CHƯƠNG 1 NHỮNG CƠ SO CUA SÁCH LƯỢC “DĨ BAT BIEN UNG VAN BIEN” TRONG QUAN HE QUOC TE Ngày 31-5-1946, trước khi di Pháp, Chu tịch Hồ Chí Minh nói với cụ Huỳnh Thúc Kháng rằng: “Tôi vì nhiệm vụ quốc dân giao phó phải di xa it lâu, ở nhà trăm sự khó khăn nhờ cậy ở Cụ cùng anh em giải quyết cho. Mong Cu di bắt biến ứng vạn biến” [53, tr. Thau suốt tư tưởng chỉ đạo của Hồ Chủ tịch, Cụ Huỳnh đã giải quyết suôn sẻ, hiệu quả, hợp lòng dân mọi sự cố gay can ở trong nước. Từ ngày đấy trở đi, sách lược “di bất biến ứng van biến” đã trở thành một trong những sách lược quan trọng của ngành đối ngoại của Việt Nam.
Với một số câu hỏi đặt ra như: sách lược này đã được hình thành trên cơ sở nào? Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sách lược này như thế nào trong chỉ đạo công tác ngoại giao của Việt Nam trong những ngày đầu dau tranh giành độc lập và thong nhất đất nước của dân tộc? Chương một của luận văn sẽ tập trung phân tích một số nội dung chính sau: 1.Nhận thức chung về sách lược “dĩ bất biến ứng vạn biến” 1. Khái niệm di bất biến ứng vạn bién” trong tư twéng phương Đông Xét về thực chất, câu "Dĩ bất biến ứng vạn biến" chỉ là một về trong đôi câu đối hoàn chỉnh. Về thứ hai trong câu đó chính là "Dĩ chúng tâm vi kỷ tâm" (Lay tâm chúng sinh làm tâm của minh) trong nền văn hóa, triết học phương Dong [31, tr. “Dĩ bat biến ứng vạn biến” trong tư tưởng phương Đông là một nhận thức quan trọng — đó là mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, tỉnh thần và tự nhiên.
Một mặt thì vật chất và ý thức không tách rời nhau. Không có vật chất 11 thì cũng chăng có ý thức. Ngược lại, không có ý thức thì vật chất như thế nào ta cũng không biết. Mặt khác, không chỉ có vật chất, giới tự nhiên, luôn vận động mà ý thức, tinh thần cũng luôn vận động.
Hai cái luôn vận động như vậy, phải làm thế nào để nắm bắt, nhận thức được cái thứ hai. Đứng trước vẫn đề này triết học Phương Đông đã đưa ra giải pháp như là tập trung tư tưởng, giữ cho tâm yên tĩnh, tinh táo. Nhu vậy, van dé mà triết học phương Đông dé cập đến ở đây là dùng cái tĩnh trong sáng được tập trung cao độ dé năm bắt cái động, “di biến bat biến ứng vạn biến”. Dĩ bất biến ứng vạn biến tức là lay cái bất biễn (không thay đổi) mà ứng phó với cái vạn biến (cái luôn thay đổi).
Day là một van đề khá lý thú so với nhận thức thông thường. Theo triết học phương Đông, giữa cái "bất biến" và cái “vạn biến" có môi quan hệ giữa biện chứng. Mối quan hệ giữa bat biến và vạn biến, giữa cái không thay đôi và cái thay đối, giữa bản thé và hiện tượng, giữa cái nhất (cái một) và cái đa (cái nhiều),. là van đề trung tâm của triết học xuyên suốt từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây.
Đây là một tư tưởng hết sức sâu sắc của triết học, xuất phát từ quan niệm vạn vật sinh hoá đều do điều lý (quy luật) chi phối, nếu nắm được điều lý của vũ trụ thì có thé điều khiển được mọi biến hoá của trời đất (hiện tượng), nghĩa là có thể lấy cái bất biến chế ngự được cái vạn biến, lấy tĩnh chế động, lay nhu thắng cương. Ý nghĩa triết lý trên là ở chỗ dù mọi sự vật hiện tượng thiên sai vạn biệt, phong phú, đa dạng, thay đổi khôn lường nhưng đều xoay quanh trục của nó, đó là ban thé, cái mà Trang Tử gọi là "Chót của đạo" [31,tr. Trong mối quan hệ giữa ban thé và hiện tượng thì ban thé là bất biến, không sinh không diệt; còn các hiện tượng biến chuyển không ngừng nay còn mai mat, trong mỗi nền triết học, cái bất biến — bản thé không thêm không bớt này được gọi bằng những cái tên khác nhau, chắng hạn như “Brahman” trong triết 12 học Ấn Độ, “Đạo” trong học thuyết Lão Trang, “Thai cực” trong Kinh dich, “vật chất” trong chủ nghĩa duy vật , “tâm” trong chủ nghĩa duy tâm”. Phép biện chứng duy vật thường chú trọng nhiều hơn về trình bày sự phát triển biện chứng của sự vật, coi mâu thuẫn, vận động là tuyệt đối, thông nhất, đứng im là tương đi.
Trong thực tế vận dụng, đôi khi chúng ta lại có phần coi nhẹ, thậm chí bỏ qua cái "bất biến" (tức là cái thống nhất, đứng im vôn là điêu kiện tôn tại của sự vật). Triết lý "Dĩ bat biến ứng vạn biến" còn một khía cạnh nhận thức luận khá quan trọng mà ít người bàn tới. Theo nghĩa đen: Dĩ bất biến ứng vạn biến là, lấy cái động đối phó với cái “manh động”, theo nghĩa bóng: Người hay là người bình tĩnh sáng suốt, lập trường vững chắc thì có thể đối phó được mọi sự thay đổi xung quanh mình. Phép biện chứng duy vật Mác xít cũng đề cập đến các cặp mâu thuẫn và thống nhất, vận động và đứng im, nhưng mối quan hệ giữa bất biến và vạn biến trong phép biện chứng của Hồ Chí Minh có nguồn gốc chủ yếu từ trong triết học phương Đông và Việt Nam.
Xưa Lý Thánh Tông, khi đi lo việc biên cương ở phương Nam, có dặn lại nhiếp chính Y Lan: "Vạn biến như lôi, nhất tâm thiền định" [31, tr.256 ], ý nói cứ lẫy nhất tâm bắt biến (là một lòng lo giữ việc nước) thì có thể đối phó với vạn biến (dù có dit dội như sâm sét). Cái bất biến trong nhận thức chính là cái tâm bình tĩnh, tỉnh táo, trong sáng, sáng suốt, minh man. Với cái tâm nay (bất biến) thi có thé ứng với cái vạn biến, tức nhìn nhận sự vật hiện tượng biến đổi bên ngoài rõ rang hon, khách quan hơn, đúng đắn hơn. Không thể nhìn vạn vật một cách chính xác, khách quan khi cái tâm đầy dục vọng, tham vọng đen tối, đầy cá nhân ích kỷ.
Triết học phương Đông ví cái tâm bất biến như mặt hồ phăng lặng, yên tĩnh, trong veo, không một gợn sóng, từ đó những viên cuội dưới đáy hồ cũng hiện 13 lên rõ ràng; còn cái tâm đây dục vọng đen tôi, chao đảo, giông như mặt hô nôi sóng, cát bụi mù mit, bởi vậy, nhìn sự vật hiện tượng dưới day hồ không rõ, tức không nhìn ra đặc biệt là bản chất của sự vật hiện tượng. Vậy "di bất biến ứng vạn biến" theo cách nói của triết học Phương Đông, có thé hiểu "bat biến" là quy luật, vì chỉ có quy luật (tự nhiên, xã hội, tư duy) là tồn tại lâu đài, là hầu như bất biến, còn "vạn biến" là hiện tượng, là sự biểu hiện đa dạng của quy luật, cho nên có thể đưa vào quy luật mà lý giải hiện tượng hay ngược lại, từ phân tích vô vàn hiện tượng có thé tìm ra quy luật tương ứng. Ý nghĩa nhân sinh sâu xa của triết lý này còn là ở chỗ, trong cuộc sông nên nắm giữ cái lớn lao, đừng có sa vào những cái vụn vặt nhất thời, nên đứng ở chốt (cái bất biến) mà quan sát, từ đó dung hòa, quân bình vạn vật. Những bậc thánh nhân luôn đứng ở cái bat biến mà quan sát cái vạn biến, dùng bất biến ứng phó với cái vạn biến, do đó mà thánh nhân trường cửu (bất biến).
Không năm được cái bất biến mà suốt đời cứ chạy theo cái vạn biến thì cả đời mõi mệt [31, tr. Khái niệm “dĩ bất biến ứng vạn biến” trong tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh Dĩ bắt biến ứng vạn biến là một phương pháp ngoại giao rất đặc sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bắt nguồn từ triết lý phương Đông và đã được cha ông ta vận dụng tài tình trong bao thế kỷ đấu tranh dựng nước và giữ nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu và tiếp tục phát triển, đã vận dụng hiệu quả và sáng tạo triết lý và kinh nghiệm “lấy cái không thể thay đổi để ứng phó với muôn sự thay doi” [20, tr.367] dé chỉ đạo cách mạng Việt Nam vượt qua những giai đoạn khó khăn, dé bảo vệ nhà nước và chính quyền cách mạng Việt Nam non trẻ, dé tranh thủ mọi cơ hội có thé được nhằm cứu van hoà bình, xây dựng thế và lực sẵn sàng đối phó và khắc phục mọi thử thách. 14 Người chỉ rõ: “Nguyên tắc của ta thì phải vững chắc, nhưng sách lược của ta thì linh hoạf”°.
Linh hoạt trên cơ sở giữ vững nguyên tắc dé vừa đảm bảo giữ vững được nguyên tắc, vừa thực hiện được lợi ích của quốc gia dân tộc. Cái bất biến trong hoạt động đối ngoại là chủ quyền quốc gia và lợi ích dân tộc. Vì thế, muốn “ứng vạn biến” thì phải xác định được giới hạn của nhân nhượng, đánh giá đúng về mình và đối tác, về chiều hướng chuyên biến của so sánh lực lượng, về cái thuận và nghịch của tình hình quốc tế trong từng giai đoạn và thời điểm cụ thể, từ đó xác định bước đi thích hợp. Thực hiện “dĩ bất biến ứng vạn biến” trong hoạt động đối ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh là nắm vững mục tiêu, bản lĩnh vững vàng, quyết đoán khôn khéo, mau lẹ và kịp thời để ứng phó thích hợp với từng hoàn cảnh, từng tình thế, từng đối tượng trong từng trường hợp và vấn đề cụ thể.
Dĩ bất biến ứng vạn biến trong hoạt động đối ngoại là sự kết hợp hài hoà giữa mềm dẻo và kiên quyết, giữa chiến lược và sách lược, giữa chủ động và sáng tạo trong tấn công ngoại giao, trong nhận biết, tạo dựng và năm bắt cơ hội dé bảo vệ và thực hiện tốt nhất lợi ích của quốc gia, dân tộc. Cái bất biến ở Hồ Chí Minh tập trung ở bốn yếu tố liên hệ mật thiết với nhau, không tách rời nhau, đó là độc lập, tự do, hạnh phúc, dân chủ. Điều này thê hiện rõ trong câu đầu tiên trên mọi văn bản từ khi lập quốc: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa/ Độc lập - Tự do - Hạnh phúc. Nước Việt Nam là một nước dân chủ, nước độc lập, mọi người được tự do, hạnh phúc.
Trước hết là độc lập, bởi lẽ néu không có độc lập, tức bị vong quốc, mất nước, đất nước trong cảnh nô lệ lầm than thì làm gi có tự do, lấy đâu ra tự do, hạnh phúc, dân chủ. Chính vì vậy, nước bị mất độc lập thì việc đầu tiên là phải giành cho bằng được độc lập, và trong hoàn cảnh như vậy, độc lập cho đất nước là cái bất biến số một hàng dau.