Chương 1 CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG CỦA CÁC ĐẢNG BỘ QUẬN Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. CÁC QUẬN VÀ ĐẢNG BỘ CÁC QUẬN Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 1. Tình hình, đặc điểm và vai trò các quận ở TP. Hồ Chí Minh - Điều kiện địa lý, tự nhiên, dân số: Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố đông dân nhất, đồng thời cũng là trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục quan trọng của Việt Nam.
Thành phố Hồ Chí Minh có diện tích 2.7 km² , chiếm 0,67% diện tích của cả nước; có toạ độ 10°10' - 10°38' Bắc và 106°22' - 106°54' Đông, phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh, Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang. Nằm ở miền Nam Việt Nam, TP. Hồ Chí Minh cách Hà Nội 1.730 km theo đường bộ, trung tâm thành phố cách bờ biển Đông 50 km theo đường chim bay. Với vị trí tâm điểm của khu vực Đông Nam Á, TP.
Hồ Chí Minh là một đầu mối giao thông quan trọng về cả đường bộ, đường thủy và đường không, nối liền các tỉnh trong vùng và còn là một cửa ngõ quốc tế. - Về địa lý khí hậu, thủy văn, nằm ở vùng hạ lưu hệ thống sông Ðồng Nai - Sài Gòn, TP. Hồ Chí Minh có mạng lưới sông ngòi kênh rạch rất đa dạng. Sông Ðồng Nai bắt nguồn từ cao nguyên Lâm Viên, hợp lưu bởi nhiều sông khác, có lưu vực lớn trở thành nguồn nước ngọt chính của thành phố.
Sông Sài Gòn bắt nguồn từ vùng Hớn Quản, với chiều dài 200 km và chảy dọc trên địa phận thành phố dài 80 km. Một con sông nữa của TP. Hồ Chí Minh là sông Nhà Bè, hình thành ở nơi hợp lưu hai sông Đồng Nai và Sài Gòn, chảy ra biển Đông bởi hai ngả chính Soài Rạp và Gành Rái; trong đó, Gành Rái chính là đường thủy chính cho tàu ra vào bến cảng Sài Gòn. 10 Ngoài các con sông chính, TP.
Hồ Chí Minh còn có một hệ thống kênh rạch chằng chịt như: Láng The, An Hạ, Tham Lương, Nhiêu Lộc-Thị Nghè, Bến Nghé, Lò Gốm, Kênh Tẻ, Kênh Ðôi. đã giúp cho TP. Hồ Chí Minh trong việc tưới tiêu và sản xuất nông nghiệp. Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, TP.
Hồ Chí Minh có nhiệt độ cao đều trong năm và hai mùa mưa - khô rõ rệt. Mùa mưa được bắt đầu từ tháng 5 tới tháng 11, còn mùa khô từ tháng 12 tới tháng 4 năm sau. Trung bình, TP. Hồ Chí Minh có nhiệt độ trung bình 27 °C, cao nhất lên tới 40 °C, thấp nhất xuống 13,8 °C.
Lượng mưa trung bình của thành phố đạt 1.949 mm/năm nhưng trên phạm vi không gian thành phố, lượng mưa phân bố không đều, khuynh hướng tăng theo trục Tây Nam - Ðông Bắc. Các quận nội thành và các huyện phía Bắc có lượng mưa cao hơn khu vực còn lại. Về mặt hành chính, sau những biến động về lịch sử và thay đổi về quy hoạch kinh tế xã hội, hiện TP. Hồ Chí Minh bao gồm 19 quận và 5 huyện.
Khu vực nội thành gồm 19 quận: 1, 3, 4, 5, 6, 8, 10, 11, Bình Thạnh, Gò Vấp, Tân Bình, (nội thành cũ) và các quận: 2, 7, 9, 12, Thủ Đức, Bình Tân, Tân Phú, (nội thành mở rộng) với diện tích 494,95 km² và bao gồm 259 phường. Theo kết quả điều tra dân số chính thức vào thời điểm 0 giờ ngày 1 tháng 4 năm 2009 thì dân số thành phố là 7.864 người (chiếm 8,34% dân số Việt Nam), gồm 1.086 hộ dân, bình quân 3,95 người/hộ mật độ trung bình 3.419 người/km². Phân theo giới tính: Nam có 3.734 người chiếm 47,97%, nữ có 3.130 người chiếm 52,03%. Dân số của 19 quận chiếm 82,25 % dân số của thành phố.
Tuy nhiên nếu tính những người cư trú không đăng ký thì dân số thực tế của thành phố vượt trên 8,3 triệu người. Trong đó, 82,25% dân cư sống trong khu vực thành thị và TP. Hồ Chí Minh cũng có gần một phần năm là dân nhập cư từ các tỉnh khác. 11 Quận Bình Tân có dân số lớn nhất với 572.796 người, tương đương với dân số một số tỉnh như: Quảng Trị, Ninh Thuận; Sự phân bố dân cư ở TP.
Hồ Chí Minh không đồng đều, ngay cả các quận nội thành. Trong khi các quận 3, 4, 5 hay 10, 11 có mật độ lên tới trên 40.000 người/km² thì các quận 2, 9, 12 chỉ khoảng 2.000 người/km². Về mức độ gia tăng dân số, trong khi tỷ lệ tăng tự nhiên 1,07% thì tỷ lệ tăng cơ học lên tới 1,9%. Trải qua hơn 300 năm hình thành và phát triển, Sài Gòn – TP.
Hồ Chí Minh đã có nhiều biến động, thay đổi lớn lao. Từ một địa danh hành chính thời phong kiến rồi thành phố Sài Gòn được thành lập dưới chế độ thuộc địa đến TP. Hồ Chí Minh - một đô thị lớn nhất nước ta hiện nay, là cả một quá trình đấu tranh xây dựng và phát triển không ngừng. - Đặc điểm tình hình kinh tế-xã hội: Về lịch sử: Hơn 300 năm trước, TP.
Hồ Chí Minh là những bãi sình lầy, hoang vu; ban đầu được gọi là Prey Nokor, một làng chài và hải cảng quan trọng của người Khmer, trước khi người Việt sáp nhập vào thế kỷ 17. Với hệ thống sông rạch khá thuận tiện cho việc di chuyển, những lưu dân người Việt đầu tiên đã vượt biển tìm đến mưu sinh ở miền đất này. Thành phố sau đó hình thành nhờ công cuộc khai phá miền Nam của nhà Nguyễn. Bằng bàn tay và khối óc, bằng mồ hôi, nước mắt và cả xương máu, họ đã biến miền đất hoang sơ thành đồng ruộng phì nhiêu, phố phường đông đúc.
Suốt chiều dài lịch sử, TP. Hồ Chí Minh nhiều lần thay đổi tổ chức, địa giới hành chính và tên gọi. Năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh vâng lệnh chúa Nguyễn vào Nam kinh lược, đặt cơ sở hành chính đầu tiên và việc xác định Sài Gòn ở vị trí trung tâm cho cả vùng đất phương Nam thể hiện xu thế phát triển và bản lĩnh kiên cường của một dân tộc vốn có nền tảng văn hiến ngàn đời. Khi người Pháp vào Đông Dương, để phục vụ công cuộc khai thác thuộc địa, thành phố Sài Gòn được thành lập và nhanh chóng phát triển, trở thành 12 một trong hai đô thị quan trọng nhất Việt Nam, được mệnh danh Hòn ngọc Viễn Đông hay Paris Phương Đông.
Trong cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, Sài Gòn - Gia Định cùng miền Nam “Thành đồng Tổ quốc” là nơi đầu sóng ngọn gió, nơi “đi trước về sau”, là nơi mở màn và cũng là nơi kết thúc cuộc kháng chiến, liên tục đấu tranh kiên cường, bất khuất. Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, cán bộ, chiến sĩ và đồng bào thành phố chiến đấu không tiếc máu xương ngay giữa hang ổ quân thù. Thực hiện tư tưởng chiến lược của Đảng và Bác Hồ kính yêu “đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào”, quân dân Sài gòn - Gia Định đã dũng cảm, mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu và đấu tranh trên địa bàn đô thị. Những trận tấn công như vũ bão của các lực lượng võ trang, của chiến sĩ biệt động “xuất qủy nhập thần”, giáng đòn phủ đầu vào những mục tiêu hiểm yếu, đầu não của địch, khiến cho kẻ thù luôn khiếp vía kinh hoàng.
Các cuộc tiến công hoà nhịp với các phong trào đấu tranh quyết liệt của các đội hùng binh “tay không đánh giặc” của đồng bào các giới, các tầng lớp, các dân tộc, các tôn giáo,… đã góp phần làm lung lay tận gốc ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, làm sụp đổ chính quyền tay sai. Quân và dân Sài Gòn - Gia Định tiến hành cuộc chiến đấu anh dũng trên cả ba mặt trận chính trị, quân sự và binh vận, đã làm nên những chiến công vang dội, những sự tích diệu kỳ, góp phần lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ xâm lược, tiến tới trận quyết chiến chiến lược mùa Xuân 1975. Chiến thắng 30 tháng 4 năm 1975 là thắng lợi lịch sử vĩ đại của dân tộc, hoàn thành trọn vẹn cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, mở ra thời kỳ phát triển mới của nước Việt Nam độc lập, thống nhất, hoà bình, xây dựng chủ nghĩa xã hội vì ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Đầu năm 1976, Đảng bộ và Ủy ban Nhân dân Thành phố bắt đầu hoạt động.
Ngày 2 tháng 7 năm 1976, Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam thống 13 nhất quyết định đổi tên nước thành Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời đổi tên Sài Gòn thành "TP. Hồ Chí Minh", theo tên cuối cùng của chủ tịch nước đầu tiên, Hồ Chí Minh. Về kinh tế: với vị trí địa lý thuận lợi, TP. Hồ Chí Minh - nơi một thời được mệnh danh là "Hòn ngọc Viễn Đông" nay là nơi hoạt động kinh tế năng động nhất, đi đầu trong cả nước về tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Trong những năm qua, kinh tế trên địa bàn thành phố liên tục tăng trưởng, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, các nguồn lực xã hội được phát huy, các ngành, lĩnh vực đều phát triển, góp phần cùng vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và cả nước duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế hợp lý trong bối cảnh khủng hoảng tài chính và suy thóai kinh tế toàn cầu. Trong 2 năm 2006 - 2007, tốc độ tăng trưởng GDP là 12,4%; từ cuối năm 2007, do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thóai kinh tế toàn cầu, tốc độ tăng trưởng kinh tế thành phố giảm còn 10,3% nên đã ảnh hưởng tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm chỉ đạt 11%. Tuy thấp hơn chỉ tiêu đề ra (là 12%) nhưng là mức tăng cao so với bối cảnh chung. Quy mô kinh tế thành phố năm 2010 bằng 1,7 lần năm 2005, GDP bình quân đầu người năm 2010 ước 2.843 USD, bằng 1,68 lần năm 2005 [12, tr.13] Phát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởng cao đã tạo ra mức đóng góp GDP lớn cho cả nước.
Tỷ trọng GDP của thành phố chiếm 1/3 GDP của cả nước. Chương trình hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu kinh tế bước đầu đạt kết quả tích cực, từng bước tạo chuyển biến về chất trong cơ cấu kinh tế theo hướng tăng dần tỷ trọng các ngành có giá trị gia tăng và hàm lượng khoa học - công nghệ cao.