Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE GIÁO DỤC LOI SÓNG TRONG CHUONG TRÌNH TRUYEN HÌNH THUC TE 1.1 Một số khái niệm 1.1 Truyền hình Thuật ngữ “Truyền hình - Television” có nguồn gốc từ tiếng La-tinh và tiếng Hy Lạp. Từ “Tele” trong tiếng Hy Lap có nghĩa là “ở xa” và “videre” của tiếng La-tinh có nghĩa là “nhìn” hay “thấy”. Ghép hai từ đó lại thành “Televidere”, có nghĩa là “thấy được từ xa”. Tiếng Anh đọc là "Television".
Như vậy, nguồn gốc của thuật ngữ “Truyền hình” được hiểu là: Xem/nhìn được từ xa. Còn định nghĩa dưới góc độ kỹ thuật, “Truyền hình là hệ thống phát và thu hình ảnh, âm thanh bằng những thiết bị truyền dẫn tín hiệu từ qua cáp, sợi quang và quan trọng nhất là sóng điện từ” [30]. Ở Việt Nam, truyền hình được Từ điển Tiếng Việt định nghĩa "là quá trình truyền hình ảnh, âm thanh bằng sóng vô tuyến điện". Trong cuốn Giáo trình Báo chí Truyền hình của PGS.TS Dương Xuân Sơn, thuật ngữ "truyền hình" được định nghĩa như sau: "Truyền hình là một loại hình truyền thông đại chúng chuyển tải thông tin băng hình anh và âm thanh về một vật thé hoặc truyền đi xa bang sóng vô tuyến điện".
Đây là một định nghĩa khá rõ ràng về loại (phương tiện truyền thông đại chúng), vai trò (đáp ứng nhu cầu thông tin của công chúng), hình thức thể hiện (hình ảnh và âm thanh) khác biệt đối với những phương tiện truyền thông đại chúng khác (báo in, phát thanh, báo mang.) Tác gia Tạ Ngọc Tan trong cuốn Truyền thông đại chúng cho rằng: "Truyền hình là một loại phương tiện thông tin đại chúng chuyên tải thông tin bằng hình ảnh và âm thanh. Nguyên nghĩa thuật ngữ "vô tuyến truyền hình" - television bat nguôn từ hai từ là "tele" - ở xa va "vision" - nghĩa là thay được, tức 14 là thấy được từ xa". Có thé thấy định nghĩa nay cũng khá day đủ về loại, vai trò và phương thức truyền hình. Đồng thời còn thay được truyền hình có kha năng lôi cuốn đông đảo công chúng.
Khả năng này của truyền hình được lý giải bằng đặc tính của nó "thấy được từ xa". Tuy nhiên, nhìn vào thực tế hiện nay, truyền hình không còn chỉ nằm vỏn vẹn trên vô tuyến điện mà nó còn được mở rộng và xuất hiện trên những chiếc điện thoại thông minh (smartphone), máy tính hay rất nhiều thiết bị điện tử khác mà ta gọi chung là "truyền hình trực tuyến". Chính vì thế khái niệm "truyền hình" có một vài đổi khác. Tựu chung lại, truyền hình là một loại hình bảo chí đặc biệt, truyền tải thông tin tới công chúng một cách tổng hợp dưới các hình thức đa dạng như: hình ảnh, âm thanh, ánh sáng, ngôn ngữ.
Truyền hình đã trở thành một trong số các phương tiện truyền thông đại chúng (Mass Communication/Mass Media) rất phô biến hiện nay. Chính thức xuất hiện vào thập niên 40 của thế kỷ XX, truyền hình nhanh chóng trở thành một hiện tượng của làng báo chí thé giới và phát triển với nhịp độ hết sức nhanh chóng. Ở thập kỷ 50 của thế kỷ XX, truyền hình chỉ được sử dụng như là công cụ giải trí, rồi thêm chức năng thông tin. Dan dan, truyền hình đã tham gia vào qua trình quản ly và giám sát xã hội, tao lập và định hướng dư luận, truyền tải thông tin ở mọi lĩnh vực của đời sông tới mọi đối tượng trên phạm vi rộng khắp.
Đặc biệt, với sự ra đời của truyền hình màu vào năm 1951 đã đánh dấu mốc quan trọng trong chặng đường phát triển va bùng nỗ của các phương tiện truyền thông đại chúng thế giới. Tại Việt Nam, ngày 7/9/1970, Đài Truyền hình Việt Nam chính thức phát sóng những giờ đầu tiên, đánh dấu sự ra đời của ngành Truyền hình ở Việt Nam. Ngay lập tức, truyền hình đã tỏ rõ lợi thế cũng như tầm quan trọng của mình trong nền báo chí nước nhà. Hơn 40 năm hình thành và phát triển, từ một ĐTH trung ương chỉ phát sóng một kênh duy nhất, giờ đây, hệ thống truyền hình tại 15 Việt Nam đã có tới 67 đài phát thanh - truyền hình từ trung ương đến địa phương với gần 100 kênh truyền hình đang phát sóng qua các loại hình công nghệ khác nhau.
Từ đó cho thấy ngành Truyền hình Việt Nam hôm nay đã không ngừng lớn mạnh, đáp ứng sự tăng lên về nhu cầu thông tin trên nhiều lĩnh vực: kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội của mọi đôi tượng công chúng. Sự ra đời của truyền hình đã góp phần làm cho hệ thống truyền thông đại chúng càng thêm hùng mạnh, không chỉ tăng về số lượng mà còn gia tăng cả về chất lượng. Công chúng của truyền hình ngày càng đông đảo trên khắp hành tinh. Với những ưu thế vè kỹ thuật và công nghệ, truyền hình đã và đang làm cho cuộc sống như được cô đọng hơn, ý nghĩa cuộc sống lan tỏa nhiều hơn, làm giàu thêm ý nghĩa tốt đẹp và sáng tỏ hơn về hình thức thể hiện cũng như phong phú về nội dung sản xuât.
Xét theo góc độ kỹ thuật truyền tải có truyền hình sóng (wireless TV) và truyền hình cáp (CATV). Xét dưới góc độ thương mại có truyền hình công cộng (public TV) và truyền hình thương mại (Commercial TV) Xét theo tiêu chí mục đích nội dung, người ta chia truyền hình thành truyền hình giáo dục, truyền hình giải trí. Xét theo góc độ kỹ thuật, có truyền hình tương tự (Analog TV) và truyền hình số (Digital TV) 1. Truyền hình thực tế Theo Richard Kilborn — Trưởng Khoa Điện ảnh và Truyền thông, Đại học Stirling (Scotland): 1T;ruyen hình thực tế là sự tường thuật lại dưới ánh sáng những sự kiện đặc biệt, cuộc song của một cá nhân hay một nhóm người”.
Hugh Dancey của Đại hoc Newcastle lại định nghĩa: “Truyén hình thực tế là những thước phim hàng ngày về sự dũng cam, nó dựa trên những cảm xúc chân thật của nhân vật và những hành động mang tính chat cá nhân ”. [52] Tại Việt Nam hiện nay, khái niệm Reality show (tạm dịch là Truyền hình thực tế) ngày càng trở nên phổ biến và liên tục được nhắc đến. Nhưng trên thực tế, Reality show chỉ là một bộ phận của Reality Television (Reality TV). Reality TV mới là tên gọi được sử dụng phô biến trên thế giới dé nói về truyền hình thực tế.
Reality TV bao gồm day đủ các thể loại chương trình truyền hình thông thường như: Tai liệu (Documentary style), chương trình giao lưu tọa dam (Talk show), chương trình trò chơi (Gameshow). Có thê nói đây vừa là một loại chương trình truyền hình kiểu mới, vừa là một phương pháp, một hình thức thể hiện mới của các chương trình truyên hình. Có khá nhiều quan niệm khác nhau được đề cập khi bàn về Reality TV. Chang hạn như quan niệm của Annette Hill là giáo sư đồng thời là giám đốc trung tâm nghiên cứu của Đại học Truyền thông — Nghệ thuật — Thiết kế Westminster (Anh Quốc): Truyền hình thực tế bao gom tat cả các chương trình giải trí trên truyền hình về người thật.
Nhiễu khi thể loại nay con được gọi là truyền hình dựa trên sự thực tế (popural factual television). Truyén hình thực té nằm trên ranh giới lãnh thổ của thông tin và giải tri, tài liệu và kịch.2] Một số nhà phê bình thế giới quan niệm “Truyền hình thực tế” có phần là dùng thuật ngữ sai. Theo họ những chương trình kiêu này chỉ thường xuyên miêu tả một cách sinh động hiện thực được biến đồi. Trong đó, những người tham gia được đặt trong những vị trí, hoặc những tình huống khác thường.
Đôi khi người chơi của những chương trình này còn được hướng dẫn cách diễn xuất bởi những nhà huấn luyện sau màn hình. Mỗi sự kiện trong từng cảnh được điều khiển một cách khéo léo bởi sự biên tập và các hiệu ứng kĩ xảo chuyên nghiệp. 17 Truyền hình thực tế do đó chỉ là sự phản ánh tinh đa nghĩa của truyền hình: nó là một sản phẩm vừa có tính hướng nội, vừa có tính hướng ngoại. Các nhân vật trong chương trình sống ở hai thế giới.
Họ đi vào cuộc sống của khán giả từ một thê giới khác đê rôi tham gia vào cuộc sông hàng ngày của chúng ta. Chúng ta có thé chap nhận sự thật ở hai thực tế khác nhau: thực tế noi ma chúng ta sống và thực tế trên tivi. Thực tế thứ nhất chính là những con người và những thứ xung quanh chúng ta; và thực tế thứ hai là trong giới hạn rộng lớn của các hoạt động văn hóa truyền thông. Một số khác lại cho rằng, tên gọi "Truyền hình thực tế" là một cách định danh sai cho một số loại chương trình có tính sắp đặt.
Trong một số chương trình như: Big Brother, Survivor hay The Real World. nhà sản xuất thiết kế một khung chương trình dành riêng cho nó. Hàng ngày, họ kiểm soát những hoạt động của các nhân vật và bối cảnh xung quanh, tạo ra một thế giới tưởng tượng. Trong đó, sự cạnh tranh sẽ diễn ra.
Nhà sản xuất sẽ sắp đặt những nhân vật, những bối cảnh đó để kích thích những hành vi và mâu thuẫn đặc biệt. Mark Burnett - nhà viết kịch ban cho Survivor và nhiều chương trình truyền hình thực tế khác cũng đồng ý với nhận định trên. Theo Mark Burnett, những chương trình đó không phải là những chương trình truyền hình thực tế mà là "những vở kịch không kịch bản". Trong từ điển Longman, Truyền hình thực tế được định nghĩa “1à chương trình ghi lại hình ảnh những người dang làm việc thực tế (vi dụ: nhân viên cảnh sát đuổi theo chiếc xe bị đánh cắp) hoặc những người đã được đặt trong tình huống khác nhau và quay phim liên tục trong khoảng thời gian vài tuần hoặc vài tháng (vi dụ như chương trình Người giấu mặt, Cuộc dua kỳ thú.
Từ điển Macmilan lại định nghĩa: 18 Truyén hình thực tế là chương trình truyền hình không sử dụng diễn viên chuyên nghiệp và thấy các sự kiện thực tế, các tình huống liên quan đến những người bình thường" Ở Việt Nam, hiện tại chưa có một định nghĩa chính xác cho thuật ngữ "truyền hình thực tế". Trong cuốn Sản xuất chương trình truyền hình, tác giả Trần Bảo Khánh đã định nghĩa: "Truyên hình thực tế là các chương trình mà người xem thấy được rõ con người thật, tình huống thật và sự kết hợp khéo léo giữa những tình hình thực tế đang diễn ra với các cách giải quyết, ứng xử của người dẫn chương trình. " [17] Với định nghĩa này, tác giả đã nêu ra những điểm dễ nhận biết của một chương trình truyền hình thực tế theo con mắt của khán giả xem truyền hình.