Tổng quan luận án

Công tác thông tin đối ngoại (TTĐN) được Đảng và Nhà nước Việt Nam xác định là bộ phận quan trọng của công tác tư tưởng và công tác đối ngoại. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và bùng nổ truyền thông, việc làm chủ thông tin giúp tăng cường hiểu biết lẫn nhau, củng cố niềm tin chiến lược và quảng bá hình ảnh quốc gia. Bước vào giai đoạn thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng với mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn 2045, yêu cầu đổi mới nội dung, phương pháp và nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền đối ngoại trở nên cấp thiết.

Khu vực Mỹ Latinh gồm 33 quốc gia, diện tích hơn 20 triệu km², dân số khoảng 630 triệu người, giàu tài nguyên thiên nhiên và có truyền thống quan hệ hữu nghị, ủng hộ Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử. Tuy nhiên, hoạt động TTĐN của Việt Nam qua kênh ngoại giao nhà nước (NGNN) tại khu vực này thời gian qua vẫn còn bộc lộ bất cập: nội dung chưa đáp ứng yêu cầu tình hình mới, phương thức chậm đổi mới, chưa tận dụng hiệu quả các phương tiện truyền thông hiện đại và chưa tương xứng với tiềm năng quan hệ chính trị sẵn có. Xuất phát từ thực tế đó, nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Hay đã thực hiện luận án tiến sĩ chuyên ngành Công tác tư tưởng (mã số 9 31 02 01) với đề tài: "Chất lượng thông tin đối ngoại của Việt Nam qua hoạt động ngoại giao nhà nước đối với khu vực Mỹ Latinh hiện nay".

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về chất lượng TTĐN qua hoạt động NGNN, từ đó đề xuất quan điểm và hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng TTĐN của Việt Nam qua kênh NGNN đối với khu vực Mỹ Latinh trong thời gian tới. Để thực hiện mục đích này, tác giả xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, chỉ ra kết quả kế thừa và xác định khoảng trống khoa học cần giải quyết;
  2. Làm rõ cơ sở lý luận về chất lượng TTĐN qua hoạt động NGNN, xây dựng bộ tiêu chí đánh giá chất lượng vận dụng cho khu vực Mỹ Latinh;
  3. Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng TTĐN và khái quát những vấn đề đặt ra đối với TTĐN qua hoạt động NGNN tại khu vực Mỹ Latinh từ năm 2016 đến nay;
  4. Đề xuất và luận giải cơ sở khoa học của các quan điểm, nhóm giải pháp nâng cao chất lượng TTĐN đối với khu vực Mỹ Latinh thời gian tới (giá trị áp dụng đến năm 2030).

Đối tượng nghiên cứu của luận án là chất lượng thông tin đối ngoại của Việt Nam qua hoạt động ngoại giao nhà nước đối với khu vực Mỹ Latinh. Phạm vi nghiên cứu được giới hạn như sau:

  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào chất lượng các thông tin, thông điệp của Việt Nam chuyển tải qua hoạt động NGNN nhằm nâng cao nhận thức, sự hiểu biết đúng đắn của nhân dân khu vực Mỹ Latinh về Việt Nam, huy động sự ủng hộ đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát thực trạng từ sau Đại hội lần thứ XII của Đảng (năm 2016) đến thời điểm nghiên cứu (năm 2023); các giải pháp đề xuất có định hướng áp dụng đến năm 2030.
  • Phạm vi không gian: Tập trung phân tích tại các địa bàn trọng điểm ở khu vực Mỹ Latinh nơi Việt Nam đã thiết lập Đại sứ quán, bao gồm 6 quốc gia: Argentina, Brazil, Cuba, Chile, Mexico và Venezuela.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả hệ thống hóa các công trình nghiên cứu đã công bố trong và ngoài nước theo ba nhóm chủ đề chính:

Nhóm 1: Các công trình nghiên cứu về thông tin và thông tin đối ngoại. Nhóm này gồm các công trình nghiên cứu của các tác giả quốc tế như Michael Schudson, Joseph S. Nye Jr, Doris A. Graber, Junhao Hong, Arnaud Mercier và các tác giả trong nước như Vũ Đình Hòe, Nguyễn Văn Dững, Phạm Minh Sơn, Lê Thanh Bình, Lương Khắc Hiếu... Các công trình đã làm rõ bản chất của truyền thông đại chúng, sức mạnh mềm, vai trò của thông tin trong quan hệ quốc tế và vị trí của TTĐN trong công tác tư tưởng.

Nhóm 2: Các công trình nghiên cứu về thông tin đối ngoại qua hoạt động ngoại giao nhà nước. Các công trình của các học giả Lenczowski John, Doris A. Cohen, Vũ Dương Huân, Lê Doãn Hợp, Phạm Bình Minh, Phạm Minh Sơn... đã phân tích mối quan hệ giữa thông tin và hoạt động ngoại giao chính thức, khẳng định ngoại giao nhà nước là kênh dẫn truyền thông tin chính thống quan trọng hàng đầu trong việc xây dựng hình ảnh quốc gia và bảo vệ lợi ích dân tộc.

Nhóm 3: Các công trình nghiên cứu về khu vực Mỹ Latinh và TTĐN của Việt Nam đối với khu vực này. Các tác giả Nguyễn An Ninh, Nguyễn Mạnh Hùng, Nguyễn Viết Thảo, Thùy Vân... đã tập trung phân tích đặc điểm chính trị, kinh tế, xã hội khu vực Mỹ Latinh, phong trào cánh tả và trào lưu "Chủ nghĩa xã hội thế kỷ XXI" tại các quốc gia như Venezuela, Bolivia, Ecuador, cũng như mối quan hệ hữu nghị truyền thống giữa Việt Nam với các nước Mỹ Latinh.

Khoảng trống nghiên cứu: Qua tổng quan tài liệu, tác giả chỉ ra rằng mặc dù các công trình đi trước đã làm sáng tỏ nhiều khía cạnh về đường lối đối ngoại, vai trò của TTĐN và tình hình khu vực Mỹ Latinh, nhưng số lượng công trình nghiên cứu chuyên sâu về TTĐN của Đảng và Nhà nước tại khu vực này còn rất hạn chế. Đặc biệt, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về chất lượng thông tin đối ngoại của Việt Nam qua hoạt động ngoại giao nhà nước đối với khu vực Mỹ Latinh dưới góc độ chuyên ngành Công tác tư tưởng. Đây chính là khoảng trống khoa học mà luận án tập trung giải quyết.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, gắn lý luận với tổng kết thực tiễn để làm sáng tỏ các vấn đề khoa học.

Hệ thống khái niệm và khung phân tích của luận án được xây dựng từ góc độ khoa học Công tác tư tưởng:

  • Thông tin đối ngoại: Là thông tin, thông báo, thông điệp về một sự việc, sự kiện, hiện tượng của quốc gia hướng tới đối tượng ngoài nước là chủ yếu nhằm đạt được nhận thức, thái độ, hành vi tích cực về quốc gia đó.
  • Thông tin đối ngoại qua hoạt động ngoại giao nhà nước: Là những thông tin, thông báo, thông điệp của quốc gia hướng tới đối tượng ngoài nước thông qua kênh ngoại giao chính thức của nhà nước, nhằm tạo sự đồng thuận quốc tế, nâng cao hình ảnh, uy tín và vị thế của quốc gia.
  • Chất lượng thông tin đối ngoại qua hoạt động ngoại giao nhà nước: Là mức độ đáp ứng các yêu cầu, mục tiêu về nhận thức, thái độ và hành vi tích cực của đối tượng tiếp nhận đối với quốc gia thông qua các thông điệp được chuyển tải trong hoạt động ngoại giao.

Tác giả xác định 4 tiêu chí cơ bản để đánh giá chất lượng TTĐN qua hoạt động NGNN:

  1. Tính chính xác, chân thực: Bảo đảm thông tin phản ánh đúng bản chất sự việc, tạo lập niềm tin chiến lược giữa các quốc gia;
  2. Tính thời sự, kịp thời: Cung cấp thông tin nhanh chóng, cập nhật kịp thời các chủ trương, sự kiện quan trọng;
  3. Tính định hướng và phục vụ có hiệu quả nhiệm vụ đối nội: Gắn kết thông tin đối ngoại với việc tạo thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ an ninh chính trị trong nước;
  4. Tính thuyết phục, phù hợp với đối tượng: Nội dung và hình thức truyền tải phù hợp với văn hóa, ngôn ngữ, trình độ và tâm lý tiếp nhận của công chúng khu vực Mỹ Latinh.

Chất lượng TTĐN chịu sự tác động của ba nhóm yếu tố: Tình hình thế giới và trong nước; Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về đối ngoại; Năng lực và hoạt động của các lực lượng làm công tác TTĐN.

Về phương pháp nghiên cứu thực tế, tác giả phối hợp các phương pháp nghiên cứu liên ngành:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Xử lý các văn kiện của Đảng, Nhà nước, văn bản chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Công tác thông tin đối ngoại Trung ương, Ban Tuyên giáo Trung ương, báo cáo của Bộ Ngoại giao, Ban Đối ngoại Trung ương và các tài liệu khoa học liên quan.
  • Phương pháp lịch sử và logic: Phân tích quá trình phát triển của quan hệ đối ngoại và công tác TTĐN của Việt Nam với khu vực Mỹ Latinh theo tiến trình lịch sử gắn với bối cảnh từng giai đoạn.
  • Phương pháp thống kê, so sánh, quan sát: Thống kê dữ liệu hoạt động đối ngoại, so sánh hoạt động TTĐN giữa các địa bàn để làm rõ tính đặc thù của khu vực Mỹ Latinh.
  • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Khảo sát xã hội học với cỡ mẫu $N = 360$ khách thể là cán bộ lãnh đạo, quản lý tại các cơ quan Đảng, cơ quan quản lý nhà nước và cán bộ nghiên cứu, giảng dạy liên quan đến lĩnh vực TTĐN.
  • Phương pháp chuyên gia (phỏng vấn sâu): Thực hiện phỏng vấn sâu $N = 8$ chuyên gia có nhiều năm kinh nghiệm công tác và nghiên cứu về khu vực Mỹ Latinh thuộc Ban Đối ngoại Trung ương, Bộ Ngoại giao, Bộ Công an và Thông tấn xã Việt Nam.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương 1 hệ thống hóa và phân loại các công trình khoa học trong và ngoài nước liên quan đến thông tin đối ngoại, hoạt động ngoại giao nhà nước và khu vực Mỹ Latinh.

Tác giả chỉ ra các thành tựu mà các nghiên cứu đi trước đã đạt được: khẳng định tính tất yếu khách quan của công tác TTĐN trong bối cảnh bùng nổ truyền thông; làm rõ đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa của Việt Nam; phân tích vai trò của phong trào cánh tả tại Mỹ Latinh đối với trào lưu tiến bộ xã hội. Đồng thời, chương này tổng kết những hạn chế chung của công tác TTĐN đã được các học giả trước đây chỉ ra, như quy mô còn khiêm tốn, nội dung thiếu chiều sâu, phương tiện bằng tiếng nước ngoài còn ít.

Từ việc đánh giá tổng quan, tác giả xác định luận án sẽ kế thừa phương pháp luận và cơ sở dữ liệu lý luận, đồng thời tập trung giải quyết vấn đề chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện: chất lượng TTĐN của Việt Nam qua kênh NGNN đối với khu vực Mỹ Latinh giai đoạn từ năm 2016 đến nay.

Chương 2: Những vấn đề lý luận về chất lượng thông tin đối ngoại qua hoạt động ngoại giao nhà nước

Chương 2 xây dựng hệ thống khái niệm và khung lý thuyết về chất lượng TTĐN qua hoạt động NGNN dưới góc độ khoa học Công tác tư tưởng.

Nội dung chương làm rõ:

  • Chủ thể của TTĐN: Theo nghĩa rộng gồm toàn bộ hệ thống chính trị, các cơ quan đại diện ở nước ngoài, doanh nghiệp và công dân Việt Nam. Theo nghĩa hẹp là lực lượng nòng cốt gồm Ban Chỉ đạo Công tác thông tin đối ngoại Trung ương, Ban Tuyên giáo Trung ương, Ban Đối ngoại Trung ương, Bộ Ngoại giao, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Công an, Bộ Giáo dục và Đào tạo... Trong đó, các cơ quan ngoại giao nhà nước giữ vai trò trung tâm trong việc truyền tải thông điệp chính thống của Nhà nước.
  • Đối tượng tiếp nhận: Chính khách, học giả, giới kinh doanh, báo chí, các tổ chức quốc tế, người Việt Nam ở nước ngoài và công chúng quốc tế.
  • Vai trò của TTĐN: Trong công tác tư tưởng (củng cố niềm tin, định hướng dư luận quốc tế, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái) và trong công tác đối ngoại (mở đường cho các hoạt động hợp tác, nâng cao hình ảnh và uy tín quốc gia).
  • 4 tiêu chí đánh giá chất lượng TTĐN qua NGNN: Tính chính xác, chân thực; tính thời sự, kịp thời; tính định hướng và phục vụ hiệu quả nhiệm vụ đối nội; tính thuyết phục, phù hợp với đối tượng.
  • Các nhân tố tác động: Tình hình quốc tế và trong nước; sự lãnh đạo của Đảng và tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh; năng lực của đội ngũ và mạng lưới các lực lượng làm công tác TTĐN.

Chương 3: Thực trạng và vấn đề đặt ra đối với chất lượng thông tin đối ngoại qua hoạt động ngoại giao nhà nước ở khu vực Mỹ Latinh hiện nay

Chương 3 phân tích đặc điểm địa - chính trị khu vực Mỹ Latinh (33 quốc gia, 630 triệu dân, chiếm 14,7% diện tích và 8% dân số thế giới, có các nền kinh tế lớn thuộc nhóm G20 như Brazil, Mexico, Argentina) và đánh giá thực trạng chất lượng TTĐN của Việt Nam tại khu vực này từ năm 2016 đến nay.

Đánh giá theo 6 kênh hoạt động ngoại giao nhà nước:

  • Ngoại giao cấp cao: Đạt chất lượng tốt về độ chuẩn xác và tính định hướng chính trị, song tần suất các chuyến thăm chưa nhiều và chưa liên tục.
  • Cơ quan đại diện Việt Nam ở sở tại: Đóng vai trò cầu nối trực tiếp nhưng mạng lưới còn rất mỏng (chỉ có 6/33 cơ quan đại diện ngoại giao và 3/33 cơ quan thông tấn báo chí thường trú trên toàn khu vực).
  • Tổ chức sự kiện đối ngoại: Triển khai ngày càng đa dạng nhưng số lượng và quy mô còn hạn chế.
  • Sự kiện xúc tiến đầu tư, thương mại, du lịch: Góp phần gia tăng trao đổi kinh tế song chất lượng thông tin chuyên sâu về thị trường còn thiếu.
  • Phát hành ấn phẩm, văn hóa phẩm: Đã có các tài liệu bằng tiếng Tây Ban Nha và tiếng Bồ Đào Nha, tuy nhiên số lượng còn ít, hình thức chưa phù hợp với thị hiếu văn hóa bản địa.
  • Báo chí và truyền thông quốc tế: Chưa thu hút được nhiều phóng viên, cơ quan báo chí có uy tín tại Mỹ Latinh tham gia viết bài, đưa tin về Việt Nam.

Đánh giá theo 4 trụ cột nội dung:

  1. Thông tin về quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước: Chuyển tải chính xác, đúng định hướng, tranh thủ được sự ủng hộ chính trị của các nước;
  2. Quảng bá hình ảnh đất nước, văn hóa, con người: Nội dung ngày càng sinh động nhưng chưa đều khắp;
  3. Đấu tranh phản bác thông tin xấu độc: Góp phần bảo vệ lập trường của Việt Nam, được bạn bè khu vực ủng hộ tại các diễn đàn đa phương;
  4. Thông tin về Mỹ Latinh vào Việt Nam: Độ bao phủ tăng lên, giúp công chúng trong nước hiểu rõ hơn về tình hình khu vực.
Kênh hoạt động ngoại giao Ưu điểm về chất lượng Hạn chế chính
Ngoại giao cấp cao Độ tin cậy cao, định hướng chính trị rõ nét, củng cố lòng tin chiến lược. Tần suất hoạt động chưa nhiều, chưa diễn ra thường xuyên.
Cơ quan đại diện ở sở tại Nắm bắt địa bàn, thông tin có trọng tâm, gắn kết cộng đồng. Lực lượng mỏng (6/33 nước), nội dung thường lồng ghép, thiếu chuyên trách.
Sự kiện đối ngoại Tạo không gian giao lưu văn hóa, chính trị trực tiếp. Quy mô và tần suất tổ chức còn khiêm tốn.
Xúc tiến kinh tế, thương mại Thúc đẩy kết nối doanh nghiệp, nâng kim ngạch trao đổi. Thiếu thông tin phân tích thị trường chuyên sâu và dữ liệu số hóa.
Ấn phẩm, văn hóa phẩm Cung cấp tư liệu bằng tiếng Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha. Số lượng ít, chủng loại đơn điệu, chưa bắt nhịp thị hiếu tiếp nhận.
Báo chí, truyền thông Kịp thời truyền tải thông điệp qua phóng viên quốc tế. Thiếu mạng lưới phóng viên uy tín sở tại, chưa tận dụng tốt mạng xã hội.

6 vấn đề đặt ra cần giải quyết:

  1. Công tác lãnh đạo, quản lý còn điểm bất cập, thiếu sự phối hợp đồng bộ giữa các lực lượng;
  2. Sự phối hợp giữa các kênh đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân chưa thường xuyên, nhịp nhàng;
  3. Mạng lưới tổ chức TTĐN tại Mỹ Latinh thiếu ổn định, chưa có bộ phận chuyên trách theo dõi địa bàn đặc thù;
  4. Đội ngũ cán bộ làm công tác TTĐN còn mỏng, trình độ chuyên môn, ngoại ngữ (tiếng Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha) và hiểu biết văn hóa sở tại còn hạn chế;
  5. Nội dung thông tin chưa đổi mới sâu sắc, còn nặng về thông tin sự vụ, thiếu bài viết phân tích mang tính định hướng dài hạn;
  6. Phương thức thông tin chậm đổi mới, thiếu phương tiện truyền thông số hiện đại.

Chương 4: Quan điểm và giải pháp nâng cao chất lượng thông tin đối ngoại của Việt Nam qua hoạt động ngoại giao nhà nước đối với khu vực Mỹ Latinh thời gian tới

Chương 4 dự báo bối cảnh tình hình (xác định 8 thuận lợi và 5 khó khăn, thách thức), từ đó đề xuất 5 quan điểm chỉ đạo và 5 nhóm giải pháp đồng bộ.

5 quan điểm chỉ đạo:

  1. Nâng cao chất lượng TTĐN nhằm huy động mọi nguồn lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước;
  2. Gắn nâng cao chất lượng TTĐN với việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam;
  3. Hướng vào việc bảo đảm các tiêu chí: tính chính xác, chân thực, tính kịp thời, tính định hướng và tính phù hợp đối tượng;
  4. Nâng cao chất lượng TTĐN phải gắn liền và dựa trên cơ sở nâng cao chất lượng hoạt động ngoại giao nhà nước;
  5. Phát huy hiệu quả các nguồn lực và phương tiện, đa dạng hóa thông tin phù hợp với đặc thù khu vực Mỹ Latinh.

5 nhóm giải pháp cụ thể:

  • Nhóm 1: Về lãnh đạo, quản lý: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước theo tinh thần Kết luận số 57-KL/TW ngày 15/6/2023 của Bộ Chính trị. Phát huy vai trò "nhạc trưởng" của Ban Chỉ đạo Công tác thông tin đối ngoại Trung ương (cơ quan thường trực là Ban Tuyên giáo Trung ương) trong việc điều phối lực lượng; tăng cường tính kế hoạch hóa và phối hợp giữa Bộ Ngoại giao, Ban Đối ngoại Trung ương, Bộ Thông tin và Truyền thông.
  • Nhóm 2: Về xây dựng đội ngũ cán bộ và cơ sở vật chất: Tăng cường số lượng và chất lượng cán bộ ngoại giao phụ trách khu vực Mỹ Latinh; đổi mới công tác đào tạo kỹ năng truyền thông, nghiệp vụ ngoại giao và ngoại ngữ chuyên sâu (tiếng Tây Ban Nha, tiếng Bồ Đào Nha); trang bị phương tiện kỹ thuật hiện đại, bảo đảm cơ chế tài chính đặc thù để sản xuất các sản phẩm truyền thông phục vụ địa bàn; tăng cường phối hợp giữa cơ quan trong nước và cơ quan đại diện ở sở tại.
  • Nhóm 3: Về đổi mới nội dung thông tin: Thiết kế nội dung tinh gọn, có hàm lượng thông tin cao, tập trung vào các giá trị cốt lõi; xây dựng hình ảnh Việt Nam hòa bình, đổi mới, năng động và là đối tác tin cậy; chủ động theo dõi dư luận và nâng cao chất lượng dự báo để kịp thời cung cấp thông tin đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái.
  • Nhóm 4: Về đổi mới phương thức thông tin: Tận dụng tối đa các phương tiện truyền thông số, cổng thông tin điện tử, mạng xã hội và ứng dụng di động; đa dạng hóa hình thức tuyên truyền sinh động, trực quan; xây dựng mạng lưới cộng tác viên gồm các học giả, chuyên gia, phóng viên uy tín và kiều bào tại các nước Mỹ Latinh.
  • Nhóm 5: Về tăng cường hợp tác quốc tế: Thiết lập cơ chế trao đổi thông tin thường xuyên giữa các cơ quan truyền thông của Việt Nam với các cơ quan báo chí, thông tấn khu vực Mỹ Latinh; tổ chức các chương trình trao đổi nghiệp vụ, bồi dưỡng, tập huấn và hội thảo khoa học quốc tế song phương và đa phương.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án mang lại những kết quả và đóng góp mới cụ thể về mặt lý luận và thực tiễn:

Về mặt lý luận:

  • Từ góc độ khoa học Công tác tư tưởng, luận án hệ thống hóa cơ sở lý luận về TTĐN qua kênh ngoại giao nhà nước, xác định rõ các khái niệm công cụ và làm sáng tỏ bản chất của chất lượng TTĐN.
  • Xây dựng hệ thống 4 tiêu chí đánh giá chất lượng TTĐN qua hoạt động NGNN (tính chính xác, tính kịp thời, tính định hướng, tính thuyết phục/phù hợp đối tượng), tạo công cụ khoa học để đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp.

Về mặt thực tiễn:

  • Luận án cung cấp bức tranh toàn diện, có căn cứ khoa học và số liệu thực tế về thực trạng chất lượng TTĐN của Việt Nam tại 6 quốc gia trọng điểm khu vực Mỹ Latinh (Argentina, Brazil, Cuba, Chile, Mexico, Venezuela) từ năm 2016 đến năm 2023.
  • Chỉ ra 6 nhóm vấn đề đặt ra và nguyên nhân của những hạn chế trong công tác TTĐN qua kênh NGNN tại địa bàn xa xôi, có sự khác biệt về văn hóa và ngôn ngữ.
  • Đề xuất hệ thống 5 quan điểm và 5 nhóm giải pháp đồng bộ có tính khả thi đến năm 2030, giúp hiện thực hóa các chủ trương của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIII, Kết luận 57-KL/TW) vào thực tiễn địa bàn Mỹ Latinh.

Kiến nghị chính sách:

  • Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham mưu trực tiếp cho Ban Chỉ đạo Công tác thông tin đối ngoại Trung ương, Ban Tuyên giáo Trung ương, Ban Đối ngoại Trung ương, Bộ Ngoại giao, Bộ Thông tin và Truyền thông trong việc hoạch định chính sách, xây dựng đề án thông tin đối ngoại đối với khu vực Mỹ Latinh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Do nguồn tài liệu nghiên cứu chuyên sâu về TTĐN của Việt Nam tại khu vực Mỹ Latinh còn khan hiếm, việc thu thập dữ liệu thứ cấp gặp nhiều khó khăn.
  • Về phạm vi không gian, luận án chỉ tập trung khảo sát sâu tại 6 quốc gia đã mở Đại sứ quán Việt Nam trong tổng số 33 quốc gia của khu vực Mỹ Latinh, do đó chưa bao quát hết đặc điểm của toàn bộ các tiểu vùng (như vùng Caribe hay Trung Mỹ).
  • Giới hạn thời gian khảo sát thực trạng từ năm 2016 đến năm 2023, gắn với các sự kiện chính trị trong giai đoạn này.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các quốc gia kiêm nhiệm hoặc chưa có cơ quan đại diện thường trú của Việt Nam tại Mỹ Latinh.
  • Đi sâu nghiên cứu cơ chế phối hợp giữa ngoại giao nhà nước với đối ngoại nhân dân và đối ngoại Đảng trong hoạt động truyền thông số tại khu vực Mỹ Latinh.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị khoa học và ứng dụng thực tiễn đối với nhiều nhóm đối tượng:

  • Cơ quan lãnh đạo, quản lý và hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ thực tiễn cho Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Ngoại giao, Ban Đối ngoại Trung ương và Ban Chỉ đạo Công tác thông tin đối ngoại Trung ương trong việc xây dựng kế hoạch tuyên truyền đối ngoại dài hạn đối với địa bàn các nước Mỹ Latinh.
  • Cán bộ ngoại giao và cán bộ làm công tác tư tưởng: Cung cấp cẩm nang tham khảo về đặc thù tiếp nhận thông tin của công chúng Mỹ Latinh, các tiêu chí đánh giá chất lượng sản phẩm TTĐN và kỹ năng ứng dụng công nghệ truyền thông hiện đại vào hoạt động đối ngoại.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên: Sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy các môn học thuộc chuyên ngành Công tác tư tưởng, Chính trị học, Ngoại giao và Quan hệ quốc tế tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và các cơ sở đào tạo chuyên ngành.

Câu hỏi thường gặp

1. Khách thể khảo sát thực tế và chuyên gia tham gia nghiên cứu của luận án gồm những ai? Luận án tiến hành khảo sát xã hội học bằng bảng hỏi đối với 360 cán bộ lãnh đạo, quản lý các cơ quan Đảng, cơ quan quản lý nhà nước cùng các cán bộ nghiên cứu, giảng dạy về TTĐN. Đồng thời, tác giả thực hiện phỏng vấn sâu 8 chuyên gia giàu kinh nghiệm công tác tại địa bàn Mỹ Latinh thuộc Ban Đối ngoại Trung ương, Bộ Ngoại giao, Bộ Công an và Thông tấn xã Việt Nam.

2. Luận án xác định những tiêu chí nào để đánh giá chất lượng thông tin đối ngoại qua ngoại giao nhà nước? Tác giả xây dựng 4 tiêu chí cốt lõi: (1) Tính chính xác, chân thực; (2) Tính thời sự, kịp thời; (3) Tính định hướng và phục vụ có hiệu quả nhiệm vụ đối nội; (4) Tính thuyết phục, phù hợp với đối tượng.

3. Phạm vi không gian của luận án tập trung vào những quốc gia cụ thể nào tại Mỹ Latinh? Luận án tập trung vào 6 quốc gia trọng điểm đã thiết lập Đại sứ quán Việt Nam gồm: Argentina, Brazil, Cuba, Chile, Mexico và Venezuela.

4. Đâu là những nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến hạn chế của TTĐN Việt Nam tại Mỹ Latinh? Nguyên nhân gồm: khoảng cách địa lý xa xôi; sự khác biệt lớn về văn hóa, ngôn ngữ và lối sống; lực lượng chuyên trách ở sở tại rất mỏng (6/33 cơ quan đại diện ngoại giao, 3/33 cơ quan thông tấn báo chí); nguồn lực đầu tư về kinh phí và cơ sở vật chất chưa tương xứng; rào cản từ sự khác biệt trong chính sách và cơ chế kiểm soát truyền thông của một số nước sở tại.

5. Luận án đề xuất những ngôn ngữ thông dụng nào cần tăng cường đào tạo cho cán bộ làm TTĐN tại địa bàn Mỹ Latinh? Luận án đề xuất tập trung đào tạo nâng cao năng lực ngoại ngữ cho đội ngũ cán bộ với 3 ngôn ngữ chính: tiếng Tây Ban Nha, tiếng Bồ Đào Nha và tiếng Anh.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Văn Hay đã giải quyết thành công một vấn đề lý luận và thực tiễn cấp thiết trong công tác tư tưởng và đối ngoại của Việt Nam đối với khu vực Mỹ Latinh. Bằng việc kết hợp phương pháp luận mác xít với các phương pháp nghiên cứu định tính và điều tra xã hội học, công trình đã xác lập bộ tiêu chí đánh giá chất lượng TTĐN qua kênh ngoại giao nhà nước, đồng thời phản ánh chân thực thực trạng tại 6 quốc gia địa bàn trọng điểm giai đoạn 2016 - 2023. Hệ thống 5 quan điểm chỉ đạo và 5 nhóm giải pháp được luận chứng khoa học trong luận án cung cấp căn cứ trực tiếp cho việc đổi mới nội dung, phương thức TTĐN của Việt Nam đến năm 2030, góp phần thắt chặt quan hệ hữu nghị truyền thống và nâng cao uy tín quốc tế của đất nước tại khu vực Mỹ Latinh.