Chương 1 THONG DIEP VE MOI TRUONG TREN TRUYEN HÌNH, MỘT SO LI LUAN CO BAN 1. Một số khái niệm cơ ban 1. Thông điệp Có nhiều cách hiểu về khái niệm thông điệp. Trong tiếng Anh và tiếng Pháp, "Message" nghĩa là "thông điệp".
Thuật ngữ thông điệp ở đây cũng được hiểu là lời phán truyền, truyền đạt, truyền thông. Tiếng Trung chữ “thông điệp” (Tongdie) cũng mang nội dung tương tự. Theo Từ điển tiếng Việt thì “Thông điệp” là “điều quan trọng muốn gửi gắm thông qua một hình thức hoạt động, một việc làm mang tính biểu trưng nào đó ”, [32.] Tác giả Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang, trong cuốn Cơ sở lý luận báo chí truyền thông, nhận định “Thông điệp là tin tức được thé hiện bằng tín hiệu, ký hiệu, mã số, bằng mực trên giấy, sóng trên không trung hoặc bằng bat cứ tín hiệu nào mà người ta có thể hiểu được và được trình bảy một cách có ý nghĩa. Điều quan trọng là thông điệp phải được diễn tả bằng thứ ngôn ngữ ma người cung cấp và người tiếp nhận hiểu được.
Có thể là ngôn ngữ giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày, ngôn ngữ kỹ thuật trong khoa học, hay ngôn ngữ văn học trong nghệ thuật ” [29. Khái niệm này được hiểu thông điệp là một hệ thống các kí hiệu hàm chứa nội dung thông tin cụ thé. Hệ thống kí hiệu này phải được quy ước giữa người nói và người nhận và người nhận phải giải mã được các kí hiệu này. Tác giả Nguyễn Văn Dững (chủ biên), Đỗ Thị Thu Hằng, trong cuốn Truyền thông lý thuyết và kỹ năng cơ bản, cho rằng: “Thông điệp là nội dung thông tin được trao đổi từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận.
Thông điệp chính là những tâm tư, tình cảm, mong muốn, doi hỏi, ý kiến, hiểu biết, kinh nghiệm sống, tri thức khoa học - kỹ thuật. được mã hoá theo một hệ thống ký hiệu nào đó. Hệ thống này phải được cả bên phát và bên nhận cùng chấp nhận và có chung cách viết - tức là có kha năng giải mã. Tiêng nói, chữ viết, 11 hệ thông biên báo, hình anh, cử chỉ biêu dat cua con người được sử dụng dé chuyển tải thông điệp ”[3.
Hai tác giả đã chỉ ra biểu hiện nội dung cốt lõi của thông điệp cũng như hình thức thé hiện thông điệp. Có thé thấy ở khái niệm này thông điệp không phải là con số, sự liệt kê đơn thuần mà thé hiện cốt lõi ở ý chí của người truyền thông về một việc gì đó muốn truyền cho người khác. Khái niệm về thông điệp của tác giá Nguyễn Van Ding, Đỗ Thi Thu Hang trong cuốn “Truyén thông lý thuyết và kỹ năng cơ ban” là khá đầy đủ. Thông điệp nếu được truyền tải một cách tự nhiên thì đễ thu hút người nhận.
Ngôn từ, cách diễn dat trong thông điệp phải đơn giản, dé hiểu, dé làm theo và phù hợp với từng loại hình báo chí. Thông điệp trên truyền hình có ưu thế vượt trội trong việc tạo cảm giác tiếp xúc qua hình ảnh, màu sắc, lời nói, âm thanh dễ đi vào lòng công chúng tiếp nhận, vì vậy băng sự nhanh nhạy của người làm báo, những chỉ tiết, sự việc xảy ra trong cuộc sống thường ngày, có ảnh hưởng và được công chúng quan tâm sẽ được truyền hình chuyên tải bằng những thông điệp gần gũi, sinh động dé gây hiệu ứng xã hội. Ngày nay, thuật ngữ “thông điệp” được sử dụng như một khái niệm then chốt trong khoa học báo chí - truyền thông. Trong báo chí, “thông điệp” mang ý nghĩa rộng lớn, có thê bằng chữ viết, hình ảnh, lời nói, kí tự.
Nhưng điều quan trọng là tùy đối tượng hướng tới, “thông điệp” phải được diễn tả băng thứ ngôn ngữ dễ hiểu, dé nhớ và dé làm theo. Các thông điệp của truyền thông đại chúng mang tính chất công cộng, nghĩa là bất kỳ ai được tiếp cận thì sẽ biết đến thông điệp đó. Từ những nghiên cứu nêu trên kết hợp với thực tiễn có thể khái quát: “Thông điệp là nội dung thông tin được trao đổi từ nguôn phát đến đối tượng tiếp nhận”. Trong truyền thông, thông điệp được hiểu là một phát ngôn hoàn chỉnh cả về nội dung và hình thức dành cho một nhóm đối tượng trong hoàn cảnh cụ thể nhăm hướng tới mục tiêu của chiến dịch truyền thông.
Do đó, truyền thông phải chú ý theo dõi để làm mới thông điệp cả về nội dung và hình thức. Mỗi thông điệp đều có mục đích riêng nhưng yêu cầu chung là phải phù hợp với chính sách của Dang, Nhà nước và các giá tri văn hóa — xã hội. Thông điệp có nhiều loại: Theo quan điểm của tác giả Nguyễn Văn 12 Dững và Đỗ Thị Thu Hằng, Truyén thông lý thuyết và kỹ năng cơ bản, có thé chia thông điệp thành 4 loại: (1) Thông điệp đích là thông điệp của cả chiến dịch truyền thông hướng tới; (2) Thông điệp cụ thé (thông điệp bộ phận) là loại thông điệp cấu thành thông điệp đích của chiến dịch truyền thông: (3) Thông điệp tài liệu là loại thông điệp an chứa trong các tài liệu, dữ liệu. Loại thông điệp này dễ nhận biết vì nó biểu hiện cụ thé, có thé nhìn thay bằng trực quan: (4) Thông điệp ẩn là loại thông điệp mà nhận biết nó cần phải tư duy tích cực, năng lực trừu tượng hoa, cảm nhận tinh tế, liên tưởng với những vấn đề kinh tế - văn hoá - xã hội đã và đang đặt ra.
Môi trường Thuật ngữ môi trường trong tiếng Anh là Environment, tiếng Hoa là Hoàn cảnh. Môi trường bao gom các yếu tô tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tôn tại, phát triển của con người và sinh vật [13, Điều 3]Theo nghĩa rộng nhất thì môi trường là tập hợp các điều kiện và hiện tượng bên ngoài có ảnh hưởng tới một vật thê hoặc sự kiện.Bất cứ một vật thể, một sự kiện nao cũng ton tại và diễn biến trong một môi trường. Tác giả Lê Văn Khoa (1995), Môi trường và ô nhiễm, Nxb. Giáo dục định nghĩa: Đối với cơ thể sống thì “Môi trường sống” là tổng hợp những diéu kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới đời sống và sự phát triển của cơ thể.8] Theo đó môi trường là tổng hợp các điều kiện sống của con người, phát triển là quá trình cải tạo và cải thiện các điều kiện đó.
Giữa môi trường và phát triển có mối quan hệ rất chặt chẽ và môi trường là địa bàn và đối tượng của phát triển. Môi trường bao gém tat cả những gì bao quanh sinh vật, tất cả các yếu tô vô sinh và hữu sinh có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên sự sống, phát triển và sinh sản của sinh vật" là nhận đình của Hoàng Đức Nhuận, (2000), Bảo vệ Môi trường. Giáo dục [17,tr. Theo tác giả, môi trường có các thành phan chính tác động qua lại lẫn nhau, trong đó: Môi trường tự nhiên bao gồm nước, không khí, đất đai, ánh sáng và các sinh vật.
Môi trường kiến tạo gồm những cảnh quan được thay đổi do con người. Môi trường không 13 gian gồm những yếu tố về địa điểm, khoảng cách, mật độ, phương hướng và sự thay đổi trong môi trường. Đối với con người, môi trường chứa đựng nội dung rộng. Theo định nghĩa của UNESCO (1981): Môi trường của con người bao gồm toàn bộ các hệ thong tự nhiên và các hệ thong do con người tao ra xung quanh mình, trong đó con người sống và lao động, họ khai thác các tài nguyên thiên nhiên và nhân tạo nhằm thỏa mãn những nhu cầu của mình.
Như vậy, môi trường sống đối với con người không chỉ là nơi tồn tại, sinh trưởng và phát triển cho một thực thé sinh vật và con người mà còn là “khung cảnh của cuộc sống, của lao động va sự vui chơi giải tri của con người”. Luật Bảo vệ Môi trường (BVMT) Việt Nam sửa đôi (2020) có định nghĩa: "Môi trường bao gồm các yếu tô vật chất tự nhiên và nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, kinh tế, xã hội, sự ton tại, phát triển của con người, sinh vật và tự nhiên ” [26]. Như vậy, các yếu tố vat chất tạo thành môi trường gồm dat, nước, không khí, sinh vật, âm thanh, ánh sáng và các hình thái vật chất khác bao quanh con người có quan hệ bé sung cho nhau và những yếu tố nay tác động đến con người về mọi mặt. Từ những khái niệm trên, có thé hiểu: Mồi trường là tập hợp các yếu to tự nhiên và xã hội bao quanh con người có ảnh hướng tới con người và tac động qua lại với các hoạt động sống của con người như: không khí, nước, đất, sinh vật, xã hội loài người.
Có thê thay, sự phân chia môi trường thành các loại chỉ dé phục vụ cho việc nghiên cứu và phân tích các hiện tượng phức tạp trong môi trường. Thực tế các loại môi trường cùng tồn tại, xen lẫn vào nhau, tương tác với nhau hết sức chặt chẽ và đều ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của con người. Môi trường sống của con người thường được phân chia thành các loại sau: Môi trường tự nhiên: Bao gồm các yếu tố tự nhiên như vật lý, hóa học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con người. Môi trường xã hội: Là tông thê các quan hệ giữa người và người tạo 14 nên sự thuận lợi hoặc khó khăn cho sự tồn tại và phát triển của các cá nhân và cộng đồng loài người.
Môi trường nhân tạo: Là tat cả các yếu tô tự nhiên, xã hội do con người tạo nên và chiu sự chi phối của con người. Như vậy, môi trường sống của con người theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sống, sản xuất của con người như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội,.Theo nghĩa hẹp, thì môi trường sống của con người chỉ bao gồm các nhân tổ tự nhiên và nhân tố xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống của con người. Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi tập trung nghiên cứu môi trường dưới góc độ tự nhiên và góc độ xã hội, nơi có tự nhiên tác động đến con người và nơi con người cùng những hành động của con người ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên. Truyền hình Thuật ngữ truyền hình (Television) có nguồn gốc từ tiếng Latinh và tiếng Hy Lạp.
Theo tiếng Hy Lạp, từ “Tele” có nghĩa là "ở xa" còn “videre” là "thấy được", còn tiếng Latinh có nghĩa là xem được từ xa.