Nghiên cứu thạc sĩ báo chí về thông điệp môi trường trên truyền hình Đà Nẵng

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu báo chí thông điệp về môi trường đà nẵng trên truyền hình, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn thiện trong lĩnh vực môi

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

thesis

2021

216
9
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: THÔNG ĐIỆP VỀ MÔI TRƯỜNG TRÊN TRUYỀN HÌNH, MỘT SỐ LÍ LUẬN CƠ BẢN

1.1. Một số khái niệm cơ bản

1.2. Thông điệp về môi trường trên truyền hình

1.2.1. Vai trò của thông điệp về môi trường trên truyền hình

1.2.2. Nội dung và hình thức thông điệp về môi trường trên truyền hình

1.2.2.1. Nội dung thông điệp
1.2.2.2. Hình thức thông điệp

1.3. Tiêu chí đánh giá thông điệp về môi trường trên truyền hình

1.3.1. Các chỉ đánh giá nội dung thông điệp

1.3.2. Tiêu chí đánh giá hình thức thông điệp

1.4. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THÔNG ĐIỆP VỀ MÔI TRƯỜNG ĐÀ NẴNG TRÊN TRUYỀN HÌNH

2.1. Tổng quan về các Đài và các chương trình khảo sát

2.1.1. Đài Phát thanh - Truyền hình Đà Nẵng (DaNangtv) và các chương trình

2.1.2. Trung tâm truyền hình Việt Nam tại khu vực miền Trung - Tây Nguyên (VTV8) và các chương trình khảo sát

2.1.3. Khảo sát thực trạng thông điệp môi trường Đà Nẵng trên truyền hình về tần suất và số lượng

2.2. Nội dung thông điệp về môi trường Đà Nẵng trên truyền hình

2.2.1. Về hình thức thể hiện. Đánh giá chung

2.2.2. Thành công và nguyên nhân của thành công

2.2.3. Hạn chế và nguyên nhân của hạn chế

2.3. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THÔNG ĐIỆP VỀ MÔI TRƯỜNG TRÊN TRUYỀN HÌNH

3.1. Một số vấn đề đặt ra trong truyền tải thông điệp về môi trường Đà Nẵng trên truyền hình

3.2. Một số giải pháp cơ bản

3.3. Giải pháp chung

3.4. Giải pháp cụ thể

3.5. Một số kiến nghị

3.5.1. Kiến nghị với Thành ủy, UBND thành phố, chính quyền, cơ quan quản lý Nhà nước về báo chí và các đơn vị chức năng, doanh nghiệp trên địa bàn

3.5.2. Kiến nghị với Đài Phát thanh — Truyền hình Đà Nẵng

3.5.3. Kiến nghị với Trung tâm truyền hình Việt Nam tại khu vực miền Trung — Tây Nguyên

3.6. Tiểu kết chương 3

MỞ ĐẦU

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu về thông điệp môi trường trên truyền hình Đà Nẵng

Thông điệp môi trường trên truyền hình Đà Nẵng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường. Truyền hình Đà Nẵng không chỉ là kênh thông tin mà còn là cầu nối giữa chính quyền và người dân. Nội dung thông điệp thường xoay quanh các vấn đề như ô nhiễm môi trường, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và ứng phó với biến đổi khí hậu. Theo nghiên cứu, thông điệp này đã góp phần định hướng hành vi của người dân, khuyến khích họ tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường. Một trong những điểm nổi bật là sự kết hợp giữa thông tin và giáo dục, giúp người dân hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường. Như một chuyên gia đã nhận định, "Truyền hình không chỉ cung cấp thông tin mà còn tạo ra sự thay đổi trong nhận thức và hành động của cộng đồng."

1.1. Vai trò của thông điệp môi trường

Thông điệp môi trường trên truyền hình Đà Nẵng có vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức cộng đồng về các vấn đề môi trường. Thông điệp này không chỉ đơn thuần là thông tin mà còn là công cụ giáo dục, giúp người dân hiểu rõ hơn về các vấn đề như ô nhiễm, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và ứng phó với biến đổi khí hậu. Theo một nghiên cứu, thông điệp này đã tạo ra sự thay đổi tích cực trong hành vi của người dân, khuyến khích họ tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường. Một chuyên gia trong lĩnh vực truyền thông đã nhấn mạnh rằng, "Thông điệp môi trường cần phải được truyền tải một cách rõ ràng và hấp dẫn để thu hút sự chú ý của công chúng."

II. Thực trạng thông điệp môi trường trên truyền hình Đà Nẵng

Thực trạng thông điệp môi trường trên truyền hình Đà Nẵng cho thấy nhiều điểm mạnh và yếu. Đài Phát thanh - Truyền hình Đà Nẵng đã phát sóng nhiều chương trình liên quan đến bảo vệ môi trường, tuy nhiên, nội dung vẫn còn hạn chế và chưa đa dạng. Nhiều chương trình chưa cập nhật kịp thời các vấn đề nóng hổi về môi trường, dẫn đến việc công chúng không nhận thức đầy đủ về tình hình hiện tại. Một khảo sát cho thấy, chỉ có 30% người dân cảm thấy thông điệp môi trường trên truyền hình thực sự hữu ích. Điều này cho thấy cần có sự cải thiện trong cách thức truyền tải thông điệp, từ nội dung đến hình thức thể hiện. Như một nhà nghiên cứu đã chỉ ra, "Để thông điệp môi trường có tác động mạnh mẽ, cần phải có sự sáng tạo và đổi mới trong cách truyền tải."

2.1. Nội dung và hình thức thông điệp

Nội dung và hình thức thông điệp môi trường trên truyền hình Đà Nẵng hiện nay còn nhiều hạn chế. Mặc dù có nhiều chương trình được phát sóng, nhưng nội dung thường lặp lại và thiếu sự sáng tạo. Nội dung thông điệp chủ yếu tập trung vào các vấn đề như ô nhiễm không khí, nước và rác thải, nhưng chưa khai thác sâu vào các khía cạnh khác như bảo tồn đa dạng sinh học hay ứng phó với biến đổi khí hậu. Hình thức thể hiện cũng chưa phong phú, chủ yếu là các bản tin ngắn hoặc phỏng vấn, thiếu các chương trình chuyên sâu. Một chuyên gia đã nhận định rằng, "Hình thức thể hiện thông điệp cần phải đa dạng hơn để thu hút sự chú ý của công chúng."

III. Giải pháp nâng cao chất lượng thông điệp môi trường

Để nâng cao chất lượng thông điệp môi trường trên truyền hình Đà Nẵng, cần có một số giải pháp cụ thể. Trước hết, cần đa dạng hóa nội dung thông điệp, không chỉ tập trung vào các vấn đề tiêu cực mà còn đưa ra các giải pháp tích cực và mô hình thành công trong bảo vệ môi trường. Chiến lược truyền thông cần được xây dựng một cách bài bản, kết hợp giữa truyền thông đại chúng và truyền thông cộng đồng. Bên cạnh đó, cần tăng cường sự tham gia của các chuyên gia và tổ chức xã hội trong việc xây dựng nội dung chương trình. Như một nhà nghiên cứu đã chỉ ra, "Sự tham gia của cộng đồng và các chuyên gia sẽ giúp thông điệp trở nên phong phú và thực tiễn hơn."

3.1. Đề xuất giải pháp cụ thể

Đề xuất giải pháp cụ thể để nâng cao chất lượng thông điệp môi trường trên truyền hình Đà Nẵng bao gồm việc tổ chức các buổi hội thảo, tọa đàm với sự tham gia của các chuyên gia và cộng đồng. Giải pháp cụ thể này không chỉ giúp nâng cao nhận thức mà còn tạo ra sự gắn kết giữa các bên liên quan. Bên cạnh đó, cần có các chương trình truyền hình thực tế, phỏng vấn các cá nhân, tổ chức có thành tích trong bảo vệ môi trường để tạo động lực cho cộng đồng. Một chuyên gia đã nhấn mạnh rằng, "Các chương trình thực tế sẽ giúp người dân thấy được những nỗ lực và thành công trong bảo vệ môi trường, từ đó khuyến khích họ tham gia."

09/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 THONG DIEP VE MOI TRUONG TREN TRUYEN HÌNH, MỘT SO LI LUAN CO BAN 1. Một số khái niệm cơ ban 1. Thông điệp Có nhiều cách hiểu về khái niệm thông điệp. Trong tiếng Anh và tiếng Pháp, "Message" nghĩa là "thông điệp".

Thuật ngữ thông điệp ở đây cũng được hiểu là lời phán truyền, truyền đạt, truyền thông. Tiếng Trung chữ “thông điệp” (Tongdie) cũng mang nội dung tương tự. Theo Từ điển tiếng Việt thì “Thông điệp” là “điều quan trọng muốn gửi gắm thông qua một hình thức hoạt động, một việc làm mang tính biểu trưng nào đó ”, [32.] Tác giả Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang, trong cuốn Cơ sở lý luận báo chí truyền thông, nhận định “Thông điệp là tin tức được thé hiện bằng tín hiệu, ký hiệu, mã số, bằng mực trên giấy, sóng trên không trung hoặc bằng bat cứ tín hiệu nào mà người ta có thể hiểu được và được trình bảy một cách có ý nghĩa. Điều quan trọng là thông điệp phải được diễn tả bằng thứ ngôn ngữ ma người cung cấp và người tiếp nhận hiểu được.

Có thể là ngôn ngữ giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày, ngôn ngữ kỹ thuật trong khoa học, hay ngôn ngữ văn học trong nghệ thuật ” [29. Khái niệm này được hiểu thông điệp là một hệ thống các kí hiệu hàm chứa nội dung thông tin cụ thé. Hệ thống kí hiệu này phải được quy ước giữa người nói và người nhận và người nhận phải giải mã được các kí hiệu này. Tác giả Nguyễn Văn Dững (chủ biên), Đỗ Thị Thu Hằng, trong cuốn Truyền thông lý thuyết và kỹ năng cơ bản, cho rằng: “Thông điệp là nội dung thông tin được trao đổi từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận.

Thông điệp chính là những tâm tư, tình cảm, mong muốn, doi hỏi, ý kiến, hiểu biết, kinh nghiệm sống, tri thức khoa học - kỹ thuật. được mã hoá theo một hệ thống ký hiệu nào đó. Hệ thống này phải được cả bên phát và bên nhận cùng chấp nhận và có chung cách viết - tức là có kha năng giải mã. Tiêng nói, chữ viết, 11 hệ thông biên báo, hình anh, cử chỉ biêu dat cua con người được sử dụng dé chuyển tải thông điệp ”[3.

Hai tác giả đã chỉ ra biểu hiện nội dung cốt lõi của thông điệp cũng như hình thức thé hiện thông điệp. Có thé thấy ở khái niệm này thông điệp không phải là con số, sự liệt kê đơn thuần mà thé hiện cốt lõi ở ý chí của người truyền thông về một việc gì đó muốn truyền cho người khác. Khái niệm về thông điệp của tác giá Nguyễn Van Ding, Đỗ Thi Thu Hang trong cuốn “Truyén thông lý thuyết và kỹ năng cơ ban” là khá đầy đủ. Thông điệp nếu được truyền tải một cách tự nhiên thì đễ thu hút người nhận.

Ngôn từ, cách diễn dat trong thông điệp phải đơn giản, dé hiểu, dé làm theo và phù hợp với từng loại hình báo chí. Thông điệp trên truyền hình có ưu thế vượt trội trong việc tạo cảm giác tiếp xúc qua hình ảnh, màu sắc, lời nói, âm thanh dễ đi vào lòng công chúng tiếp nhận, vì vậy băng sự nhanh nhạy của người làm báo, những chỉ tiết, sự việc xảy ra trong cuộc sống thường ngày, có ảnh hưởng và được công chúng quan tâm sẽ được truyền hình chuyên tải bằng những thông điệp gần gũi, sinh động dé gây hiệu ứng xã hội. Ngày nay, thuật ngữ “thông điệp” được sử dụng như một khái niệm then chốt trong khoa học báo chí - truyền thông. Trong báo chí, “thông điệp” mang ý nghĩa rộng lớn, có thê bằng chữ viết, hình ảnh, lời nói, kí tự.

Nhưng điều quan trọng là tùy đối tượng hướng tới, “thông điệp” phải được diễn tả băng thứ ngôn ngữ dễ hiểu, dé nhớ và dé làm theo. Các thông điệp của truyền thông đại chúng mang tính chất công cộng, nghĩa là bất kỳ ai được tiếp cận thì sẽ biết đến thông điệp đó. Từ những nghiên cứu nêu trên kết hợp với thực tiễn có thể khái quát: “Thông điệp là nội dung thông tin được trao đổi từ nguôn phát đến đối tượng tiếp nhận”. Trong truyền thông, thông điệp được hiểu là một phát ngôn hoàn chỉnh cả về nội dung và hình thức dành cho một nhóm đối tượng trong hoàn cảnh cụ thể nhăm hướng tới mục tiêu của chiến dịch truyền thông.

Do đó, truyền thông phải chú ý theo dõi để làm mới thông điệp cả về nội dung và hình thức. Mỗi thông điệp đều có mục đích riêng nhưng yêu cầu chung là phải phù hợp với chính sách của Dang, Nhà nước và các giá tri văn hóa — xã hội. Thông điệp có nhiều loại: Theo quan điểm của tác giả Nguyễn Văn 12 Dững và Đỗ Thị Thu Hằng, Truyén thông lý thuyết và kỹ năng cơ bản, có thé chia thông điệp thành 4 loại: (1) Thông điệp đích là thông điệp của cả chiến dịch truyền thông hướng tới; (2) Thông điệp cụ thé (thông điệp bộ phận) là loại thông điệp cấu thành thông điệp đích của chiến dịch truyền thông: (3) Thông điệp tài liệu là loại thông điệp an chứa trong các tài liệu, dữ liệu. Loại thông điệp này dễ nhận biết vì nó biểu hiện cụ thé, có thé nhìn thay bằng trực quan: (4) Thông điệp ẩn là loại thông điệp mà nhận biết nó cần phải tư duy tích cực, năng lực trừu tượng hoa, cảm nhận tinh tế, liên tưởng với những vấn đề kinh tế - văn hoá - xã hội đã và đang đặt ra.

Môi trường Thuật ngữ môi trường trong tiếng Anh là Environment, tiếng Hoa là Hoàn cảnh. Môi trường bao gom các yếu tô tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tôn tại, phát triển của con người và sinh vật [13, Điều 3]Theo nghĩa rộng nhất thì môi trường là tập hợp các điều kiện và hiện tượng bên ngoài có ảnh hưởng tới một vật thê hoặc sự kiện.Bất cứ một vật thể, một sự kiện nao cũng ton tại và diễn biến trong một môi trường. Tác giả Lê Văn Khoa (1995), Môi trường và ô nhiễm, Nxb. Giáo dục định nghĩa: Đối với cơ thể sống thì “Môi trường sống” là tổng hợp những diéu kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới đời sống và sự phát triển của cơ thể.8] Theo đó môi trường là tổng hợp các điều kiện sống của con người, phát triển là quá trình cải tạo và cải thiện các điều kiện đó.

Giữa môi trường và phát triển có mối quan hệ rất chặt chẽ và môi trường là địa bàn và đối tượng của phát triển. Môi trường bao gém tat cả những gì bao quanh sinh vật, tất cả các yếu tô vô sinh và hữu sinh có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên sự sống, phát triển và sinh sản của sinh vật" là nhận đình của Hoàng Đức Nhuận, (2000), Bảo vệ Môi trường. Giáo dục [17,tr. Theo tác giả, môi trường có các thành phan chính tác động qua lại lẫn nhau, trong đó: Môi trường tự nhiên bao gồm nước, không khí, đất đai, ánh sáng và các sinh vật.

Môi trường kiến tạo gồm những cảnh quan được thay đổi do con người. Môi trường không 13 gian gồm những yếu tố về địa điểm, khoảng cách, mật độ, phương hướng và sự thay đổi trong môi trường. Đối với con người, môi trường chứa đựng nội dung rộng. Theo định nghĩa của UNESCO (1981): Môi trường của con người bao gồm toàn bộ các hệ thong tự nhiên và các hệ thong do con người tao ra xung quanh mình, trong đó con người sống và lao động, họ khai thác các tài nguyên thiên nhiên và nhân tạo nhằm thỏa mãn những nhu cầu của mình.

Như vậy, môi trường sống đối với con người không chỉ là nơi tồn tại, sinh trưởng và phát triển cho một thực thé sinh vật và con người mà còn là “khung cảnh của cuộc sống, của lao động va sự vui chơi giải tri của con người”. Luật Bảo vệ Môi trường (BVMT) Việt Nam sửa đôi (2020) có định nghĩa: "Môi trường bao gồm các yếu tô vật chất tự nhiên và nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, kinh tế, xã hội, sự ton tại, phát triển của con người, sinh vật và tự nhiên ” [26]. Như vậy, các yếu tố vat chất tạo thành môi trường gồm dat, nước, không khí, sinh vật, âm thanh, ánh sáng và các hình thái vật chất khác bao quanh con người có quan hệ bé sung cho nhau và những yếu tố nay tác động đến con người về mọi mặt. Từ những khái niệm trên, có thé hiểu: Mồi trường là tập hợp các yếu to tự nhiên và xã hội bao quanh con người có ảnh hướng tới con người và tac động qua lại với các hoạt động sống của con người như: không khí, nước, đất, sinh vật, xã hội loài người.

Có thê thay, sự phân chia môi trường thành các loại chỉ dé phục vụ cho việc nghiên cứu và phân tích các hiện tượng phức tạp trong môi trường. Thực tế các loại môi trường cùng tồn tại, xen lẫn vào nhau, tương tác với nhau hết sức chặt chẽ và đều ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của con người. Môi trường sống của con người thường được phân chia thành các loại sau: Môi trường tự nhiên: Bao gồm các yếu tố tự nhiên như vật lý, hóa học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con người. Môi trường xã hội: Là tông thê các quan hệ giữa người và người tạo 14 nên sự thuận lợi hoặc khó khăn cho sự tồn tại và phát triển của các cá nhân và cộng đồng loài người.

Môi trường nhân tạo: Là tat cả các yếu tô tự nhiên, xã hội do con người tạo nên và chiu sự chi phối của con người. Như vậy, môi trường sống của con người theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sống, sản xuất của con người như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội,.Theo nghĩa hẹp, thì môi trường sống của con người chỉ bao gồm các nhân tổ tự nhiên và nhân tố xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống của con người. Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi tập trung nghiên cứu môi trường dưới góc độ tự nhiên và góc độ xã hội, nơi có tự nhiên tác động đến con người và nơi con người cùng những hành động của con người ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên. Truyền hình Thuật ngữ truyền hình (Television) có nguồn gốc từ tiếng Latinh và tiếng Hy Lạp.

Theo tiếng Hy Lạp, từ “Tele” có nghĩa là "ở xa" còn “videre” là "thấy được", còn tiếng Latinh có nghĩa là xem được từ xa.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Thông điệp môi trường trên truyền hình Đà Nẵng: Nghiên cứu thạc sĩ báo chí" khám phá cách mà các chương trình truyền hình tại Đà Nẵng truyền tải thông điệp về bảo vệ môi trường. Nghiên cứu này không chỉ phân tích nội dung và hình thức của các chương trình mà còn đánh giá tác động của chúng đến nhận thức của cộng đồng về vấn đề môi trường. Qua đó, bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của truyền thông trong việc nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, đồng thời cung cấp những thông tin hữu ích cho các nhà báo và nhà nghiên cứu trong lĩnh vực báo chí.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các nghiên cứu liên quan đến báo chí và truyền thông, hãy tham khảo các bài viết như Luận văn báo chí hà nội xóa đói giảm nghèo, nơi phân tích vai trò của báo chí trong việc giảm nghèo và nâng cao đời sống cộng đồng. Bạn cũng có thể đọc Luận văn thạc sĩ báo chí thông tin đối ngoại quốc phòng trên kênh truyền hình quốc phòng việt nam để hiểu thêm về cách truyền thông quốc phòng ảnh hưởng đến nhận thức xã hội. Cuối cùng, bài viết Luận văn thạc sĩ báo chí học báo chí với vấn đề tôn giáo trên địa bàn hà nội sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về vai trò của báo chí trong việc phản ánh các vấn đề tôn giáo tại Hà Nội. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và hiểu rõ hơn về vai trò của báo chí trong các lĩnh vực khác nhau.