách mang 4.0, thế giới ngày càng trở nên “phang hơn” và con người giao tiếp không giới hạn không gian, thời gian. Đối với mỗi quốc gia, thông tin được xác định nhằm phục vụ hai mục đích: thông tin đối nội và thông tin đối ngoại. Công tác thông tin đối ngoại là một bộ phận trong chiến lược thông tin để phục vụ lợi ích quốc gia.
Trong quan hệ quốc tế hiện đại, thông tin đối ngoại và văn hóa đối ngoại được coi là công cụ quan trọng mà các quốc gia ra sức triển khai nhằm tăng sức ảnh hưởng của mình tới dư luận quốc tế để phục vụ cho những mục tiêu chung hay cụ thé của chính sách đối ngoại. Hiện nay, các thuật ngữ như “thông tin đôi ngoại”, 333 66 “công tác thông tin đôi ngoại”, “đôi ngoại quôc phòng” xuât hiện 19 với tần suất ngày càng nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng. Tuy nhiên, vẫn chưa có định nghĩa chính thức về thông tin đối ngoại nào được các cơ quan chức năng đưa ra. Theo những lập luận khác nhau của các học giả hoặc các tổ chức nghiên cứu thì có khá nhiều cách hiểu về thuật ngữ nay.
Trên thế giới, một thuật ngữ hay được sử dụng để phản ánh tính chất hoạt động của thông tin đối ngoại là “public diplomacy” hoặc “people’s diplomacy”. Theo định nghĩa trong Từ điển Thuật ngữ Quan hệ quốc tế của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, thuật ngữ trên chỉ “những chương trình được chính phủ bảo trợ nhằm thông tin và tác động lên quan điểm cua nhân dân các nước khác. Phương tiện chủ yếu của hoạt động này là thông qua các ấn phẩm, phim ảnh, giao lưu văn hóa, phát thanh, truyén hình [34]. Theo từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học, 2003: “Thông tin là truyền cho nhau dé biết [24, tr.953], đối ngoại là đối với nước ngoài, bên ngoài, đường lối, chính sách, sự giao thiệp của Nhà nước, của một tổ chức (24, tr.
Trong định nghĩa này đã chỉ ra nội hàm của thông tin và đối ngoại, tuy nhiên sự găn kết để cho ra đời một định nghĩa hoàn chỉnh mang tính khoa học, đầy đủ, ý nghĩa và nội hàm của nó thì vẫn chưa chỉ ra được. Tại Chi thị số 10/2000/CT-TTg, ngày 26/04/2000, của Thủ tướng Chính phủ “Về tăng cường quản lý và đây mạnh công tác thông tin đối ngoại”, có đưa ra khái niệm về thông tin đối ngoại dựa trên nhiệm vụ của công tác này: “Thông tin đổi ngoại là một bộ phận rất quan trọng của công tác đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta nhằm làm cho các nước, người nước ngoài (bao gầm cả người nước ngoài đang sinh sống, công tác tại Việt Nam), người Việt Nam đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài hiểu về đất nước, con người Việt Nam, đường lỗi, chủ trương chính sách và thành tựu đổi mới của ta, trên cơ sở đó tranh thủ sự ung hộ của nhân dân thể giới, sự đóng góp 20 cua cong dong người Việt Nam ở nước ngoài cho sự nghiệp xây dung va bao vệ Tổ quốc [33]. ” Nhằm tăng cường chức năng quản lý nhà nước và tập trung thống nhất các hoạt động thông tin đối ngoại, ngày 30/11/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 79/2010/QĐ-TTg, ban hành Quy chế quản lý Nhà nước về thông tin đối ngoại. Quy chế này gồm 3 chương, 11 điều, quy định một số nội dung quan trọng trong đó khái niệm “thông tin đối ngoại được quy định trong điều 2 của quy chế: “7hồng tin doi ngoại được quy định tại Quy chế này là thông tin quảng bá hình ảnh quốc gia, đất nước, con người, lịch sử, văn hóa dan tộc Việt Nam; thông tin về chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước Việt Nam ra thé giới và thông tin về thé giới vào Việt Nam [34]”.
Kết luận số 16-KL/TW, ngày 14/02/2012 của Bộ Chính trị về Chiến lược phát triển thông tin đối ngoại giai đoạn 2011 - 2020 đã chỉ rõ: “Công fác thông tin đối ngoại là một bộ phận rất quan trọng trong công tác tuyên truyền, công tác tu tưởng cua Dang và là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dai[3]”’. Và tại Điều 6, Nghị định 72/2015/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 07/09/2015 về Quản lý hoạt động thông tin đối ngoại đã nêu rõ: “Thông tin doi ngoại bao gom thông tin chính thức về Việt Nam, thông tin quảng bá hình ảnh Việt Nam và thông tin tình hình thé giới vào Việt Nam [107 ”. Trong đó, thông tin chính thức về Việt Nam là thông tin về chủ trương, đường lỗi của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; thông tin về tình hình Việt Nam trên các lĩnh vực; thông tin về lịch sử Việt Nam và các thông tin khác (Điều 7). Thông tin quảng bá hình ảnh Việt Nam là thông tin về đất nước, con người, lich sử văn hóa của dân tộc Việt Nam (Điều 8).
Thông tin tình hình thé giới vào Việt Nam là thông tin về tình hình quôc tê trên các lĩnh vực, vê quan 21 hệ giữa Việt nam với các nước và các thông tin khác nhằm thúc day quan hệ chính trị, xã hội, văn hóa, quốc phòng - an ninh giữa Việt Nam với các nước, phục vụ phát triển kinh tế đất nước, thúc day tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam (Điều 9). Ngoài ra, thông tin đối ngoại còn bao gồm cả việc cung cấp thông tin giải thích, làm rõ, tức là những tư liệu, tài liệu, hồ sơ, lập luận nhằm giải thích, làm rõ các thông tin sai lệch về Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực (Điều 10). Theo tài liệu “Công tác thông tin đối ngoại - Những điều cần biết” do Ban Chỉ đạo Công tác thông tin đối ngoại Trung ương biên tập và phát hành: “Thông tin đối ngoại là một bộ phận quan trọng của công tác đối ngoại và công tác tư tưởng nhằm làm cho thé giới hiểu rõ đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước; quan điểm và lập trường của Việt Nam trong các vấn dé quốc tế và khu vực; giới thiệu những thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới; về đất nước, con người, lịch sử, văn hoá dân tộc; đấu tranh chống lại những luận điệu sai trái, xuyên tạc về Việt Nam, qua do tranh thu sự dong tinh, ung hộ, hợp tác, giúp đỡ của ban bè quốc tế, sự đồng thuận và đóng góp cua đồng bào ta ở nước ngoài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc [1] ”. Từ những tham chiếu trên, có thể đưa ra khái niệm chung nhất: Thông tin đối ngoại là một bộ phận quan trọng của công tác đối ngoại, thông qua những phương thức khác nhau để thông tin quảng bá về đất nước, con người, lịch sử, văn hóa dân tộc Việt Nam; thông tin về chủ trương, đường lỗi của Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước Việt Nam ra thé giới và thông tin về thé giới vào Việt Nam, đông thời phản bác các thông tin sai lệch, quan điểm sai trái, những luận điệu xuyên tac cua các thé lực thù địch, góp phan vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, quảng bá và nâng cao vị thé của đát nước.
22 Đối tượng của công tác thông tin đối ngoại bao gồm 4 nhóm: Một là, nhân dân, chính phủ các nước, bao gồm bộ máy nhà nước của các quốc gia; các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ, các tổ chức quan chúng, giới doanh nhân, báo chí, học giả, bạn bè Việt Nam, các nhà hoạt động xã hội. Hai là lực lượng đông đảo hơn 4,5 triệu người Việt Nam ở trên 100 quốc gia và vùng lãnh thổ. Ba là, người nước ngoài ở Việt Nam gồm Đoàn ngoại giao, các tổ chức quốc tế, các đoàn khách quốc tế; giới doanh nhân, các nhà đầu tư, chuyên gia, công nhân, giới học giả, nghiên cứu, lưu học sinh, giới báo chí, nghệ sỹ, vận động viên và khách du lịch. Bốn là, nhân dân trong nước, các cơ quan, tổ chức hoạt động thông tin đối ngoại đột xuất.
Đối ngoại quốc phòng Ở Việt Nam, “Đối ngoại quốc phòng” nói chung được xác định “Ja bộ phận quan trọng của nén ngoại giao Nhà nước, mục tiêu của đối ngoại quốc phòng là thiết lập và phát triển quan hệ về quốc phòng với tat cả các nước trên cơ sở bình dang, tôn trọng lan nhau nhằm góp phan vào công cuộc xây dựng đất nước, xây dung lực lượng vii trang, củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc, góp phan giữ vững hoà bình và an ninh ở khu vực và trên thé giới [26]”. Có định nghĩa cho rằng “PNOP là những hoạt động tiếp xúc và liên hệ giữa nhà nước và nhà nước, lấy việc bảo vệ an ninh quốc gia làm muc đích chủ yếu và được xây dựng trên cơ sở quân sự, cùng các loại tổ chức hiệp ước quân sự và cơ cấu an ninh quốc gia” [36, tr.334] Quan điểm khác lại cho rằng: “PNOP là hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước trên lĩnh vực quốc phòng do Quân đội nhân dân Việt Nam trực tiếp tiền hành bang phương pháp đàm phán và các hình thức hòa bình khác nhằm góp phan thực hiện thắng lợi đường lỗi, chính sách của Dang, Nhà nước về đối ngoại và quốc phòng trong từng thời kỳ cách mạng”.