CHƯƠNG I1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỀN CỦA VIỆC REN KY NANG GIAO TIEP CHO TRE KHUYET TAT TRi TUE THONG QUA HOAT DONG TRAI NGHIEM 1. Khái quát về giao tiếp 1.1 Một số khái niệm liên quan * Khái niệm về giao tiếp: Trong cuộc sống hàng ngày, giao tiếp được hiểu là quá trình trao đổi thông tin, nhu cầu, tình cảm giữa hai hay nhiều đối tượng đưới các hình thức khác nhau của ngôn ngữ. Quá trình này mang tính hai chiều: gửi và nhận thông tin được luân chuyển giữa các đối tượng giao tiếp ngudi gui va nguoi tiép nhận. Giao tiếp là nhu cầu cơ bản của con người, là cách thức con người liên lạc với môi trường xung quanh.
Nếu không có giao tiếp, con người sẽ bị cô lập, mat khả năng kiểm soát, mắt khả năng tham gia vào môi trường xung quanh. Quá trình giao tiếp bắt đầu ngay từ khi trẻ mới chào đời. Khả năng giao tiếp là kha nang bam sinh. Dia tré bat dau tương tác với mẹ và những người chăm sóc khác ngay từ khi trẻ mới sinh ra.
Mẫu hành vi giao tiếp sớm nhất của trẻ là giao tiếp tiền chủ định. Chúng được tạo ra một cách không chủ định và trẻ không nhận thức được những ảnh hưởng của chúng. Một số cách thức tré giao tiép ở giai đoạn sớm nhất là: biểu lộ nét mặt, phát ra âm thanh, thay đổi vận động cơ, cử động cánh tay, chân và bàn tay. Vào khoảng 6 tháng tuổi, hầu hết các cử động, những biểu lộ, các âm thanh trở nên có chủ định nhằm đạt được điều gì đó.
Khi trẻ lớn hơn, chúng bắt đầu tạo ra cách sử dụng ngôn ngữ đề giao tiếp. * Khái niệm kỹ năng giao tiếp: Kỹ năng giao tiếp được hiểu là khả năng ứng xử và diễn đạt ý kiến, thông tin một cách rõ ràng, mạch lạc, dễ hiểu của một người. Khi giao tiếp 10 cần kết hợp nhiều phương tiện như ngôn ngữ, cử chỉ, điệu bộ, giọng điệu và cách biểu cảm để tương tác và truyền đạt thông điệp mong muốn. - Rèn kỹ năng giao tiếp: được hiểu là rèn các kỹ năng, cách thức vận dụng những kinh nghiệm, kiến thức, khả năng xử lý thông tin, sử đụng ngôn ngữ,.
của bản thân đề đạt được hiệu quả hội thoại. Việc rèn kỹ năng giao tiếp cần tập trung vào các vấn đề như sau: + Thứ nhất, rèn khả năng tập trung: Khi giao tiếp cần tập trung lắng nghe để hiểu về nội dung truyền đạt, về quan điểm cá nhân cũng như tâm tư tình cảm của đối phương, từ đó mới có thể đưa ra những ý kiến phản hồi chính xác. Tập trung lắng nghe cũng thể hiện thái độ tôn trong trong giao tiép. + Thự hai, rèn cách sử dụng ngôn ngữ: Bằng các kỹ năng và kinh nghiệm của bản thân, trong giao tiếp cần lựa chọn những từ ngữ dễ hiểu, phủ hợp với đối tượng giao tiếp, tránh sử dụng những từ ngữ lạ, thô tục, dễ gây hiểu nhằm.
+ Thứ ba, rèn phong thái khi giao tiếp: Phong thái tự tin, giọng điệu phù hợp, biết ngắt nghỉ hợp lý, kết hợp với biểu cảm phù hợp giúp cuộc giao tiếp trở nên rõ ràng, dễ hiệu, tạo niềm tin với đối phương. + Thứ tư, kết hợp ngôn ngữ cơ thể: Việc kết hợp linh hoạt ngôn ngữ cơ thể như cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt, biểu cảm là những kỹ năng giúp giao tiếp trở lên hấp dẫn, cuốn hút, sinh động không còn khô khan, nhàm chán. + Thứ năm, kiểm soát cảm xúc: Trong giao tiếp không phải lúc nào cũng suôn sẻ, nhẹ nhàng mà có thể sẽ nảy sinh nhiều tình huống như tranh cãi, bất đồng quan điểm. Khi đó một người giao tiếp tốt sẽ cần kiểm soát cảm xúc cá nhân của mình.
Việc điều khiển cảm xúc đúng mực sẽ tránh được những hiểu nhằm không đáng có, sự hiểu nhằm và hạn chế được những tình huống gây hậu quả xấu. Đặc điểm và các thành phần của kĩ năng giao tiếp * Đặc điểm của kỹ năng giao tiếp: 11 - Kỹ năng giao tiếp không phải yếu tố bẩm sinh: Cũng giống như những kỹ năng khác, giao tiếp không phải kỹ năng bẩm sinh. Kỹ năng này được hình thành và phát triển thông qua quá trình học tập và rèn luyện mỗi ngày. - Kỹ năng giao tiếp mang tỉnh cá nhân: Bản thân mỗi người có những nhận thức, kinh nghiệm giao tiếp khác nhau.
Vì vậy việc đón nhận và thê hiện kỹ năng giao tiếp cũng ở nhiều mức độ khác nhau. Kỹ năng giao tiếp phản anh nhận thức của bản thân và mang tính cá nhân hóa. - Kỹ năng giao tiếp bao gồm nhiêu kỹ năng khác: Đê đạt được hiệu quả trong trong tiếp cần kết hợp nhiều kỹ năng như thuyết trình, giải quyết vấn dé, lắng nghe, phản biện,. Vận dụng linh hoạt các kỹ năng này là một phần quan trọng của kỹ năng giao tiếp.
- Nguyên tắc cân bằng trong giao tiếp: Khi giao tiếp phải đảm bảo các chủ thé trong cuộc hội thoại cảm thấy dé chịu, thoải mái, được tôn trọng, chia sẻ. Có như vậy mới đạt được mục đích giao tiếp mà cả hai bên mong muốn. * Các thành phân của kỹ năng giao tiếp Hình thành kỹ năng giao tiếp tốt cần sự kết hợp của nhiều kỹ năng thành phần khác: - Kỹ năng lắng nghe: Lắng nghe giúp chủ thể tiếp nhận được thông tin đầy đủ, chính xác. Người biết tập trung lắng nghe sẽ tạo cho người nói cảm giác được quan tâm, chú ý tới vấn đề đang được đề cập, thể hiện sự tôn trọng VỚI người nói và cuộc giao tiếp.
Ngoài ra còn giúp người nghe chọn lọc thông tin phù hợp. - Kỹ năng quan sát: Trong giao tiếp, ngoài việc lắng nghe lời nói còn cần đến "mắt quan sát". Quan sát một cach tinh tế sự kết hợp ngôn ngữ cơ thé, điệu bộ, cử chỉ của người nói và người nghe đề nắm bắt tình hình, có những điều chỉnh kịp thời. Khi quan sát tránh nhìn nhằm chằm vào đối phương.
- Kỹ năng xử lý tình huống: Trong thực tế khi giao tiếp luôn nảy sinh những tình huống bất ngờ, đòi hỏi phải nhanh nhạy, ứng biến linh hoạt. Kỹ 12 năng này có được từ những bài học giao tiếp hàng ngày, trình độ hiểu biết và kính nghiệm của bản thân. - Kỹ năng biểu đạt: Biêu đạt trong giao tiếp bao gồm biểu đạt về ngôn ngữ lời nói và ngôn ngữ hình thể. Để giao tiếp có hiệu quả đòi hỏi sự linh hoạt trong lựa chọn ngôn ngữ phù hợp với từng đối tượng; kết hợp sử dụng cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt và giọng nói.
Sự linh hoạt khi thể hiện ngôn ngữ giúp thích nghỉ và giải quyết được các tình huống khó khăn và các vấn đề nảy sinh khi giao tiếp. Các yếu to ảnh hưởng đến kỹ năng giao tiếp Hiệu quả của kỹ năng giao tiếp không phải tự nhiên mà có, mà phụ thuộc vào sự tương tác phức tạp của nhiều yếu tố khác nhau. Các yếu tố này có thể được phân loại thành hai nhóm chính: yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan. Trong phạm vi bài này, chúng tôi sẽ tập trung vào nhóm yếu tố chủ quan, bao gồm những đặc điểm liên quan trực tiếp đến người tham gia giao tiếp như nhận thức, kiến thức và kỹ năng cá nhân.
Thứ nhất, kiên thức và thông tin: Dé giao tiếp hiệu quả, người nói cần có sự hiểu biết sâu sắc về chủ đề đang được thảo luận. Kiến thức nền táng vững chắc không chỉ giúp người nói truyền đạt thông tin một cách chính xác và rõ ràng, mà còn tăng cường sự tự tin của họ trong quá trình giao tiếp. Khi người nói tự tin về kiến thức của mình, họ có thể trả lời câu hỏi, giải đáp thắc mắc và tham gia vào các cuộc thảo luận sâu hơn, tạo nên cuộc đối thoại phong phú và đầy ý nghĩa. Thứ hai, trình độ ngôn ngữ: Khả năng sử dụng ngôn ngữ linh hoạt và chính xác đóng vai trò then chốt trong việc truyền đạt ý tưởng và xây dựng mối quan hệ trong giao tiếp.
Người có trình độ ngôn ngữ tốt có thể lựa chọn từ vựng phù hợp, sử dụng ngữ pháp chính xác và điều chỉnh cách nói phù hợp với từng đối tượng và hoàn cảnh giao tiếp. Điều này không chỉ giúp cuộc hội 13 thoại trở nên dễ hiểu vả suôn sẻ hơn, mà còn tạo ra không khí thoải mái, cởi mở, khuyến khích sự tương tác tích cực giữa các bên tham gia. Thứ ba, phong thái giao tiếp: Một phong thái tự tin, tự nhiên có thé tao ấn tượng mạnh mẽ và thu hút sự chú ý của người nghe. Người giao tiếp với phong thái tự tin thường có xu hướng nói và hành động một cách mạnh mẽ, thuyết phục hơn.
Điều này không chỉ giúp họ truyền đạt thông điệp hiệu quả hơn mà còn tạo ra cảm giác tin tưởng và thoải mái cho người đối điện. Một phong thái giao tiếp tốt có thể bù đắp cho những thiếu sót nhỏ trong kiến thức hay kỹ năng ngôn ngữ, giúp duy trì sự tương tác tích cực trong suốt quá trình giao tiếp. Yếu tô khách quan là những tác động của môi trường giao tiếp đến đối tuong giao tiép. Bat ky chu thé giao tiép nảo cũng được đặt trong một môi trường giao tiếp cụ thể.
Điều đó được quyết định bởi số lượng người tham gia, mức độ thường xuyên giao tiếp và mối quan hệ giữa những người tham gia giao tiép với nhau. Khi được đặt trong một môi trường giao tiếp tích cực với ngôn từ giao tiếp có văn hóa, mang tính giáo dục; được giao tiếp nhiều, thường xuyên; giữa các thành viên có mối quan hệ gắn bó yêu thương.chắc chắn kỹ năng giao tiếp sẽ ngày càng được cải thiện, phát triên tốt. Khái quát về trẻ khuyết tật trí tuệ 1. Khai niém và phân loại trẻ khuyết tật trí tuệ * Khái niệm Theo Bảng phân loại DSM — V và AAMR đưa ra khái niệm với những hướng dẫn cụ thể cho việc xác định các dấu hiệu đặc trưng của tật khuyết tật trí tuệ và trên thực tế chúng có thể được dùng làm cơ sở để chuẩn đoán và phân loại trẻ khuyết tật trí tuệ như sau: - Chức năng trí tuệ hạn chế - Khả năng thích ứng hạn chế 14 - Những hạn chế về trí tuệ và và khả năng thích ứng diễn ra suốt quá trình phát triển của trẻ b) Phân loại trẻ khuyết tật trí tuệ Dé xác định mức độ KTTT của trẻ, cần phải dựa vào các dấu hiệu về khả năng tự phục vụ, tâm vận động và khả năng thích nghi của trẻ.