Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM CHO HỌC SINH TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VĨNH BẢO 1.Cơ sở tâm lý học, giáo dục học và giáo dục trải nghiệm. Một số khái niệm về tâm sinh lý học. “Tâm lý học là khoa học nghiên cứu hoạt động của tâm lý, sự hình thành vận hành và phát triển của hoạt động ấy. Tâm lý học tìm tòi, phát hiện và nhu cầu”[1] “Bản chất của hiện tượng tâm lý: Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định rằng: tâm lý người là sự phản ánh hiện thực khách quan vào não người thông qua chủ thể, tâm lý người mang bản chất xã hội và có tính lịch sử”[2,tr.22] Sự phản ánh hiện thực khách quan vào não người thông qua chủ thể: Tâm lý người không phải do thượng đế, do trời sinh ra, cũng không phải do não tiết ra mà tâm lý người là sự phản ánh hiện thực khách quan vào não người thông qua “lăng kính chủ quan”.
Thế giới khách quan tồn tại bằng những thuộc tính không gian, thời gian và nó luôn luôn vận động. Phản ánh là thuộc tính chung của mọi sự vật hiện tượng đang vận động, phản ánh là sự tác động qua lại giữa các loại vật chất, kết quả là để lại dấu vết (hình ảnh) tác động ở vả hai hệ thống tác động và chịu sự tác động. Phản ánh là sản phẩm của bộ não con người, nó diễn ra từ đơn giản đến phức tạp và có sự chuyển hóa lẫn nhau: từ phản ánh cơ, lý, hóa đến phản ánh sinh vật và phản ánh xã hội trong đó có phản ánh tâm lý. Phản ánh tâm lý là một loại phản ánh đặc biệt.
Đó là sự tác động của hiện tượng khách quan vào hệ thần kinh, vào não bộ của con người – tổ chức cao nhất của vật chất. Chỉ có hệ thần kinh và não người mới có khả năng nhận sự tác động của hiện thực khách quan, tạo ra trên não hình ảnh tinh thần (tâm lý) chứa đựng trong vết vật chất, đó là quá trình sinh lý, sinh hóa ở trong hệ thần kinh và não bộ.Mác đã nói: “ Tinh thần, tư tưởng, tâm lý chẳng qua là vật chất được chuyển vào đầu óc, biến đổi trong đó mà có”. Phản ánh tâm lý tạo ra “hình ảnh tâm lý” (bản sao chép) về thế giới. Hình ảnh tâm lý là quá trình phản ánh thế giới khách quan vào não bộ.
Hình ảnh tâm lý mang tính sôi động, sáng tạo, mang tính chủ thể, chịu ảnh hưởng của chủ thể và phụ thuộc vào chủ thể. Nghĩa là 7 con người phản ánh thế giới bằng hình ảnh tâm lý thông qua “lăng kính chủ quan” của mình. Tóm lại, tâm lý là tổng hòa các hình ảnh chủ quan (hình ảnh tâm lý) về tồn tại khách quan.23] Tâm lí người phản ánh hiện thực khách quan, là chức năng của não, là kinh nghiệm xã hội, lịch sử biến thành cách riêng của mỗi người. Tâm lí con người khác xa với tâm lí của các loài động vật cấp cao ở chỗ: tâm lí người có bản chất xã hội và mang tính lịch sử.
Tâm lí người có nguồn gốc là thế giới khách quan, trong đó nguồn gốc xã hội là cái quyết định. Ngay cả phần tự nhiên trong thế giới cũng được xã hội hóa. Phần xã hội của thế giới quyết định tâm lí người thể hiện ở các mối quan hệ kinh tế xã hội, các mối quan hệ đạo đức, pháp quyền,… các mối quan hệ giữa con người với con người từ quan hệ gia đình, làng xóm, quê hương,… cho đến các quan hệ nhóm, qua hệ cộng đồng,… Các mối quan hệ trên quyết định bản chất tâm lí người, là sự tổng hòa các mối quan hệ xã hội. Trên thực tế, nếu có người thoát ly ra khỏi các mối quan hệ xã hội, quan hệ giữa con người với nhau thì tâm lí sẽ mất đi bản tính người.
Tâm lí người là sản phẩm của hoạt động giao tiếp của con người trong các mối quan hệ xã hội. Con người vừa là một thực thể tự nhiên, vừa là một thực thể xã hội. Phần tự nhiên của con người (đặc điểm cơ thể, giác quan, thần kinh, não bộ) được xã hội hóa ở mức cao nhất. Là một thực thể xã hội, con người là chủ thể của nhận thức, chủ thể của hoạt động giao tiếp, với tư cách là một chủ thể tích cực, chủ động, sang tạo.
Tâm lí của con người là sản phẩm của con người với tư cách là chủ thể xã hội do đó tâm lí của con người mang đầy đủ dấu ấn xã hội và lịch sử xã hội của con người. Tâm lí của mỗi các nhân là kết quả của quá trình lĩnh hội, tiếp thu vốn kinh nghiệm xã hội, nền văn hóa xã hội thông qua hoạt động giao tiếp trong đó giáo dục giữ vai trò chủ đạo. Tâm lí của mỗi con người hình thành phát triển và biến đổi cùng với sự phát triển của lịch sử cá nhân, lịch sử dân tộc và cộng đồng, chịu sự chế ước bởi lịch sử của cá nhân và của cộng đồng. Tóm lại, tâm lí người có nguồn gốc xã hội, vì thế phải nghiên cứu môi trường xã hội, nên văn hóa xã hội, các quan hệ xã hội trong đó con người sống và hoạt động.
Cần phải tổ chức có hiệu quả hoạt động dạy và học trong giáo dục cũng như các hoạt động chủ đạo ở từng giai đoạn, lứa tuổi khác nhau để hình thành, phát triển tâm lí con người.24] 8 Để tồn tại và phát triển, thế hệ trước truyền đạt các kinh nghiệm lịch sử và xã hội cho thế hệ sau. Trên cơ sở đó, thế hệ trẻ tiếp nối cha anh sáng tạo ra các kinh nghiệm mới. Thế hệ tiếp nối thế hệ đã tạo ra nên văn minh, văn hóa. Từ đó ta hiểu tâm lí là kinh nghiệm xã hội – lịch sử chuyển hóa thành kinh nghiệm của bản thân.
Đặc điểm tâm lý sinh lý của HS Tiểu học: Thể lực của trẻ ở lứa tuổi này phát triển tương đối êm ả và đồng đều. Trọng lượng não trẻ gần bằng trọng lượng não người lớn. Các nhà khoa học đã xác định trẻ 9 – 10 tuổi có trọng lượng não là 1300g, ở người trưởng thành là 1360g. Như vậy, trọng lượng não trẻ 9 – 10 tuổi đạt gần 90%.
Chức năng của não dần dần hoàn thiện, chức năng phân tích – tổng hợp của não đang được phát triển, các mối quan hệ giữa hai quá trình hưng phấn và ức chế được thay đổi dần nhưng khả năng ức chế của hệ thần kinh vẫn còn yếu nên học sinh thường dễ bị kích thích. Do đó, trong dạy học, giáo viên cần giúp học sinh hình thành tính tự chủ, lòng kiên nhẫn, khả năng kìm hãm trước kích thích của hoàn cảnh xung quanh. Hệ tuần hoàn chưa hoàn chỉnh, các em nhanh mệt và dễ xúc động. Vì vậy, giáo viên cần tránh gây cho các em những xúc động mạnh, đồng thời cần tạo ra không khí học tập sôi nổi, thoải mái cho học sinh.
Trí nhớ chủ định dần dần được phát triển và năng lực ghi nhớ cũng tăng dần. Tuy nhiên, các em vẫn có khuynh hướng học theo kiểu học vẹt. Vì vậy, học sinh khó khăn trong việc hiểu và vận dụng những chuẩn mực đạo đức đã học vào tình huống thực tiễn. Để khắc phục tình trạng này, giáo viên cần xuất phát từ thực tiễn để đưa các giá trị đạo đức, rồi từ đó lại đưa các giá trị đạo đức đó vào tình huống thực tiễn.
Muốn vậy, chính các em phải là người tìm ra các giá trị đạo đức đó nên giáo viên cần tạo điều kiện cho học sinh được tham gia và tìm hiểu văn hóa truyền thống ở địa phương 1. Giáo dục học Giáo dục là một môn khoa học, là một hiện tượng xã hội và là một nhu cầu tất yếu của xã hội: Từ khi xuất hiện trên trái đất, để có thể tồn tại và phát triển, loài người đã không ngừng nhận thức thế giới xung quanh cùng như thế giới bên trong con người mình. Nhờ đó loài người đã dần dần phát triển và nắm vững càng nhiều quy luật và tính quy luật của các sự vật, hiện tượng khách quan; tích lũy, khái quát 9 hóa, hệ thống hóa ngày càng nhiều kinh nghiệm phong phú, đã và đang trong lĩnh vực hoạt động có liên quan đến tự nhiên, xã hội và tư duy. Song không chỉ nhận thức thế giới mà loài người còn tự giác tích cực vận dụng, sang tạo những kinh nghiệm này để cải tạo thế giới xung quanh, đồng thời cải tạo chính bản thân mình, nhằm phục vụ mục đích sống còn của mình.
Để xã hội có sự tồn tại và phát triển lên trình độ cao hơn, loài người phải phấn đấu không mệt mỏi qua các thế hệ: Thế hệ nọ nối tiếp thế hệ kia trong suốt quá trình phát triển lịch sử, xã hội.7] Vì vậy, những thế hệ trước phải truyền lại những kinh nghiệm đã tích lũy được, khái quát hóa và hệ thống hóa được các hoạt động thực tiễn cho những thế hệ trẻ để họ có thể kế thừa, phát triển và tiếp tục đưa xã hội không ngừng vận động đi lên, mang lại cho loài người ngày càng nhiều phúc lợi, làm cho chất lượng cuộc sống ngày một nâng cao.8] Sự truyền thụ và tiếp thu hệ thống kinh nghiệm đó, về thực chất là sự giáo dục của những thế hệ đi trước đối với những thế hệ đi sau. Nói khác đi, giáo dục là một nhu cầu tất yếu của xã hội và sự xuất hiện hiện trong giáo dục trong xã hội là một tất yếu lịch sử. Ở đây có một số điểm đáng chú ý: - Một là, xã hội muốn tồn tại và không ngừng phát triển thì phải thực hiện nhiều chức năng: ngoài chức năng chính trị - xã hội, chức năng kinh tế- sản xuất, chức năng tư tưởng – văn hóa,…và còn một số chức năng quan trọng không thể thiếu được đó là chức năng giáo dục đào tạo những thế hệ kế thừa sự nghiệp phát triển xã hội. - Hai là, hiện tượng giáo dục chỉ có trong xã hội loài người.
Đó là những hiện tượng khách quan được tiến hành một cách có ý thức của con người. Chúng ta cũng thấy một số động vật như mèo cũng có những động tác dạy con bắt mồi, song đó chỉ là những động tác bản năng của loài mèo mà thôi, không hề có ý thức như con loài người. -Ba là, hiện tượng giáo dục xuất hiện từ khi xuất hiện loài người. Song tất nhiên thời kì nguyên thủy hiện tượng này diễn ra một cách tự phát trong quá trình hoạt động thực tiễn.