phần mở đầu, phần kết luận, phần phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở khoa học của đề tài - Chƣơng 2: Đề xuất một số biện pháp giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh lớp 4,5 trƣờng Tiểu học Kiền Bái - Thủy Nguyên thông qua việc khai thác các giá trị văn hóa truyền thống địa phƣơng - Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm 9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Giáo dục học và giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học 1. Khái niệm về giáo dục học Theo nghĩa rộng: Là sự hình thành nhân cách đƣợc tổ chức có mục đích, thông qua các hoạt động và các quan hệ giữa nhà giáo dục với ngƣời đƣợc giáo dục nhằm giúp ngƣời đƣợc giáo dục chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội của loài ngƣời. Theo nghĩa hẹp: Là quá trình hình thành nên cơ sở khoa học của thế giới quan, niềm tin, tình cảm, thái độ, những tính cách, những hành vi, thói quen cƣ xử đúng đắn trong xã hội.
Giáo dục với tƣ cách là một ngành khoa học không thể tách rời những truyền thống giáo dục từng tồn tại trƣớc đó. Trong xã hội, ngƣời lớn giáo dục ngƣời trẻ những kiến thức và kỹ năng cần phải thông thạo và cần trao truyền lại cho thế hệ tiếp theo. Sự phát triển văn hóa và sự tiến hóa của loài ngƣời phụ thuộc vào lề lối trao truyền tri thức này. Ở những xã hội tồn tại trƣớc khi có chữ viết giáo dục đƣợc thực hiện bằng lời nói và thông qua bắt chƣớc.
Những câu chuyện kể đƣợc tiếp tục từ đời này sang đời khác. Rồi ngôn ngữ nói phát triển thành những chữ và ký hiệu. Chiều sâu và độ rộng của kiến thức có thể đƣợc bảo tồn và trao truyền gia tăng vƣợt bậc. Khi các nền văn hóa bắt đầu mở rộng kiến thức vƣợt quá những kỹ năng cơ bản về giao tiếp, đổi chác, kiếm ăn, thực hành tôn giáo, v., giáo dục chính quy và việc đi học cuối cùng diễn ra.
Giáo dục là hoạt động có chủ đích đƣợc tiến hành dƣới sự chỉ đạo của các nhà chuyên trách - đội ngũ các nhà giáo dục, diễn ra trên mọi hoạt động học tập và công tác giáo dục còn đƣợc thực hiện ngoài giờ học. Bậc Tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, đặt cơ sở ban đầu cho việc hình thành và phát triển toàn diện, hài hòa nhân cách 10 con ngƣời. Giáo dục Tiểu học nhằm hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, năng lực của học sinh; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên Trung học cơ sở. Giáo dục Tiểu học phải đảm bảo cho học sinh nắm vững các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết, tính toán, có những hiểu biết về thiên nhiên, xã hội và con ngƣời; có lòng nhân ái hiếu thảo với ông bà, cha mẹ, yêu quý anh chị em; kính trọng thầy cô giáo, lễ phép với ngƣời lớn tuổi; giúp đỡ bạn bè, các em nhỏ, yêu lao động, có kỉ luật, có nếp sống văn hóa, có thói quen rèn luyện thân thể và giữ gìn vệ sinh; yêu quê hƣơng đất nƣớc, yêu hòa bình.
Khái niệm về đạo đức Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp các quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội nhờ nó con ngƣời tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích và hạnh phúc của con ngƣời, với tiến bộ xã hội trong quan hệ cá nhân - cá nhân và quan hệ cá nhân - xã hội. Để tồn tại và phát triển con ngƣời phải hoạt động và tham gia các mối quan hệ xã hội trong thế giới hiện thực. Trong quá trình thực hiện các mối quan hệ ấy, nếu con ngƣời có cách giao tiếp, ứng xử phù hợp với lợi ích chung của mọi ngƣời, của cộng đồng thì con ngƣời ấy đƣợc đánh giá là có đạo đức. Ngƣợc lại, cá nhân nào có thái độ, hành vi không đúng đắn, làm tổn hại đến lợi ích của ngƣời khác, của cộng đồng và bị xã hội lên án, chê trách thì cá nhân đó sẽ bị coi là thiếu đạo đức.
Đạo đức có thể đƣợc nhìn thấy theo các góc độ sau: Nghĩa hẹp: Đạo đức thể hiện nét đẹp trong phong cách sống của một ngƣời hiểu biết và rèn luyện ý chí theo các bậc tiền nhân về các quy tắc ứng xử, các đƣờng lối tƣ duy thanh tao tốt đẹp. Nghĩa rộng hơn: Đạo đức trong một cộng đồng thể hiện qua những quy tắc ứng xử đƣợc áp dụng từ việc hợp với đạo lý xƣa nay và phong tục của địa phƣơng, cộng đồng đó. Tạo thành nét đẹp truyền thống văn hóa. 11 Đạo đức biến đổi và phát triển cùng với sự biến đổi và phát triển của các điều kiện kinh tế - xã hội, cùng với sự phát triển của xã hội.
Khái niệm đạo đức ngày càng đƣợc hoàn thiện đầy đủ hơn. Các giá trị đạo đức trong xã hội của chúng ta hiện nay là thể hiện sự kết hợp sâu sắc giữa truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc với xu thế tiến bộ của thời đại, của nhân loại. Lao động sáng tạo, nguồn gốc của mọi giá trị là một nguyên tắc đạo đức có ý nghĩa chỉ đạo trong giáo dục và tƣ tƣởng giáo dục của con ngƣời hiện nay. Giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học Có thể nói đạo đức là cái tốt, cái đúng ở bên trong con ngƣời đƣợc biểu hiện ra bên ngoài bằng lời nói, hành vi.
Đạo đức là gốc bên trong đƣợc chuyển hóa thành lời nói và hành vi tốt đẹp bên ngoài. Tức là con ngƣời phải có nhận thức đúng về sự vật hiện tƣợng và từ đó có lời nói, hành vi tốt đẹp, đúng đắn với sự vật hiện tƣợng. Để có đƣợc nhận thức đúng cần phải đƣợc giáo dục. Đạo đức con ngƣời không phải có sẵn mà phải đƣợc giáo dục.
"Hiền dữ phải đâu là tính sẵn, phần nhiều do giáo dục mà nên" (Hồ Chí Minh). Trong công tác giáo dục, bậc Tiểu học là bậc học giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách cho học sinh nhằm xây dựng và phát triển con ngƣời làm chủ tƣơng lai cho đất nƣớc. Trong đó giáo dục đạo đức là một trong những hoạt động giáo dục cơ bản nhất trong các bậc học của học sinh nhằm làm cho nhân cách đƣợc phát triển đúng đắn, giúp học sinh có những nhận thức, ý thức tình cảm đạo đức, có những thói quen, hành vi ứng xử đúng mực trong các mối quan hệ của cá nhân với xã hội, của cá nhân đối với mọi ngƣời xung quanh. Giáo dục đạo đức là một bộ phận rất quan trọng của quá trình sƣ phạm, đặc biệt là ở Tiểu học.
Hình thành những cơ sở ban đầu về mặt đạo đức cho học sinh, giúp các em ứng xử đúng đắn qua các mối quan hệ đạo đức hàng ngày. Có thể nói, nhân cách của học sinh Tiểu học thể hiện trƣớc hết qua hành vi đạo đức. Điều này thể hiện qua thái độ cƣ xử đối với ông bà, cha mẹ, anh 12 chị em ruột trong gia đình, với thầy cô giáo, bạn bè qua thái độ với học tập, rèn luyện hàng ngày. Vì vậy, giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học giữ vị trí đặc biệt quan trọng.
Sự phát triển nhân cách bắt nguồn từ môi trƣờng này. Các nề nếp, thói quen, các cử chỉ hành vi đều đƣợc xây dựng từ đây. Đó là các ý thức nhƣ: giữ gìn vệ sinh chung nơi công cộng, chấp hành luật lệ giao thông, giúp đỡ ngƣời già neo đơn, giúp ngƣời có hoàn cảnh khó khăn, gặp hoạn nạn, trân trọng giá trị lịch sử, ý thức giữ gìn, bảo quản các di tích lịch sử của dân tộc. Ngƣời làm công tác giáo dục có nhiệm vụ nâng đỡ và uốn nắn để giúp học sinh có sự phát triển đúng đắn về nhân cách, về đạo đức nhằm giúp các em có điều kiện gần gũi nhau, thƣờng xuyên trao đổi động viên uốn nắn kịp thời tiến bộ qua từng ngày.
Mặt khác trong những năm qua, các trƣờng Tiểu học luôn đề cao vấn đề giáo dục đạo đạo đức cho học sinh. Việc giáo dục đạo đức các em qua các môn học, qua đó các em hình thành ý thức tuân thủ tốt nội quy, nề nếp của học sinh từng bƣớc đƣợc thay đổi theo chiều hƣớng tích cực hơn. Thông qua các tiết Đạo đức, để các tiết học hiệu quả cao thì giáo viên phải nghiên cứu kĩ kế hoạch bài dạy nhằm tổ chức tiết học một cách hợp lý. Cách sử dụng đồ dùng dạy học đƣa ra phải đúng lúc, đạt hiệu quả tốt.
Với tiết lý thuyết, khi giảng dạy giáo viên phải lƣu ý đến hệ thống câu hỏi, câu hỏi đàm thoại phải phù hợp, phải logic để đúc rút ra đƣợc những bài học quý báu trong giờ đạo đức cho học sinh cần học tập. Khác với tiết lí thuyết, trong tiết thực hành giáo viên phải hƣớng dẫn học sinh thực hiện những hành vi đạo đức tốt vừa học đƣợc qua tiết lý thuyết bằng những việc làm cụ thể, vừa sức, vừa khả năng của học sinh bằng nhiều việc làm khác nhau, cũng nhƣ nhiều hình thức khác nhau. Bên cạnh đó, giáo viên cũng luôn kết hợp với các môi trƣờng giáo dục khác nhƣ gia đình, xã hội để làm tốt công tác giáo dục đạo đức cho các em học sinh. Khái niệm về văn hóa và giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam 1.
Khái niệm về văn hóa Quan niệm của C.Mác về văn hóa: “Văn hóa là toàn bộ những thành quả đƣợc tạo ra nhờ hoạt động lao động sáng tạo của con ngƣời - hoạt động sản xuất vật chất và tái sản xuất ra đời sống hiện thực của con ngƣời”. Khi nghiên cứu quy luật vận động và phát triển của xã hội loài ngƣời, C.Ăngghen đã khái quát các hoạt động của xã hội thành hai loại hình hoạt động cơ bản là "sản xuất vật chất" và "sản xuất tinh thần". Do đó, văn hóa bao gồm cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. Văn hóa vật chất là năng lực sáng tạo của con ngƣời đƣợc thể hiện và kết tinh trong sản phẩm vật chất.
Văn hóa tinh thần là tổng thể các tƣ tƣởng, lý luận và giá trị đƣợc sáng tạo ra trong đời sống tinh thần và hoạt động tinh thần của con ngƣời.