CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC TRÒ CHƠI PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC CHO HỌC SINH LỚP 2 TRONG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM 1. Năng lực hợp tác và phát triển năng lực hợp tác 1. Khái niệm - Năng lực: Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê (chủ biên), năng lực có thể được hiểu theo hai nghĩa chính: (1) Đó là khả năng hoặc điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động cụ thể; (2) Năng lực cũng ám chỉ các phẩm chất tâm lý và sinh lý của con người, cho phép họ hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao [19]. Theo nghĩa đầu tiên, năng lực là khả năng thực tế, được biểu hiện thông qua việc thành thạo một hoặc nhiều kỹ năng của người học.
Theo nghĩa thứ hai, năng lực là một tiềm năng sẵn có trong người học, có khả năng giúp họ đối phó với những tình huống thực tế trong cuộc sống. Tổ chức OECD (Tổ chức hợp tác Kinh tế và phát triển) quan niệm “Năng lực là khả năng đáp ứng một cách hiệu quả những yêu cầu phức hợp trong một bối cảnh cụ thể”. Đặng Thành Hưng (2012) cho rằng: “Năng lực là một khả năng hành động hiệu quả hoặc là sự phản ứng thích đáng trong các tình huống phức tạp nào đó” [16, tr.28] David Mirked và cộng sự (2011) cho rằng: “Năng lực được thể hiện như một hệ thống khả năng, sự thành thạo hoặc những kĩ năng thiết yếu, có thể giúp con người đủ điều kiện vươn tới một mục đích cụ thể.10] Có thể thấy dù các phát biểu có khác nhau nhưng các cách hiểu trên đều khẳng định: “Nói đến năng lực là phải nói đến khả năng thực hiện, là phải biết 11 làm, chứ không chỉ biết và hiểu. Tất nhiên hành động (làm) hay thực hiện ở đây phải gắn với ý thức và thái độ; phải có kiến thức và kĩ năng, chứ không phải làm một cách máy móc mù quáng”.
Tiếp thu quan niệm về năng lực của các nước phát triển, Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể của Việt Nam (2018) đã xác định: “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể. - Hợp tác: Hợp tác là một trong những kỹ năng sống quan trọng của mỗi con người. Chính vì vậy, năng lực hợp tác đã nhận được sự chú ý đặc biệt của nhiều nhà nghiên cứu và đã cho ra nhiều những khái niệm khác nhau của hợp tác như: Theo Nguyễn Mạnh Thảo (2020): “Hợp tác là quá trình của một nhóm các sinh vật làm việc hoặc hành động cùng nhau cho mục đích chung hoặc một số lợi ích, không vụ lợi” và “Con người hợp tác vì một số lý do cũng như các loài động vật khác như: lợi ích, sự liên kết di truyền, và sự có đi có lại nhưng cũng có thể vì những lý do chỉ có ở con người” [22, tr.12] Theo Hoàng Phê và Cộng Sự (1997), cho rằng: “Hợp tác là chung sức giúp đỡ nhau trong một công việc, một lĩnh vực nào đó nhằm đạt mục đích chung”.
[19] Trong cuốn Chương trình giáo dục những giá trị sống – Những hoạt động giá trị dành cho trẻ từ 8-14 tuổi, (Nguyễn Thị Bích Hà dịch), NXB Văn hóa: “Hợp tác là khi mọi người cùng làm việc với nhau vì một mục đích chung. Hợp tác là khi ta công nhận giá trị đóng góp của từng người và luôn có thái độ thiện trí” [10, tr.207] Như vậy, hợp tác có thể được hiểu như sự tương tác lẫn nhau, trong đó mỗi cá nhân thể hiện tính tích cực, tự giác và trách nhiệm cao. Họ tương 12 tác trực tiếp và huy động tri thức, kỹ năng của bản thân để giải quyết nhiệm vụ chung một cách hiệu quả. - Năng lực hợp tác: Từ khái niệm năng lực và khái niệm hợp tác, chúng tôi rút ra khái niệm năng lực hợp tác như sau: Năng lực hợp tác là khả năng tương tác, phối hợp và tự điều chỉnh hoạt động của cá nhân với tập thể nhằm vào việc thực hiện mục tiêu chung với tinh thần chủ động, trách nhiệm cao trong công việc hoạt động của nhóm.
Trong đó mỗi cá nhân thể hiện sự tích cực, tự giác, sự tương tác trực diện và trách nhiệm cao trên cơ sở huy động những tri thức, kĩ năng của bản thân nhằm giải quyết có hiệu quả nhiệm vụ chung. - Phát triển năng lực hợp tác: Với quan điểm của Triết học, Theo Nguyễn Duy Quý (2008, chủ biên) [20, tr.10]: “Phát triển là khuynh hướng vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện do việc giải quyết mâu thuẫn, thực hiện bước nhảy về chất gây ra, và hướng theo xu thế phủ định của phủ định. Như vậy hiểu một cách đơn giản nhất thì phát triển là sự tăng lên về số lượng và chất lượng”. Như vậy, có thể hiểu phát triển là vận động nhưng không phải mọi vận động đều là phát triển, mà chỉ vận động nào theo khuynh hướng đi lên thì mới là phát triển.
Như vậy có thể rút ra khái niệm: Phát triển năng lực hợp tác là sự phát triển khả năng tương tác, phối hợp và tự điều chỉnh hoạt động của cá nhân với tập thể nhằm vào việc thực hiện mục tiêu chung với tinh thần chủ động, trách nhiệm cao trong công việc hoạt động của tập thể đề ra. Cấu trúc của năng lực hợp tác Quá trình quan tâm nghiên cứu và xây dựng cấu trúc năng lực hợp tác đã thu hút sự quan tâm của nhiều tác giả. Dựa trên các quan điểm tiếp cận và môi trường hợp tác giải quyết vấn đề, mỗi tác giả đã xây dựng những cấu trúc và bước hợp tác khác nhau. Trên cơ sở các yêu cần đạt về NLHT của HS 13 ở từng cấp học của Bộ GD-ĐT (2018), căn cứ vào thực tiễn dạy học, Nguyễn Trọng Thản (2018), trong sách chuyên khảo “Phương pháp dạy học phát triển năng lực hợp tác trong thực tiễn trải nghiệm” [21, tr.16] đã đề xuất cấu trúc NLHT gồm các thành tố: (1) Xác định mục đích và phương thức hợp tác, (2) Xác định trách nhiệm và hoạt động của bản thân, (3) Xác định nhu cầu và khả năng của người hợp tác, (4) Tổ chức và thuyết phục người khác, (5) Đánh giá hoạt động hợp tác.
Trên cơ sở các thành tố cấu thành NLHT đã nêu trên, cụ thể biểu hiện hành vi tương ứng với từng thành tố như sau (xem bảng 1.1: Cấu trúc của năng lực hợp tác Các thành tố của Biểu hiện hành vi NLHT 1. Xác định - Đề xuất được mục đích hợp tác để giải quyết vấn đề. mục đích - Đánh giá và xác định công việc nào có thể được thực hiện và phương tốt nhất thông qua sự hợp tác. thức hợp - Chọn lựa hình thức làm việc nhóm có quy mô phù hợp với tác yêu cầu và nhiệm vụ cụ thể.
Xác định - Định rõ các công việc cụ thể cần thực hiện để hoàn thành trách nhiệm nhiệm vụ của nhóm. và hoạt - Xây dựng tiến trình thực hiện các công việc theo trình tự động của và thời gian để đảm bảo hoàn thành các nhiệm vụ được giao. bản thân - Thực hiện được các công việc được giao. Xác định - Xác định các công việc đã hoàn thành của từng thành viên nhu cầu và trong nhóm dựa trên sự phân công ban đầu.
khả năng - Xác định các công việc đã hoàn thành của nhóm theo trình của người tự và thời gian đã được định. hợp tác - Đề xuất điều chỉnh phương án phân công công việc và tổ chức hoạt động hợp tác khi cần thiết. 14 Các thành tố của Biểu hiện hành vi NLHT 4. Tổ chức - Đưa ra nhận xét, góp ý và hỗ trợ cho các thành viên khác và thuyết trong nhóm.
phục người - Nhận biết và đề xuất cách giải quyết các mâu thuẫn xảy ra khác trong quá trình hợp tác. - Thảo luận một cách ôn hòa và tôn trọng để đạt đồng thuận về quyết định chung của nhóm. Đánh giá - Đánh giá mức độ đạt được cá nhân dựa trên mục tiêu hoạt hoạt động động của nhóm. hợp tác của - Đánh giá mức độ đạt được của từng thành viên và nhóm bản thân dựa trên mục tiêu hoạt động đã đề ra.
- Tích hợp kinh nghiệm cá nhân và đóng góp ý kiến cho từng thành viên trong nhóm. Nguồn: Tổng hợp của tác giả Nguyễn Trọng Thản [22] 1. Các mức độ của năng lực hợp tác Dựa trên mô hình cấu trúc năng lực hợp tác đã được trình bày, chúng tôi đã xây dựng một tập các chỉ số đo lường biểu hiện hành vi của học sinh liên quan đến năng lực này. Các chỉ số này được phân thành các mức độ từ thấp đến cao, giúp giáo viên đánh giá năng lực của học sinh dựa trên những hành vi cụ thể mà họ thể hiện.
Đồng thời, giáo viên có thể xác định hướng phát triển và tập trung rèn luyện các kỹ năng và hành vi tiếp theo để phát triển năng lực của học sinh. Ngoài ra, học sinh cũng có khả năng tự đánh giá năng lực của mình dựa trên những biểu hiện hành vi đã được đề cập. Mô hình cấu trúc năng lực hợp tác này cung cấp một cơ sở lý thuyết vững chắc và tạo điều kiện cho việc triển khai nghiên cứu và phát triển năng lực này cho học sinh trong thực tế. Dựa trên 5 thành tố cấu thành năng lực hợp tác, chúng tôi phân loại từng 15 thành tố theo 3 mức độ từ thấp tới cao như sau: Bảng 1.2: Mức độ đánh giá năng lực hơp tác Mức độ Mức 1 Mức 2 Mức 3 Thành tố 1.
Xác định Không tự đề xuất Chỉ đề xuất mục Đề xuất mục đích mục đích mục đích hợp tác đích hợp tác cho hợp tác để giải và phương để giải quyết vấn vấn đề mà mình quyết vấn đề mà thức hợp đề, trừ khi được đưa ra, không thể bản thân cũng tác yêu cầu. nêu mục đích hợp như người khác tác của vấn đề do đã đề cập. người khác đưa ra. Không xác định Xác định được một Xác định được được loại công số công việc có thể các công việc có việc nào sẽ được hoàn thành tốt nhất thể hoàn thành tốt thực hiện tốt nhất thông qua sự hợp nhất thông qua sự thông qua hợp tác.