CHƯƠNG 1 NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN VE VAN HOA LE HOI TREN BAO DIEN TU VIET NAM 1. Văn hóa Trong suốt chiều dài lịch sử nhân loại, “văn hóa” tồn tại cùng với con người như một thực thể khách quan. Chính vì thế, bản thân nội hàm “văn hóa” chứa đựng rất nhiều lớp nghĩa. “Van hóa” được hiểu là tinh thần như: ngôn ngữ, chữ viết, âm nhạc, tôn giáo, tín ngưỡng,.; “văn hóa” là vật chất như các hình thức: ăn, mặc, ở, giao tiếp, sinh hoạt cộng đồng,.
rồi trải qua thời gian, lại phát triển thành nhiều khái niệm có nội hàm hết sức khác nhau như: văn hóa ứng xử, văn hóa ầm thực, văn hóa trang phục, văn hóa lễ hdi,. Năm 1940, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tao và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [30; tr.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhìn nhận “văn hóa” dưới góc độ là những nhu cầu thiết yếu dé sinh tồn như: ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hăng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Với định nghĩa này, con người được nhắn mạnh là chủ thé của “văn hóa”, vừa là đối tượng sáng tạo ra văn hóa, vừa là yếu tố cân bang, diéu chinh van hóa phù hợp với nhu cầu của con người. Đến năm 1982, UNESCO (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp quốc) đã đưa ra định nghĩa về “văn hóa” như sau: “Văn hóa là tổng thé những 11 nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng.
Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân. Chính văn hóa đã làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán va dan thân một cách có đạo lý. Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra dé xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình mới mẻ, những công trình vượt trội bản thân”. Với cách định nghĩa nay, “văn hóa” được khang định như một nhân tố vô cùng quan trọng nhằm thúc day sự phát triển của loài người: “Chính nhờ văn hóa mà con người tự thé hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết minh là một phương án chưa hoàn thành đặt ra dé xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình mới mẻ, những công trình vượt trội bản thân”; Thiết lập nên một hệ thống những giá trị chuẩn mực và đạo đức trong xã hội: “Chính văn hóa đã làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tinh, có óc phê phán và dan thân một cách có đạo lý”.
Trong hàng trăm quan niệm về “văn hóa”, có lẽ đây được xem là định nghĩa mang tính phố quát, đánh giá văn hóa theo cách nhìn đa chiều, giúp người đọc có thé hình dung được bản chất, biểu hiện và những giá trị của văn hóa đối với cộng đồng, xã hội. Nghị quyết Trung ương 5 (Khóa VIII) - chiến lược văn hóa của Đảng trong thời kỳ đôi mới chỉ rõ: “Văn hóa được đề cập ở đây theo nghĩa rộng, bao gồm các lĩnh vực chủ yếu tạo nên đời sống văn hóa như: Tư tưởng, đạo đức, lối sống: Môi trường văn hóa; Giáo duc va Đào tạo; Khoa học và Công nghệ; Văn học nghệ thuật; Thông tin dai chúng; Giao lưu văn hóa với nước ngoài; Thê chê và thiệt chê văn hoa. 12 Với định nghĩa này, văn hóa được coi là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc day sự phát triển kinh tế - xã hội. Các nhân tô văn hóa phải gắn kết chặt chẽ với đời sống và hoạt động xã hội trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, xã hội, luật pháp.
biến thành nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của phát trién. Thực tế, “văn hóa” còn được nhắc tới với những tư cách khác. Nha văn hóa Hữu Ngọc đã viết như sau: “Văn hóa là một tông thé những hệ thong biểu trưng (ký hiệu) tri phối cách ứng xử và các mối quan hệ trong một cộng đồng khiến cộng đồng ấy có đặc thù riêng. Cần nhấn mạnh thêm, văn hóa bao gồm hệ thong những gia tri dé đánh giá một sự việc, một hiện tượng (dep hay xấu, đạo đức hay vô luân, phải hay trái.) theo cộng đồng ấy.
Nói đơn giản, văn hóa nhấn mạnh về ứng xử với con người,. văn hóa thể hiện những khuynh hướng thầm kín nhất, những nhu cầu tâm tình và những quan niệm vũ trụ luận của dân tộc ấy” [29]. Khác với những quan điểm trước đó, tác giả đã lựa chọn cách tiếp cận, góc độ tiếp cận khác về “văn hóa”, con người ở đây không phải là đối tượng sáng tạo ra các nhu cầu thiết yếu phục vụ đời sống cộng đồng, mà con người là chủ thé tạo nên văn hóa, giá trị của văn hóa thông qua các hành vi được con người thống nhất trở thành hệ thống quy chuân trong xã hội. Tác giả Trần Ngọc Thêm viết: “Van hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [38; tr.
Tác giả đã đưa ra một định nghĩa có ý nghĩa tong quát, giúp người đọc có thé dễ dàng nhận thấy mối quan hệ giữa “văn hóa” đối với con người và môi trường tự nhiên. Hiểu một cách don giản, “văn hóa” được tạo ra trong quá trình con người tương tác tự nhiên, làm xuất hiện những giá trị vật chất và tinh thần. Những giá trị đó chính là “văn hóa”. Theo Từ điên Tiêng Việt, “văn hóa” là: 13 -“Tri thức, kiến thức khoa học”; - “Trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn minh” [32: tr.
Như vậy, với cách phân tích nay, “văn hóa” được hiểu là một biểu hiện của văn minh. Ở đây ta hiểu theo nghĩa rộng, văn minh và văn hóa có thể dùng thay thế cho nhau dé chỉ những kết quả khách quan của hoạt động con người (sản xuất, thiết bị, máy móc, chuẩn mực đạo đức và pháp luật,.); cũng như sức sáng tạo và năng lực của con người được thé hiện trong hoạt động (tri thức, kỹ năng, thói quen, trình độ, sự phát triển đạo đức và thẩm mỹ, phương thức và hình thức giao tiếp giữa con người với nhau). Xuất phát từ lý luận, thực tiễn và các phân tích nêu trên, có thé đưa ra một khái niệm về “văn hóa” như sau: “Văn hóa là biểu hiện của văn minh bao gồm những phương thức ứng xử, giao lưu, truyén cảm giữa những người trong cộng dong lớn hay nhỏ với môi trường tự nhiên, xã hội,. để phân biệt cộng đồng nay với cộng đồng khác ”.
“Văn hóa” được định nghĩa theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp, được phản ánh theo chiều rộng hay chiều sâu, ở góc độ giá trị vật chất hay tinh thần, miêu tả hay đặc trưng, thì đều nêu được “hạt nhân” hợp lý của mình, khác biệt giữa các định nghĩa đó chủ yếu là do ý đồ của tác giả đang muốn nhắn mạnh vào khía cạnh nào mà thôi. Lễ hội Trong lich sử hàng ngan năm dựng nước va giữ nước hào hùng của dân tộc Việt Nam, tổ tiên ta đã kiến tạo nên một nền văn hóa vững bền, bản lĩnh và nhân văn. Trong nền văn hóa truyền thống ấy, lễ hội là một loại hình đi sản văn hóa phi vật thể phong phú nhất, là sự kết tinh quan trọng giữa tinh thần và đời sống của con người Việt Nam. - Lễ 14 Lễ giữ một vi tri quan trọng trong suốt chiều đài lịch sử dân tộc, là biểu hiện của thuần phong mỹ tục, những tập tục truyền thống, tập quán sinh hoạt của cộng đồng được hình thành và củng cé theo thời gian.
Tác giả Duong Van Sáu viết về “LỄ” như sau: “Lễ chính là những khuôn mau của người xưa đã quy định; các phép tắc buộc phải tôn trọng, tuân theo trong các mối quan hệ xã hội” [35; tr. Như vậy, ở định nghĩa này, tác giả đã nhìn nhận “LỄ” ở khía cạnh các khuôn mẫu, các chuẩn mực về hành vi đã được chế độ quy định, xã hội thừa nhận và bắt buộc phải thực hiện theo. Từ điển Bách khoa Việt Nam giải thích: “Lễ là hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tôn kính của con người đối với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện” [45]. Qua các hình thức nghi lễ, con người thé hiện được sự tôn kính, biết ơn thần linh, đồng thời mong mỏi các đắng bề trên ban cho những điều tốt lành hoặc những điều bản thân mình mong muốn nhưng chưa thực hiện được để có một cuộc sống tốt đẹp hơn.
Theo Từ điển Tiếng Việt - Lễ là “Những nghi thức tiễn hành nhằm đánh dấu hoặc kỷ niệm một sự việc, sự kiện có ý nghĩa nào đó” [32;tr. Như vậy, việc giải thích “LỄ” trong trường hợp này cũng dé chỉ các hoạt động tiến hành nghi lễ kỷ niệm hoặc thờ cúng các đắng siêu nhiên được con người tôn thờ trong phong tục tập quán lâu đời. Do đó, có thể đưa ra một định nghĩa về “Lễ” như sau: “LỄ là hệ thống các hành vi ứng xử thể hiện lòng biết ơn, kính trong của con người với than linh, phan ánh những ước mơ chính đáng trước cuộc sống, được thé hiện dưới dạng các nghỉ thức ”.