Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN VỀ CÁC CA KHÚC CỦA NHẠC SĨ TRẺ ĐƯỢC KHẢO SÁT 1. Khái quát về ca từ trong ca khúc 1. Khái niệm “ca từ”, “ca khúc” Theo Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê, “ca từ” là “lời của bài hát” [22, 127]. Theo Dương Viết Á, ca từ “bao gồm toàn bộ phần ngôn ngữ văn học trong âm nhạc bắt đầu từ cái nhỏ nhất: tên gọi tác phẩm, tiêu đề…, cho đến cái lớn nhất: kịch bản của nhạc cảnh, nhạc kịch…, và dừng lại ở thể thơ được phổ nhạc”.
[1, 13] Thuật ngữ “ca từ” chúng tôi sử dụng ở luận văn này có nghĩa là “toàn bộ phần lời được tác giả viết ra trong ca khúc, kể cả tên ca khúc”. Trong các ca khúc mà chúng tôi khảo sát có một số bài có phần gọi là “Rap” và phần “lời nói”. Phần “Rap” được nhạc sĩ viết ra hẳn hoi nên chúng tôi coi đó là đối tượng khảo sát như những phần lời khác của ca khúc. Còn phần “lời nói” là phần thêm vào, là những xúc cảm nhất thời của người thể hiện – ca sĩ và nó tùy thuộc vào người thể hiện.
Phần “lời nói” ở đây có thể là một vài tiếng, có thể là một hay một vài phát ngôn, cũng có thể là đoạn đối thoại. Chúng tôi trình bày phần “lời nói” ở trong ngoặc đơn – “( )” và không xem chúng là ca từ để khảo sát. Còn “ca khúc”, theo Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê là “bài hát ngắn có bố cục và giai điệu hoàn chỉnh” [22, 126]. Đã gọi là “ca khúc” thì phải có hai phần: phần lời và phần nhạc.
Hai phần này có mối quan hệ gắn bó với nhau, tuy nhiên, chúng tôi chỉ khảo sát phần lời mà không khảo sát phần nhạc. Và phần lời được khảo sát ở đề tài này chính là “ca từ” mà chúng tôi đã giới hạn ở trên. Vai trò của ca từ Dương Viết Á trong cuốn Ca từ trong âm nhạc Việt Nam [1, 37] đã đúc kết: “Ngôn ngữ âm nhạc vốn mang tính biểu hiện, mà nhẹ về miêu tả, tạo hình. Nói cách khác, ngôn ngữ âm nhạc mang tính ước lệ cao”.
Muốn hiểu được âm nhạc, chúng ta 11 phải có một quá trình học hỏi, làm quen. Trong khi đó, ca từ lại dễ dàng được tiếp thu, lĩnh hội hơn bởi chất liệu của nó là ngôn ngữ - một loại phương tiện giao tiếp phổ biến và có nhiều ưu thế. Ngôn ngữ “có khả năng thể hiện đầy đủ và chính xác tất cả những tư tưởng, tình cảm, cảm xúc mà con người muốn thể hiện” [8, 11]. Quả vậy, nghe một bản nhạc không lời, người nghe bình thường khó lòng lĩnh hội nội dung của nó một cách rõ ràng, cụ thể; còn với một bản nhạc có lời - một ca khúc thì vì nội dung được thể hiện cụ thể, đầy đủ trên câu chữ nên người nghe dễ dàng nắm được nội dung mà nhạc sĩ muốn chuyển tải qua ca khúc.
Như vậy, nhờ ca từ, nội dung ca khúc như được cộng thêm tính cụ thể, tính trực tiếp và cả sức truyền cảm. “Ca từ làm nhiệm vụ như người hướng dẫn, mở đường, “phiên dịch”, kể cả dẫn giải cho người thưởng thức”; “ca từ như đôi cánh nâng hình tượng âm nhạc bay cao hơn, xa hơn” [1, 37 - 38]. Chính vì vậy mà nhạc hát dễ tìm được sự chia sẻ hơn nhạc không lời. Ví dụ: Những tác phẩm nhạc không lời như bản Giao hưởng số 1, Giao hưởng số 2; bản Xônát số 1, Xônát số 2 thường có sự tranh cãi về nội dung cụ thể của chúng.
Còn những tác phẩm nhạc có lời thì nội dung của chúng không có gì phải bàn cãi, chẳng hạn như ca khúc Năm anh em trên một chiếc xe tăng, nói về năm con người khác nhau nhưng đều dũng cảm, có tinh thần đoàn kết và cùng chung chí hướng. Tuy nhiên, ca từ “ngoài phần đem lại cũng có phần lấy bớt […], ca từ sẽ hạn chế sức gợi mở của âm nhạc” [1, 39]. Như đã nói ở trên, âm nhạc vốn mang tính biểu hiện. Một bản nhạc không lời sẽ gợi lên trong lòng người nghe sự tưởng tượng và rung cảm; nó khác nhau ở mỗi người.
Trong khi đó, nhạc có lời, với tính cụ thể, rõ ràng đã xác định và xây dựng sẵn trong đầu óc người nghe những gì cần thấy và cần cảm nhận; trí tưởng tượng của họ đã bị giới hạn, bị thu hẹp. Đó là chưa kể trường hợp ca từ thiếu chất thơ, thiếu tính nghệ thuật hay thậm chí là yếu kém, mắc lỗi về ngôn ngữ, thì không những gây khó khăn cho việc tiếp nhận nội dung ca khúc mà còn không tác động được đến tình cảm của người nghe. “Trong mối quan hệ hữu cơ với âm nhạc, muốn làm tròn chức năng đôi cánh 12 và người bạn đường trung thành, ca từ phải nâng mình lên cho đạt tới mức trở thành một bộ phận không thể tách rời của hình tượng âm nhạc; nói cách khác, ca từ cũng phải xây dựng được hình tượng bằng ngôn ngữ. Tất nhiên đó không thể là ngôn ngữ thông thường, mà phải là ngôn ngữ có tính nghệ thuật, ngôn ngữ thơ ca” [1, 42].
Như vậy, ở mức độ lí tưởng, ngôn ngữ ca từ cũng chính là ngôn ngữ thơ ca. Trên đây là vai trò “hướng nội” của ca từ. Ra ngoài khuôn khổ một ca khúc thì ca từ có vai trò gì? Nếu ca từ đạt đến trình độ “là ngôn ngữ có tính nghệ thuật, ngôn ngữ thơ ca” như đã nói thì nó đã thực hiện được vai trò xã hội của mình. Nghệ thuật là cái đẹp.
Nghệ thuật nói chung và thơ ca nói riêng đem cái đẹp đến cho cuộc sống, đem lại những rung động thẩm mĩ, khoái cảm thẩm mĩ, thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người. Ca từ cũng như thơ ca được xây dựng trên cái nền của hiện thực cuộc sống nhưng đến lượt mình, nó lại làm cho cuộc sống trở nên tươi đẹp hơn. Ở đó là cả một thế giới với tất cả sự phong phú, sâu sắc mà cũng nhiều mới mẻ, sáng tạo. Ở đó, con người có thể tìm thấy nhiều khía cạnh khác nhau của cuộc sống, có thể cảm nhận được vô vàn cung bậc cảm xúc.
Ca từ Trịnh Công Sơn là một minh chứng. Những hình tượng nghệ thuật trong ca từ Trịnh Công Sơn thật đa dạng, mới lạ và sinh động: quán đợi, bóng xuân, phiến môi, nụ đời, hoa muối, cơn lửa đỏ, v.v… Đến với ca từ Trịnh Công Sơn là đến với những niềm vui và cả nỗi đau, đến với rất nhiều trạng thái, cảm giác, xúc cảm: bơ vơ, hoạn nạn, mong manh, tiều tụy, mộng mị, đam mê, đau thương, sầu, xót xa, tuyệt vọng, ngọt ngào, nồng nàn, v. Tính chất của ca từ 1. Tính khuynh hướng Theo Dương Viết Á, ca từ “luôn hàm chứa một nội dung tư tưởng nhất định; nói cách khác, nó mang tính khuynh hướng” [1, 68].
Tuy nhiên, cũng theo Dương Viết Á, có những ý kiến phủ nhận luận điểm trên. “Có nhạc sĩ cho rằng, ca từ chỉ là “cái cớ” của âm nhạc. Theo họ, việc chọn thơ để phổ nhạc, chẳng hạn, thì bất luận thơ hay hoặc dở, thậm chí là những bài thơ 13 không quá tồi […] là có thể phổ nhạc được; có như vậy, nhạc sĩ mới phô bày được hết tài nghệ và bản lĩnh nghệ thuật của mình”. Hay “người nghe ca khúc, hợp xướng […] chủ yếu là nghe nhạc, chứ không ai chú ý đến lời ca, vì đây là âm nhạc chứ không phải là văn chương!” [1, 68].
Một tác phẩm nghệ thuật là một chỉnh thể thống nhất của các yếu tố. Giá trị và nội dung của nó được tạo nên bởi giá trị và nội dung của từng bộ phận. Nếu ca từ “dở” thì sẽ làm giảm giá trị của ca khúc. Nội dung tư tưởng của một ca khúc là nội dung tư tưởng của phần nhạc và phần lời gộp lại.
Bên cạnh đó, việc thưởng thức, tiếp nhận một tác phẩm là một quá trình cảm thụ toàn bộ tác phẩm. Với một ca khúc, người nghe bình thường khi lần đầu tiên tiếp xúc với tác phẩm sẽ đón nhận toàn bộ tác phẩm, cả nhạc lẫn lời. Bởi vậy, không thể phủ nhận nội dung tư tưởng – tính khuynh hướng của ca từ. Như vậy, chúng tôi thống nhất với quan điểm của Dương Viết Á, đó là ca từ có tính khuynh hướng và tính khuynh hướng của ca từ chính là nội dung tư tưởng của ca từ.
Ca từ phản ánh hiện thực cuộc sống một cách tích cực, năng động và sáng tạo; nó luôn bao hàm một thái độ, một cách đánh giá chủ quan của người soạn ca từ. Bởi vì người soạn ca từ là một con người cụ thể, sống trong một xã hội cụ thể, với những nỗi niềm riêng, sở thích, quan điểm, tâm lí riêng, v.v…; trong quá trình sáng tạo nghệ thuật, tác giả thể hiện cái chủ quan của mình vào tác phẩm, vào ca từ. Tác phẩm bao giờ cũng in đậm dấu ấn của con người tác giả [1, 73]. Như vậy, tính khuynh hướng - nội dung tư tưởng của ca từ là sự phản ánh hiện thực cuộc sống, là cách đánh giá, thái độ, tình cảm đối với hiện thực của người soạn ca từ; tính khuynh hướng của ca từ có được là nhờ tư tưởng chủ quan của chủ thể sáng tạo, do chủ thể sáng tạo quyết định.
Nắm được tính khuynh hướng – nội dung tư tưởng của ca từ, của một tác phẩm là một việc không hề dễ dàng, bởi vì bản thân nội dung tư tưởng “bao gồm nhiều yếu tố phức tạp, đa dạng và chịu sự chi phối của nhiều hiện tượng xã hội, nhưng lại tập trung và hòa hợp với nhau, không thể chia tách trong một chỉnh thể 14 nghệ thuật” [1, 74]. Chẳng hạn, trong một ca khúc, không thể chỉ dừng lại ở tên gọi tác phẩm hoặc một câu trong lời ca được tách khỏi giai điệu để xác định nội dung tư tưởng của tác phẩm. Theo Dương Viết Á, có ba phương thức, thủ pháp thể hiện nội dung tư tưởng trong tác phẩm, đó là: phương thức trực tiếp, phương thức gián tiếp, phương thức dưới hình thức phủ định để khẳng định. Phương thức trực tiếp tức là tác giả trình bày trực tiếp, bộc lộ rõ ràng quan điểm, tư tưởng, thái độ đối với cuộc sống thông qua hình tượng nghệ thuật.
Phương thức gián tiếp tức là tác giả để cho bản thân câu chuyện, sự kiện nói hộ tư tưởng, quan điểm của mình. Phương thức dưới hình thức phủ định để khẳng định tức là tác giả biểu hiện quan điểm tư tưởng của mình bằng hình thức phủ định nhưng lại nhằm khẳng định điều tưởng như bị phủ định đó.