Đặt vấn đề Mục tiêu nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu Chương 2: Tổng quan Tổng quan về tỉnh Bình Dương Tổng quan về các nguồn lực về kinh tế xã hội Bình Dương Tình hình phát triền ngành nghề nông thôn và các chính sách có liên quan trong thời gian qua tại tỉnh Bình Dương Chương 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu Cơ sở lý luận và các định nghĩa, khái niệm có liên quan Các phương pháp nghiên cứu được sứ dụng trong khóa luận Chương 4: Kết quá nghiên cứu và thảo luận Thực trạng chung một số ngành nghé nông thôn của tỉnh Bình Dương Sơ lược về mẫu điều tra Thực trạng sản xuất, kỹ thuật và tình hình hoạt động của các hộ sản xuất gốm sứ Ý kiến hộ sản xuất | Các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển bền vững nghề truyền thống gốm sứ Chương 5: Kết luận và kiến nghị Kết luận Đề nghị CHƯƠNG 2 TỎNG QUAN 2. Tổng quan về tỉnh Bình Dương 2.1 Vị trí địa lý — kinh tế Bình Dương là tỉnh vừa ở vùng Đông Nam Bộ vừa thuộc vùng phát triển kinh tế trọng điểm phía Nam; tổng điện tích tự nhiên 269.554,79ha, với 7 đơn vị hành chính là Thị Xã Thủ Dầu Một và 6 huyện (Thuận An, Dĩ An, Tân Uyên, Bến Cát, Phú Giáo và Dầu Tiếng). Ranh giới hành chính: Phía Bắc giáp tinh Bình Phước, phía Tây và Tây Bắc giáp tinh Tây Ninh, phía Đông giáp tinh Đồng Nai, phía Nam và Tây Nam giáp Thành phố Hồ Chí Minh. Dân số năm 2003 là 853.800 người, mật độ dân số bình quân 317 người/kmẺ.
Thuận lợi: Vùng kinh tế trọng điểm phía nam, với dân số năm 2003 là 10 triệu người ( chưa kể lượng khách vãng lai hàng năm từ 4 — 5 triệu lượt người/năm). Nên được đánh giá là thị trường tiêu thụ lớn nhất cả nước mà Bình Dương lại nằm ngay trong thị trường là hết sức thuận lợi cho việc tiêu thụ các sản phẩm hàng hoá được sản xuất từ các làng nghề. Nằmở trung tâm vùng kinh tế trọng điểm phía nam lại có hệ thống giao thông phát triển tốt nên việc cung cấp nguyên liệu cho Bình Dương phát triển công nghiệp nói chung và ngành nghề nông thôn nói riêng hết sức thuận lợi; góp phần giảm chỉ phí đầu vào, hạn chế hư hao nguyên liệu (nông sản),. tăng sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá, giúp cho hành hoá sản xuất tại Bình Dương tiếp cận thị trường dễ dàng hơn.
Trong mấy năm gần đây, Bình Dương có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất cả nước nên có cơ hội khá tốt trong việc mở rộng liên kết và hỗ trợ trong sản xuất, tư van kỹ thuật, đào tạo nguồn nhân lực, chuyển giao khoa học và công nghệ; nhất là những sản phẩm có hàm lượng kỹ thuật cao. Bình Dương nói riêng, các tỉnh vùng Đông Nam Bộ nói chung (đặc biệt là Thành Phố Hồ Chí Minh) là những tỉnh có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, nên khả —— <a năng huy động vốn từ nhiều nguồn cho phát triển ngành nghề nông thôn cũng là một điều kiện hết sức thuận lợi do vị trí địa lý — kinh tế mang lại. Vị trí địa lý — kinh tế của Bình Dương rất thuận lợi cho ngành du lịch dịch vụ phát triển; đây cũng là cơ hội để các ngành thủ công mỹ nghệ mở rộng quy mô sản xuắt, phục vụ nhu cầu càng ngày tăng của khách du lịch. Năm gần đô thị lớn và các thành phố công nghiệp nên Bình Dương có thể tận dụng những cơ sở hạ tầng hiện đại sẵn có như sân bay, bến cảng, bưu chính viễn thông, bãi điện,.
cho phát triển kinh tế nói chung và ngành nghề nông thôn nói riêng. Khó khăn Ngoài những thuận lợi nêu trên, vị trí địa lý của Bình Dương cũng mang lại không ít những khó khăn trở ngại đó là: Giá thuê mướn cho công nhân lao động, giá thuê hoặc sang nhượng đất tăng cao làm cho giá thành sản phẩm nói chung tăng cao, giảm sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá sản xuất tại Bình Dương trên thị trường. | Ở gần các đô thị lớn, công nghiệp phát triển mạnh nên các san phẩm ngành nghề nông thôn chịu sự cạnh tranh gay gắt bởi các sản phẩm cùng loại sản xuất bằng phương pháp công nghiệp. Do gần khu vực công nghiệp và đô thị, yêu cầu về bảo đảm môi trường rất khắc khe nên các cơ sở sản xuất bằng công nghệ lạc hậu không đáp ứng yêu cầu về bảo vệ môi trường buộc phải di đời hoặc ngưng sản xuất.
Đặc điểm tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên a. Khí hậu thời tiết Bình Dương nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới cận xích đạo — gió mùa, nhiệt độ trung bình 25,0°C — 27,0°C, tổng tích ôn lớn: 9,468°C — 9,684°C/năm, số giờ nắng theo hai mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài 158 — 179 ngày và chiếm trên 84% lượng mưa cả năm; mùa khô từ 131 — 155 ngày chiếm 12 — 15% lượng mưa cả năm; độ 4m không khí trung bình 79,75%. Tài nguyên đất Bình Dương có 7 nhóm đất phèn 996ha (chiếm 0,37%DTTN), nhóm đất phù sa 16.136ha (chiếm 5,99%DTTN), nhóm đất xám: 157.957ha (chiếm 60,58%DTTN), nhóm đất đỏ vàng: 67.633ha, chiếm 25,09%DTTN, nhóm đất dốc tụ: 19.075ha (chiếm 4 7,08% DTTN), nhóm đất xáo trộn: 2.323ha (chiếm 0,86% DTTN) và nhóm đất xói mòn trên sỏi đá 77ha chiếm 0,03% DTTN. Tài nguyên khoáng sản Bình Dương có nguồn tài nguyên khoáng sản tương đối đa dạng: nhất là khoáng sản phi kim loại có nguồn gốc magma trầm tích và phong hoá đặc thù.
Đây là nguồn cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp truyền thống và là thế mạnh của tỉnh là gốm sứ, gạch ngói. Binh Dương có 82 vùng mỏ lớn nhỏ của 9 loại khoáng sản là: sét, kaolin, đá phun trào andezit, đá tuf daxit, đá granit cát xây dựng, sỏi cudi va than bùn. Địa bàn phân bố thực trạng khai thác và trữ lượng tiềm năng của một số loại khoáng sản chủ yếu như sau: Sét là khoáng sản quan trọng ở Bình Dương có thé khai thác dé phát triển ngành nghề nông thôn: trữ lượng có khả năng khai thác: 157 triệu mỉ (trữ lượng triển vọng hơn 1 tỷ m’) cho phép dự tính công suất tiềm năng khai thác các mỏ sét có thé đạt đến 3 triệu m/năm. Chất lượng sét ở Bình Dương thuộc loại tết; ngoài tác dụng để san xuất các loại gạch ngói thông thường, sét ở Bình Dương còn có thể dùng để sản xuất những sản phẩm có giá trị kinh tế cao hơn như gốm sứ, gạch trang trí, gạch lát, làm phối liệu cho gốm sứ, làm phụ gia cho bột màu và các ngành khác.
Kaolin: Trữ lượng có khả năng khai thác là 40 triệu tấn (trữ lượng tiềm năng khoảng 320 triệu tấn). Trong số 23 mỏ kaolin đã đăng ký, hiện có 15 mỏ đã và đang được khai thác để cung cấp nguyên liệu chính cho các cơ sở sản xuất gốm sứ ở Bình Dương và các tỉnh lân cận. Kaolin được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực và nhiều ngành công nghiệp khác nhau như gốm sứ, công nghiệp sơn, công nghiệp màu, công nghiệp mỹ phẩm. Các loại đá xây dựng: phân bố chủ yếu ở huyện Dĩ An sản lượng dự kiến khai thác hàng năm khoảng 700 ngàn - 1 triệu mỶ, hoàn toàn có thể đáp ứng được nhu cầu xây dựng của tỉnh và một phần bán ra các tỉnh khác.
Cát xây dựng: chủ yếu phân bố ở các lòng sông Đồng Nai sông Sài Gòn, và sông Thị Tính; trữ lượng tiềm năng khoảng 25 triệu tấn. Tuy nhiên, sản lương khai thác sẽ không thể gia tăng nhiều bởi nếu khai thác quá mức sẽ làm sạt lở bờ sông, lòng sông mất trạng thái cân bằng; mặt khác, từ khi có đập Trị An và Dầu Tiếng nguồn cát. ở sông Đồng Nai và sông Sài Gòn không được bé sung nên đã và đang dan cạn kiệt.Đá phún (sỏi đỏ): Do đặc điểm địa hình và cấu tao địa chất nên nguồn đá phún được phân bố ở hầu khắp các huyện trong tỉnh; đây là nguồn nguyên liệu quan trọng trong phát triển giao thông nông thôn và giao thông nội đồng. Than bùn: phân bố rải rác ở các vùng bán lay thụt như Tân Uyên, Bến Cát,.
các mỏ này thường có quy mô nhỏ; một vài nơi, nông dân khai thác tận dụng làm phân bón song số lượng không đáng kể. Mỏ than bùn có quy mô lớn nhất là ở Tân Uyên diện tích: 85ha, trữ lượng khoảng: 1 triệu tấn hiện chưa được khai thác. Các loại khoáng san kim loại khác được phát hiện ở một vài nơi nhưng chỉ là dấu hiệu, ít có khả năng đưa vào khai thác. Hiện nay công tác điều tra đối với loại tài nguyên khoáng sản này chỉ dừng lại ở mức độ tìm kiếm, phát hiện, chưa đủ cơ sở để xây dựng quy hoạch khai thác.
Trong những năm qua, công tác thăm dò; khai thác khoáng sản hầu như chỉ tập trung chủ yếu ở khu vực phía nam của tỉnh, các huyện phía bắc ít được chú ý hơn; nên nhìn trên bản đồ khoáng sản tỉnh Bình Dương có vẻ như hầu hết các vùng mỏ chỉ tập trung ở các huyện phía nam. Song, với câu trúc địa chất tương tự như cấu trúc địa chất Ở phía nam cho thấy, khu vực phía bắc tỉnh cũng có nhiều triển vọng cho hoạt động khai thác khoáng sản, nhất là đối với sét và kaolin. Hy vọng, cùng với chương trình đi đời công nghiệp gốm sứ, gạch ngói, ngành địa chất Bình Dương sẽ tìm ra ngày càng nhiều những mỏ khoáng sản phục vụ tốt ngành công nghiệp này phát triển mạnh.Tài nguyên nước Tổng nguồn nước mặt ở 3 sông chính (Sông Bé, Sông Sài Gòn, Sông Đồng Nai) và hệ thống sông suối, hề đập của Binh Dương là khá lớn. Song phân bố không đều nên khả năng khai thác phục vụ sản xuất và đời sống còn nhiều hạn chế.
Trữ lượng nước ngầm ở Bình Dương được đánh giá ở mức từ trung bình đến nghèo, và phân thành 3 khu vực chứa nước như sau: Khu vực giàu nước ngầm: phân bố ở các xã ven sông Sài Gòn thuộc huyện Dầu Tiếng, một phần huyện Bến Cát. Khu vực nước ngầm có trữ lượng trung bình: Phân bố ở các huyện Thuận An, một phần Dĩ An, Thị Xã Thủ Dầu Một, một phần phía nam huyện Tân Uyên. Khu vực nghèo nước ngầm: Phân bố ở một phan các huyện Bến Cát, Phú Giáo và Bắc Tân Uyên. Tài nguyên sinh vật: Tài nguyên sinh vật ở Bình Dương khá phong phú và đa dạng: có thé chia ra các loại như sau: Lâm san: Tổng diện tích rừng ờ Bình Dương tính đến cuối năm 2003 còn 18.