CHƯƠNG 1 Chương đầu tiên nghiên cứu trình bày nội dung sơ lược về lý do chọn đề tài, mục :“ tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa và kết cấu đề tài. Mục tiêu chung là nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc chọn trường đại học của sinh viên đang theo học tại Trường Đại học Bà Rịa – Vũng Tàu, từ đó đề xuất một số hàm ý quản trị nhằm nâng cao việc chọn Trường Đại học Bà Rịa – Vũng Tàu của sinh viên. Đề tài nghiên cứu không những có ý nghĩa thuần túy về mặt khoa học mà còn có ý nghĩa quan trọng về mặt thực tiễn giúp các nhà quản trị đại học có những thông tin bổ ích về đối tượng sinh viên tiềm năng nhằm có những giải pháp thiết thực nâng cao chất lượng giáo dục, cải tiến công tác tư vấn tuyến sinh hiệu quả. ” Nội dung chương 2 tiếp theo sẽ trình bày cơ sở lý luận, lược khảo các nghiên cứu :“ có liên quan đến đề tài nghiên cứu.
Từ đó, mô hình lý thuyết được đề xuất cùng các giả thuyết nghiên cứu.” 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Một số khái niệm liên quan 2. Lựa chọn Khái niệm lựa chọn được các nhà kinh tế học, xã hội hay tâm lý học đưa ra các :“ quan điểm khác nhau: ” Theo quan điểm kinh tế học hành vi lựa chọn của con người bị chi phối bởi “động cơ đồng tiền” (Crossman, 2010), việc ra quyết định chọn lựa là do dựa trên đánh giá hiệu quả giữa các cơ hội. Do nguồn lực có hạn, và phải đạt mục tiêu cao nhất có thể nên việc lựa chọn là cơ hội tốt để cân nhắc, suy nghĩ, tính toán và lựa chọn phương án tối ưu nhất.
Vì vậy, lúc này người học sẽ đóng vai trò là một nhà đầu tư, vì thế người học cần có đầy đủ các phương án lựa chọn cơ hội học tập cho mình. Kết quả cuối cùng là hoàn thành chương trình đại học, được cấp bằng và có một công việc tốt. Nhưng để đạt được kết quả đó, có nhiều lựa chọn trường đại học trong đó chi phí đầu tư cho học tập để mang về những lợi ích mong đợi là một yếu tố cần cân nhắc (Barker 1962). Theo quan điểm xã hội học, một cá nhân khi ra quyết định phải có chủ ý và mục :“ đích riêng.
Họ phải luôn tính toán, cân nhắc để cùng một chi phí bỏ ra nhưng họ sẽ đạt được lợi ích cao nhất (Friedman và Hechter, 1988). Hành vi lựa chọn của một cá nhân nào đó xảy ra khi họ quan tâm đến hai yếu tố là “chi phí” và “ sự tưởng thưởng”. Giá trị của tưởng thưởng xứng đáng đóng rất quan trọng trong việc quyết định hành vi có được thực hiện hay không. Cụ thể là, cá nhân sẽ thực hiện hành động nếu kết quả là được khen thưởng, tán dương và ngược lại sẽ không hành động nếu biết hành vi đó sẽ dẫn đến kết quả bị phạt.
” Theo Lê Ngọc Hùng (2009): “lựa chọn là cách thức để cân nhắc, tính toán để quyết định sử dụng loại phương tiện hay cách thức tối ưu trong số những điều kiện hay cách thức hiện có để đạt được mục tiêu trong điều kiện khan hiếm các nguồn lực”. 7 Vì vậy, “lựa chọn” được hiểu là hành vi có cân nhắc, tính toán có chủ đích của con người khi hướng về một giải pháp hay một sự vật cụ thể trong điều kiện hạn chế nguồn lực nhằm đạt mục đích nào đó. Khái niệm ra quyết định Có rất nhiều nghiên cứu về khái niệm việc ra quyết định, nhưng trong đề tài nghiên cứu này tác giả chỉ đề cập đến định nghĩa của Harris (2008). Theo Harris (2008) thì: “việc ra quyết định chính là việc xác nhận và lựa chọn các vấn đề dựa trên giá trị của vấn đề đó và sự yêu thích của người ra quyết định.
Quá trình ra quyết định được ngụ ý rằng có nhiều sự lựa chọn được cân nhắc và trong mỗi trường hợp như vậy, chúng ta không chỉ nhận dạng ra nhiều giải pháp thay thế nhau mà còn phải chọn ra giải pháp đạt được đáp ứng được hai mục tiêu sau: Có khả năng thành công hoặc hiệu quả nhất. Chính đó là giải pháp đạt được mục tiêu, mong muốn, sở thích của chúng ta”. Việc chọn trường đại học Theo Jackson (1982), việc chọn trường đại học theo 3 giai đoạn: giai đoạn tùy :“ chọn, giai đoạn loại trừ và giai đoạn đánh giá. Theo đó, giai đoạn tùy chọn liên quan tới các tác động của xã hội tác động tới quá trình lựa chọn trường đại học.
Trong khi đó, giai đoạn loại trừ và đánh giá liên quan tới chi phí học cùng các đặc điểm của trường đại học. ” Nguyễn Minh Hà (2011) định nghĩa về việc chọn trường đại học là một “quá trình phức tạp, đa giai đoạn. Trong đó, một cá nhân phát triển những nguyện vọng để tiếp tục được giáo dục chính quy sau khi học trung học, tiếp theo sau đó bởi một quyết định theo học một trường đại học, cao đẳng cụ thể hoặc quá trình đào tạo của một tổ chức hướng nghiệp tiên tiến”. Đối với học sinh phổ thông Việt Nam, học sinh bắt đầu có nhu cầu tìm hiểu về việc chọn trường đại học, cao đẳng trong 3 năm từ lớp 10-12 tuỳ vào mức độ quan tâm của mỗi học sinh.
Học sinh chịu nhiều tác động từ nhiều phía như người thân trong nhà, bạn học; định hướng nghề nghiệp tương lai, bị tác động bởi truyền thông… để đi đến việc chọn một trường đại học, cao đẳng để tiếp tục việc học của mình. 8 Trong đề tài này, khái niệm chọn trường được hiểu là quyết định chọn trường đại :“ học để đăng ký dự thi sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông (THPT) của các em học sinh lớp 12, sau khi học đại học được gọi là sinh viên. Việc chọn trường là hành vi đã thực hiện của sinh viên khác với ý định chọn trường của học sinh khi chưa vào đại học. Quyết định chọn trường là hành động đã thực hiện nhằm thoả mãn ý định của mình.
Đối với sinh viên đại học thì đã có quyết định chắc chắn khác với học sinh THPT là chỉ có ý định lựa chọn. ” Hossler và cộng sự (1989) cho rằng: “Việc chọn trường đại học là một quá trình phức tạp và đa giai đoạn trong đó một cá nhân phát triển từ nguyện vọng tiếp tục theo học đại học sau khi tốt nghiệp THPT, cuối cùng là quyết định được xác lập bằng hành động cụ thể hướng đến chọn trường đại học, cao đẳng hoặc quá trình đào tạo của một tổ chức hướng nghiệp tiên tiến”. Nguyễn Thị Kim Chi (2018) nhấn mạnh rằng: “Việc chọn trường đại học của học sinh THPT được hiểu là khả năng hay dự định thực hiện quyết định lựa chọn một trường đại học. Quyết định lựa chọn trường đại học được xem xét ở khía cạnh là ý định lựa chọn một trường đại học nào đó để ghi danh của học sinh THPT”.
Tổng hợp từ những khái niệm trên, trong nghiên cứu này, việc chọn trường đại :“ học có thể hiểu đó là kết quả của sự lựa chọn các cơ sở giáo dục - đào tạo đáp ứng nhu cầu người học sau khi cân nhắc, tính toán từ nhiều nguồn thông tin khác nhau. Một số lý thuyết liên quan đến đề tài 2. Thuyết hành động hợp lý (TRA) Thuyết hành động hợp lý được Fishbein phát triển lần đầu vào năm 1967, sau :“ đó được hiệu chỉnh và bổ sung vào năm 1975 bởi Fishbein và Ajzen. Ngày nay, mô hình này đã trở thành nền tảng kiến thức phổ biến về hành vi người tiêu dùng.
Các tác giả lập luận rằng ý định hành vi dẫn đến hành vi và ý định được quyết định bởi thái độ của cá nhân đối với hành vi và sự ảnh hưởng của chuẩn mực chủ quan việc thực hiện các hành vi đó. Fishbein và Ajzen (1975) đã dẫn giải các thành phần trong mô hình TRA gồm: ” - Hành vi: là những hành động quan sát được của đối tượng/ khách hàng. “ ” 9 - Ý định hành vi: đo lường khả năng chủ quan của đối tượng/ khách hàng sẽ “ thực hiện một hành vi và có thể xem như một trường hợp đặc biệt của niềm tin. ” - Thái độ đối với một hành động hoặc hành vi, thể hiện những nhận thức tích :“ cực hay tiêu cực của cá nhân về việc thực hiện một hành vi, có thể được đo lường bằng tổng hợp của sức mạnh niềm tin và đánh giá niềm tin này (Hale, 2003).
Thái độ của mỗi cá nhân được đo lường bằng niềm tin và sự đánh giá đối với kết quả hành vi. ” - Chuẩn mực chủ quan là nhận thức của một cá nhân, với những người tham :“ khảo quan trọng của cá nhân đó cho rằng hành vi nên hay không nên được thực hiện. Chuẩn mực chủ quan được đánh giá thông qua 2 yếu tố cơ bản là: Mức độ ảnh hưởng từ thái độ của những người liên quan đối với việc mua sản phẩm/dịch vụ và động cơ của khách hàng làm theo mong muốn của những người liên quan. Thái độ của người liên quan càng mạnh và mối quan hệ với những người liên quan ấy càng gần gũi thì xu hướng mua của khách hàng càng bị ảnh hưởng nhiều.
” Thái độ hướng đến hành vi Ý định hành vi Hành vi Chuẩn mực chủ quan Hình 2.1: Mô hình thuyết hành động hợp lý (TRA) (Nguồn: Fishbein và Ajzen, 1975) Lý thuyết hành động hợp lý được sử dụng rộng rãi để giải thích nhiều các loại :“ hành vi ở các lĩnh vực, bối cảnh nghiên cứu khác nhau bằng cách bổ sung thêm các nhân tố mới. Ajzen (1991) gợi ý, các mô hình này có thể được bổ sung hay điều chỉnh bằng cách đưa thêm các nhân tố mới, miễn là các nhân tố mới đóng góp và giải thích ý định hành vi. Thuyết hành vi dự định (TPB) Thuyết hành vi dự định (TPB) của Ajzen (1991) được phát triển từ lý thuyết :“ TRA, lý thuyết này giải quyết được sự hạn chế của lý thuyết trước về việc cho rằng hành vi của con người là hoàn toàn do kiểm soát lý trí. Tương tự như lý thuyết TRA, 10 nhân tố chính trong lý thuyết hành vi có kế hoạch là ý định của cá nhân trong việc thực hiện hành vi.
Lý thuyết này được thêm vào thành phần “Kiểm soát hành vi cảm nhận” để hoàn thiện hơn mô hình TRA. ” Xu hướng hành vi lại là một hàm của 03 nhân tố: Thái độ, chuẩn chủ quan, kiểm :“ soát hành vi cảm nhận.