CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIÁO DỤC VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG “UỐNG NƯỚC NHỚ NGUỒN” CHO HỌC SINH LỚP 4 THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM 1. Khái niệm văn hóa Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, trong từng lĩnh vực nghiên cứu, khái niệm văn hóa cũng được định nghĩa theo các phương pháp và quan điểm khác nhau. Theo Từ điển triết học, khái niệm "văn hóa" được định nghĩa là "tất cả các giá trị về vật chất và tinh thần được tạo ra bởi con người trong quá trình phát triển lịch sử của mình." Theo từ điển Tiếng Việt, khái niệm "văn hóa" được mô tả là "tổng thể của các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình phát triển lịch sử" [31, tr. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra một định nghĩa toàn diện về văn hóa như sau: "Văn hóa là tập hợp các ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, cùng với các công cụ và phương thức sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng, mà con người sáng tạo và phát minh ra nhằm đáp ứng nhu cầu sinh sống và sự sinh tồn của cuộc sống"[34, tr.
UNESCO đã bổ sung định nghĩa về văn hóa như sau: "Văn hóa có thể được xem như một tổ hợp của các đặc điểm tinh thần, vật chất, tri thức và cảm xúc của một xã hội hoặc một nhóm người trong xã hội. Nó không chỉ bao gồm văn học và nghệ thuật, mà còn bao gồm cách sống, phong cách sống, hệ thống giá trị, truyền thống và tín ngưỡng. Trong cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Trần Ngọc Thêm cho rằng: "Văn hóa là một hệ thống tổ chức bao gồm các giá trị vật chất và tinh thần 11 do con người tạo ra và tích lũy thông qua hoạt động thực tế, trong quá trình tương tác giữa con người và môi trường tự nhiên và xã hội của họ. Cựu thủ tướng Phạm Văn Đồng cho rằng văn hóa là một lĩnh vực rộng lớn và đa dạng, bao gồm mọi thứ liên quan đến con người trong quá trình tồn tại và phát triển, cùng với việc làm nên lịch sử.
Văn hóa được coi “là cốt lõi của sức sống dân tộc, bao gồm giá trị tư tưởng, tình cảm, đạo đức, trí tuệ, tài năng, sự nhạy cảm và khả năng tiếp thu cái mới”. Nó còn bao gồm “ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu để tự bảo vệ và phát triển” [45, tr. Văn hóa là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong ý thức cá nhân hoặc dân tộc với thế giới thực tại. Điều quan trọng là “văn hóa biểu hiện qua lựa chọn riêng của cá nhân hoặc dân tộc, khác biệt so với những người khác” [27, tr.
Các tác giả đã xem xét khái niệm văn hóa từ nhiều góc độ khác nhau và đồng thuận rằng văn hóa là một khái niệm rộng. Nó đại diện cho giá trị tinh thần và vật chất mà con người sáng tạo ra và tổng hợp các phương thức sinh hoạt của loài người. Tổng quan lại, văn hóa là tập hợp những giá trị con người tự tạo ra, liên quan đến mọi mặt vật chất và tinh thần. Nó bao gồm ngôn ngữ, tôn giáo, tư tưởng, di sản lịch sử, danh lam thắng cảnh và mang lại giá trị tinh thần để phục vụ cộng đồng.
Sau khi nghiên cứu các khái niệm liên quan, chúng tôi nhận thấy rằng văn hóa là một khái niệm rộng lớn, bao gồm nhiều nội dung ý nghĩa và giá trị của con người và dân tộc. Trong văn hóa, đặc điểm đặc trưng quan trọng nhất chính là tính dân tộc, đó là khả năng phản ánh và thể hiện bản sắc của một dân tộc cụ thể. Một khái niệm tương ứng với tính chất này là văn hóa truyền thống. Văn hóa truyền thống Văn hóa truyền thống là sự lưu truyền tự nguyện của những giá trị vật chất và tinh thần qua các chuỗi sự kiện trong cuộc sống hàng ngày, từ thế hệ này sang thế hệ khác, trong cộng đồng xã hội.
12 Truyền thống “là những thói quen hình thành từ lâu trong cách sống và tư duy, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khá” [31, tr. Đề cập đến văn hóa truyền thống cũng có khá nhiều tác giả nghiên cứu và đưa ra định nghĩa về văn hóa truyền thống: Theo Hoàng Xuân Lương, “khi nói về văn hóa truyền thống, chúng ta đề cập đến những giá trị văn hóa truyền thống. Điều này bao gồm cả mặt tích cực và mặt tiêu cực của văn hóa truyền thống” [23]. Theo Đặng Thị Phương Uyên, “văn hóa truyền thống là văn hóa đã hình thành từ thời quá khứ xa xưa và được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Văn hóa truyền thống được đối chiếu với văn hóa hiện đại, mà lại được hình thành trong thời hiện đại” [43, tr. Văn hóa truyền thống đóng vai trò như một tiêu chuẩn đánh giá hành vi đạo đức và là một hệ thống giao tiếp giữa các thành phần xã hội, giai cấp, quốc gia và dân tộc với con người. Mỗi quốc gia có các yếu tố văn hóa mang giá trị, hướng tới việc xây dựng một cuộc sống văn minh và tiến bộ cho dân tộc, đôi khi còn là các nguyên tắc đạo đức của dân tộc trong mọi thời đại, dựa trên tiêu chuẩn đạo đức cá nhân. Như vậy, “Văn hóa truyền thống là tập hợp sáng tạo của con người trong quá trình hoạt động xã hội, biểu hiện qua hệ ứng xử văn hóa của cộng đồng.
Việt Nam tự hào về nền văn hóa giàu truyền thống, đóng góp bởi trí tuệ và tâm hồn của nhiều thế hệ. Lịch sử dân tộc đã chứng minh sự lưu truyền của giá trị này, bao gồm lòng yêu nước, ý chí không khuất phục, sức mạnh và tinh thần cao quý, lòng tốt và trung thành, và tầm nhìn hướng tới cái đúng, cái thiện và cái đẹp. Văn hóa truyền thống uống nước nhớ nguồn Văn hóa truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam theo quan điểm của Hoàng Thúc Lâm: “Uống nước nhớ nguồn là sự biết ơn, nhớ ghi công lao mà người khác đã giúp đỡ mình (biết ơn tổ tiên, ông bà, cha mẹ, thầy cô, quê hương, Tổ quốc,.) Đạo lí uống nước nhớ nguồn là phẩm chất 13 cơ bản trong đạo làm người” [20; tr 93]. Theo quan điểm của Hoàng Thúc Lâm, văn hóa truyền thống "Uống nước nhớ nguồn" của dân tộc Việt Nam có ý nghĩa biết ơn và ghi nhớ công lao mà những người khác đã giúp đỡ chúng ta (bao gồm tổ tiên, ông bà, cha mẹ, thầy cô, quê hương, Tổ quốc,.
Đạo lý uống nước nhớ nguồn là một phẩm chất cơ bản trong việc hình thành nhân cách của con người. Với nội dung này, những thành ngữ khác trong kho tàng văn học cổ, như "Ăn quả nhớ người trồng cây" và "Cây có cội mới nảy cành, xanh lá/Nước có nguồn mới bể rộng, sông sâu". Đạo lí "Uống nước nhớ nguồn" là một phần của đạo hiếu, nhưng nó còn rộng hơn, thể hiện lòng biết ơn đối với quê hương và đất nước, cùng với những thành quả mà các thế hệ trước đã bảo vệ và xây dựng. Đây là một phẩm chất đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam, tạo nên sự tình nghĩa, thủy chung và tư tưởng "có trước, có sau" của người Việt.
Đặc biệt, trước những đóng góp hy sinh của các thế hệ tiền bối trong việc bảo vệ chủ quyền và đem lại hòa bình cho đất nước, đạo lí "Uống nước nhớ nguồn" ngày càng cần được truyền đạt và giáo dục cho thế hệ trẻ [20; tr 93]. Như vậy, ý nghĩa của văn hóa truyền thống "Uống nước nhớ nguồn". Nó thể hiện sự biết ơn và nhớ ghi công của những người đã giúp đỡ chúng ta, bao gồm tổ tiên, ông bà, cha mẹ, thầy cô, quê hương và Tổ quốc. Văn hóa truyền thống "Uống nước nhớ nguồn" là một phẩm chất cơ bản trong việc rèn luyện con người.
Với nội dung khuyên con người cần có ý thức biết ơn người đã giúp đỡ mình, ngoài thành ngữ “Uống nước nhớ nguồn” trong VHTT Việt Nam còn có các thành ngữ khác có hàm ý tương tự như: “Ăn quả nhớ người trồng cây”, “Con người có tổ có tông/ Như cây có cội như sông có nguồn”, “Công cha như núi Thái Sơn/ Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra/ Một lòng thờ mẹ kính cha/ Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”, “Cây có cội mới nảy cành, xanh lá/ Nước có nguồn mới bể rộng, sông sâu”,. 14 Qua nghiên cứu các khái niệm, chúng tôi nhận thấy "Văn hóa truyền thống uống nước nhớ nguồn" là một phẩm chất đạo đức cơ bản của con người Việt Nam trong suốt hàng ngàn năm lịch sử. Điều này giúp hình thành những đặc trưng của người Việt Nam, như sự thủy chung, tình yêu, ý nghĩa và sự lựa chọn riêng biệt trong văn hóa của mỗi cá nhân hoặc tộc người. Văn hóa là một cách thể hiện rõ ràng nhất của mối quan hệ này, phản ánh sự khác biệt giữa lựa chọn của người Việt Nam và của những cá nhân hoặc tộc người khác.
Giáo dục văn hóa truyền thống uống nước nhớ nguồn 1. Khái niệm giáo dục Giáo dục có thể được thực hiện thông qua việc nhận hướng dẫn và truyền đạt từ người khác, cũng như thông qua việc tự nghiên cứu và học hỏi từ những kinh nghiệm trong cuộc sống, sản xuất và các giá trị văn hóa tinh thần trong xã hội. Theo Từ điển tiếng Việt, "Giáo dục là việc tác động có hệ thống đến sự phát triển tinh thần và thể chất của một cá nhân hoặc đối tượng nhằm giúp họ tiếp thu và phát triển các phẩm chất và năng lực theo yêu cầu đặt ra. Trong tiếng Việt, "giáo" có nghĩa là dạy, "dục" có nghĩa là nuôi (không dùng một mình); "giáo dục" là dạy dỗ gây nuôi đủ cả trí - dục, đức - dục, thể - dục.
Tại Việt Nam, theo tác giả Hồ Ngọc Đại, giáo dục được định nghĩa như sau: Giáo dục là quá trình tự nhiên truyền tải kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm của một người hoặc một nhóm người, mà không có sự áp đặt đối với người hoặc nhóm khác, thông qua giảng dạy, đào tạo hoặc nghiên cứu. “Mục tiêu của quá trình này là khám phá, khuyến khích, định hướng và hỗ trợ mỗi cá nhân phát huy tối đa ưu điểm và sở thích của bản thân, từ đó trở thành chính mình và đóng góp tối đa năng lực cho xã hội, đồng thời thỏa mãn quan điểm, sở thích và thế mạnh cá nhân” [9,tr.