chương I phần VI về quyền tác giả với các điều từ 745 đến 779 và điệu S836 phan VIT về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài), với quan điểm coi các quyen cửa tác gia là một trong những quyền dan sự có liên quan tới lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần của tác gia. IS Tuy nhiên, Bộ luật Dan su (BLDS) chi dé cập đến quyền tac gia đưới góc độ là quyền dan sự được nhà nước bao hộ: còn mot số vấn đề liên quan như thu tục dang Ký bao hộ quyền tác gia, xử lý vi phạm được cụ thể hoá trong Nghị định 76/ CP (29/11/1996) của Chính phủ hướng da n thi hành một số qui định về quyền tác gia trong Bộ luật Dan sự, Thông tư 27/2001/TT-BVHTT (10/05/2001) hướng dan thi hành Nghị định 76/CP, Nghị định 31/CP (26/06/2001) về xử phạt vị phạm trong lĩnh vực văn hoá thong tin, Nghị định 61/CP (1 1/06/2002) về chế độ nhuận bút. Trong quan hệ quốc tế, Việt Nam đã ký kết hai hiệp định song phương về vấn de này với hai nước là Hoa Kỳ và Thuy Sy. Mới đây, Chủ tịch nước vừa ký Quyết định số 332/2004/ QD-CTN về việc Việt Nam gia nhập Công ước Berne bao hộ tác phảm văn học và nghệ thuật.
Khi đã gia nhập, Việt Nam phải bảo hộ quyền tác giả cho tác gia và chu sở hữu của các quốc gia thành viên Công ước (hiện tại đã có 155 quốc gia), đồng thời các quốc gia ấy cũng có nghĩa vụ bao hộ bản quyền cho các tác gia và chủ sở hữu tác phẩm của Việt Nam.2- Khái niệm và đặc điểm của quyền tác giả.1- Khái niệm quyền tác gia. Mục dich của quyền tác gia là đảm bảo trả thù lao cho các tác gia, cho phép họ làm chủ và kiểm soát các tác phẩm của mình, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sáng tạo các giá trị tinh thần. Trên thế giới, ton tại hai hệ thống lớn về quyền tác giả: hệ thống Ang-gl6 Sắc- Aong về bán quyền và hệ thống về quyền tác giả. Hệ thống về quyền tác giả đã dành cho quyền nhân thân một ưu thé hơn hệ thống Ăng-glô Sác-xông về bản quyén'.
Chúng ta có thể thấy do sự chỉ phối của những khía cạnh văn hoá, lịch sử và những đặc điểm đặc thù của mỗi nước mà quan niệm về quyền tác giả của mỗi nước là khong giống nhau nhưng đều chịu ảnh hưởng hoặc của hệ thống về quyền tác gia hoặc của hệ thống bản quyền. Cụ thể như Việt Nam là một nước không có truyền thong về quyền tác gia như những nước khác: mọi quy định trong lĩnh vực này ở một ĐC Cưon, Lani đụng quyền tácgia, Paris, NXH Litec, 1998, L9 chừng mực nhất định chịu ảnh hưởng của luật nước ngoài. Bên cạnh đó, nước Pháp là NƯỚC c6 quan niệm nhân văn về quyền tác gia nên quyền nhân thân đóng vai trò ưu thẻ. Quyền tác gia - một bộ phận của quyền sở hữu trí tuệ - có đôi tượng là một loại tài san đặc biệt, là những sản phâm trí tuệ, thành qua của lao động trí óc được đục tính hoá dưới dạng vật chất và loại sản phẩm này có đặc tính chung là trừu tượng và vỏ hình.
Không giống đối tượng của quyền sở hữu tài sản hữu hình, nên việc thực hiện quyền sở hữu loại tài sản này luôn gap phải những khó khan và phức tạp boi kha nang lan truyền nhanh chóng và rộng kháp của chúng qua các phương tiện thông tin ngày càng hiện đại. Xuất phát từ những góc độ khác nhau, khái niệm quyền tác giả có thể được hiệu theo nhiều nghĩa khác nhau: - Trước hết, việc tác giả sáng tao tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học đã làm xuất biện quyền tác giả đối với tác phẩm của mình. Ở phương diện này, khái niệm quyền tác giả được dùng dé chỉ tong hợp các quyền của tác gid gồm các quyền lar sản và quyền nhàn than. Quyền tai sadn là quyền của tác giả cho phép người khác khai thác tác phẩm của mình và hưởng lợi ích vật chất từ việc khai thác đó.
Quyên nhân than là quyền của tác giả thực hiện để giữ mối quan hệ cá nhân giữa bản thân tác giả và tác phẩm. Khái niệm quyền tác giả không trực tiếp được đưa vào trong các quy định của Bộ luật Dân sự Việt Nam về quyền tác giả, nhưng có thể hiểu khái niệm này một cách gián tiếp vì theo điều 750 BLDS thì “Quyển tác giá bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả đối với tác phẩm do minh xứng tạo `. về mat lý luận, có thể đưa ra khái niệm về quyền tác giá như sau: Quyên tác gia là các quyền tai san và quyền nhân thân của tác giá, VỚI 30 ne cách là ngHời sáng tạo ra toàn bộ hoặc một phan tác pham văn hoá. nghệ thuật, Khoa học.
Theo thông lệ và tập quán quốc tế thì quyền tài sun của tác gia được thực hiện thông qua việc cho phép người khác sử dụng tác phẩm của mình đã được bao hộ bang luật quyền tác gia. Nhiều luật quyền tác gia trên thế giới. trong đó có nước Pháp. đều ghi nhận rang tác gia có quyền cho phép hoặc ngăn cảm người khác thực hiện các công việc cụ thể liên quan tới tác phẩm như sao in tác phẩm, trình diễn tác phẩm trước công chúng, phát thanh hoặc truyền tai tới công chúng thông qua các phương tiện thông tin đại chúng khác, dịch tác phẩm, chuyển thể tác phẩm, v.
Cũng theo thông lệ và tập quán quốc tế, guyển nhân thân trong quyền tác gia duoc sử dụng với tên gọi là quyển tinh than. Các quyền tinh thần dành cho tác gia gồm: quyền duoc đòi hỏi xác định chặt chẽ mối quan hệ giữa tác giả với tác phẩm, quyền được phản đối bất kỳ sự sửa đổi hoặc bóp méo, xuyên tạc tác phẩm và quyền lên án, tố cáo những hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến tác phẩm, làm phương hại đến thanh danh, tiếng tăm của tác giả. Các quyền nhân thân được xem là độc lập với quyền tài sản và nói chung vẫn được dành cho tác giả, kể cả sau khi tác giả đã chuyển giao quyền tài sản của minh cho tổ chức, cá nhân khác. Thậm chí khi tác phẩm thuộc sở hữu của một người khác (ví dụ: nhà sản xuất phim, nhà xuất bản, v.) thì cũng chỉ riêng cá nhân người sáng tạo được hưởng quyền nhân thân đối với tác phẩm đó mà thôi trừ một số trường hợp đặc biệt theo qui định pháp luật một số quốc gia.
+ Ngoài ra, khái niệm quyền tác giả còn được hiểu theo nghĩa khách quan là một chế định pháp luật. Theo đó, quyền tác gid là tổng thể các qui phạm pháp luật xác nhận và báo hộ các quyển nhân thân. quyên tài sản của tác gid, chủ sở hữu tác pham văn hoá, nghệ thuật, khoa học; qui định trình tự thực hiện và bdo vệ các quyền đó khi có hành yi xâm phạm. Hiểu theo phương diện này thì quyền tác giả không chỉ bó hẹp trong phạm vi quyền năng của tác gia sáng tạo tác phẩm mà còn mở rộng các van de Khác như: đối tượng quyền tác gia, giới hạn quyền tác gia, thừa kế quyền tác aia.
hợp đồng sử dụng tác phầm. 2] Tóm Jai, điểm cốt yếu của luật quyền tác gia là tạo ra sự Un tưởng can có cho lac gia, chu sở hữu tác phẩm, người sử dụng tác phẩm và những người có liên quan khác khi chúng được đem ra sử dụng rộng rai trong công chúng.2- Những đặc điểm của quyền tác gia. 1- Đúc tính vô hình của đối tương quyền tác gia: Quyền tác gia là một bộ phan của quyền sở hữu trí tuệ, có đối tượng phân biệt với đối tượng của quyền sở hữu tài sản hữu hình. Quyền sở hữu trí tuệ bảo hộ sự sáng lao từ trí óc con người, từ trí tuệ con người.
Với sở hữu tài sản, thông thường người ta hiệu theo nghĩa truyền thống là sở hữu tài sản vật chất, tài sản hữu hình - là những tài sản mà con người có thể chiếm giữ, sờ, nam được. Với sở hữu tri tuệ, đối tượng so hữu là tài san vô hình, tài sản trí tuệ, là kết qua của hoạt động tư duy sáng tạo của con người, con người không thể nam bat được chúng một cách cụ thể. Tir sự khác biệt lớn nhất trên đã đưa đến sự phân biệt rất quan trọng khác về not dung chiếm hữu đối tượng sở hữu. Trong sở hitu tai san hữu hình, với tính chất hữu hình của tài sản, quyền chiếm hữu có một vị trí quan trọng đặc biệt bởi nó thể hiện trong thực tế ai là người có quyền chiếm giữ, quản lý tài sản, người đó có phải là chủ sở hữu của tài sản đó hay không.
Nếu họ không phải là chủ sở hữu của tài sản thì việc chiếm hữu đó có được chủ sở hữu chuyển giao hay theo căn cứ hợp pháp khác không; từ đó cần áp dụng biện pháp øì để bảo vệ quyền sở hữu, bảo vệ quyền chiếm hữu hợp pháp. Con trong sở hữu tài sản trí tué, chính đặc tính vô hình của các đôi tượng sở hữu trí tuệ làm cho chúng sau khi được bộc lộ công khai có thể lan truyền vô giới hạn tới mức không thể kiểm soát được, nên nội dung quyền chiếm hữu khong có ý nghia đốt với hầu hết các sản phẩm trí tuệ.2- Quyền cho phép su dung đối tương vì mục đích thương mai: Sản phẩm của mình được công bố, phổ biến, sử dụng là mong muốn hết sức chính dang của những người hoạt động sáng tao trí tuệ. Vì vậy, nội dung quan trong nhất của quyền sở hữu trí tuệ là quyền cho phép sử dụng đối tượng. Khác với quyền sở hữu tài sạn, khát mềm quyén cho phép sử dụng đổi tưởng sơ hữu trí tệ luôn được 22 sản liền với mục dich thương mại của người sit dụng.
Do đó, nếu một người thứ ba sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ mà không được phép cua chủ sở hữu thì bị coi là vi phạm quyền của chủ sở hữu, nhưng nếu việc sử dụng không nhằm mục đích thương mai (không nhằm kiếm lời, thu lợi nhuận) hoặc không nhằm phương hại đến hoạt dong thương mại của chủ sở hữu thì sẽ không bị coi là xâm phạm'.3- Doi Hương quyền tac gia được định hình dưới một dang vat chất nhất dinh: Xã hội thường tiếp cận với các sản phẩm sáng tạo trí tuệ, đối tượng quyền tác gia, thông qua các dang cu thể của chúng, tức là khi chúng đã được vật chất hoá hoặc được thể hiện trên vật mang cụ thể”.