Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ âm nhạc học “Tính chất thuận và nghịch trong tác phẩm âm nhạc Việt Nam (Trường hợp tác phẩm giao hưởng từ sau 1975)” do nghiên cứu sinh Nguyễn Mỹ Hạnh thực hiện tại Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Tạ Quang Đông (bảo vệ năm 2021, mã số chuyên ngành: 62 21 02 01).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong tiến trình vận động của nghệ thuật âm nhạc, các cặp phạm trù đối lập biện chứng như cái bi – cái hài, mềm mỏng – gay gắt, thuận – nghịch luôn đóng vai trò là động lực thúc đẩy sự biến thiên của ngôn ngữ âm thanh. Khái niệm thuận và nghịch (consonance và dissonance) đã được âm nhạc cổ điển phương Tây nghiên cứu và hệ thống hóa từ lâu dưới cả góc độ âm học lẫn việc triển khai cụ thể trên các phương tiện biểu hiện theo chiều dọc và chiều ngang. Đối với nền âm nhạc chuyên nghiệp Việt Nam, đặc biệt từ sau năm 1975, thể loại giao hưởng ghi nhận sự phát triển rõ nét về số lượng và quy mô tác phẩm với sự đóng góp của nhiều thế hệ nhạc sĩ trên cả ba miền đất nước. Các tác giả Việt Nam đã tiếp nhận, chọn lọc và vận dụng các thủ pháp sáng tác, cấu trúc hình thức, hòa âm và phối khí phương Tây, đồng thời đưa các yếu tố thuận – nghịch vào tác phẩm khí nhạc lớn một cách chủ động. Tuy nhiên, trước thời điểm luận án được thực hiện, chưa có công trình khoa học nào khảo sát toàn diện và chuyên sâu về tính chất thuận – nghịch trong các tác phẩm giao hưởng Việt Nam giai đoạn từ sau 1975 trên đầy đủ các phương tiện: luật nhịp, tiết tấu, điệu thức, hòa âm và phối khí.

Mục tiêu và giả thuyết nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của luận án gồm:

  1. Khái quát cơ sở lý thuyết về thuận – nghịch trong âm nhạc cổ điển phương Tây và phác thảo sự phát triển của nghệ thuật giao hưởng Việt Nam giai đoạn từ sau năm 1975 đến nay.
  2. Nghiên cứu xu hướng vận dụng tính chất thuận, nghịch của các tác giả Việt Nam theo các chiều kích không gian và thời gian (chiều dọc – hòa âm, chiều ngang – giai điệu, sự phối hợp các phương tiện – phối khí), từ đó định vị và hệ thống hóa tính chất thuận – nghịch trong tác phẩm giao hưởng thời kỳ này.

Luận án xây dựng 4 giả thuyết nghiên cứu cụ thể:

  1. Lý thuyết về thuận, nghịch theo quan điểm cổ điển phương Tây đã có tác động, được các nhạc sĩ Việt Nam tiếp nhận và vận dụng vào tác phẩm giao hưởng.
  2. Xu hướng vận dụng thuận, nghịch trong tác phẩm giao hưởng Việt Nam có sự chú trọng “tính thuận”, không thể tách rời “tính nghịch”, đồng thời biểu hiện rõ nét ở từng phương tiện âm nhạc cụ thể.
  3. Tùy theo từng phương tiện biểu hiện, khái niệm thuận và nghịch được xem xét và triển khai theo nghĩa rộng hoặc nghĩa hẹp.
  4. Ngôn ngữ nghệ thuật giao hưởng Việt Nam từ sau 1975 phát triển phong phú, sử dụng nhiều dạng luật nhịp, tiết tấu, điệu thức, cấu trúc hợp âm và thủ pháp phối khí có sự đan xen giữa các yếu tố thuận và nghịch.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Tính chất thuận và nghịch trong tác phẩm giao hưởng Việt Nam qua các yếu tố cấu thành tác phẩm gồm: luật nhịp, tiết tấu, điệu thức, hòa âm và phối khí.
  • Phạm vi thể loại: Giao hưởng nhiều chương (liên khúc giao hưởng, tổ khúc giao hưởng, rhapsody/impromptu giao hưởng); giao hưởng một chương (ouverture giao hưởng, thơ giao hưởng, ballad giao hưởng); concerto cho nhạc cụ phương Tây hòa tấu cùng dàn nhạc giao hưởng.
  • Phạm vi thời gian: Tác phẩm sáng tác trong giai đoạn từ sau năm 1975.
  • Giới hạn tư liệu: Khảo sát các tác phẩm của các tác giả Việt Nam đã được công diễn, in ấn hoặc sử dụng tại các cơ sở đào tạo âm nhạc chuyên nghiệp và lưu trữ tại các Hội chuyên ngành. Luận án không nghiên cứu lịch sử phát triển thuận nghịch của âm nhạc thế giới, không phân tích chuyên sâu về tương quan tỷ lệ định lượng giữa thuận và nghịch, và không khảo sát tác phẩm của các tác giả là người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tổng thuật lịch sử nghiên cứu dựa trên hai nhóm tài liệu chính:

Nhóm tài liệu lý thuyết về thuận và nghịch trong âm nhạc

  • Các công trình trong nước: V. Spaxobin (1976, Nhạc lý cơ bản, Hoàng Hiệp dịch) trình bày khái niệm, tính chất thuận nghịch trong tiết tấu, quãng, điệu thức và hợp âm; Đào Trọng Minh (1990, Luận án Phó tiến sĩ Những vấn đề về cấu trúc của ngôn ngữ hòa âm) phân tích mức độ thuận nghịch của quãng, hợp âm và mối tương quan trong trung tâm điệu thức; Vakhrameev (2001, Lý thuyết âm nhạc cơ bản, Vũ Tự Lân dịch) trình bày các đặc tính thuận nghịch của tiết tấu, quãng và hợp âm; Tô Vũ (2002, Âm nhạc Việt Nam, truyền thống và hiện đại) khảo sát khái quát tính chất thuận nghịch trong quãng, giai điệu, tiết tấu ở ca khúc và dân ca; Phạm Tú Hương, Đỗ Xuân Tùng, Nguyễn Trọng Ánh (2005, Lý thuyết âm nhạc cơ bản) phân tích phân loại mức độ thuận nghịch của tiết luật, quãng và hợp âm; Nguyễn Phương Anh (2012, Phối âm biện chứng hay dịch học và âm nhạc nhiều bè) vận dụng lý thuyết âm dương dịch học để luận giải về âm hài hòa và bất hài hòa.
  • Các công trình quốc tế: Công trình Cambridge Readings in the Literature of Music (Ian Bent chủ biên); Paul Hindemith (1945, The Craft of Musical Composition) với lý thuyết phân loại độ căng của hợp âm và quãng; Walter Piston (1959, Harmony; 1987, Counterpoint) nghiên cứu về quãng nghịch, hợp âm nghịch và đối âm nghịch; Ludmila Ulehla (1994, Contemporary Harmony: Romanticism through the Twelve – Tone Row) phân tích sự phát triển của tính nghịch qua chuỗi 12 âm và đa điệu tính; Harald Krebs (1999, Fantasy pieces: Metrical dissonances in the Music of Robert Schumann) xây dựng lý thuyết về sự bất hòa trong luật nhịp; Jean Ferris (2003, Music – The Art of Listening) và Stefan Kostka – Dorothy Payne (2004, Tonal Harmony) phân tích cấu trúc các hợp âm nghịch mở rộng và hợp âm biến âm.

Nhóm công trình nghiên cứu về tác phẩm khí nhạc Việt Nam

Phạm Tú Hương (1996, Luận án Phó tiến sĩ) nghiên cứu thủ pháp phức điệu trong khí nhạc giai đoạn 1960–1995; Tú Ngọc, Nguyễn Thị Nhung, Vũ Tự Lân, Nguyễn Ngọc Oánh, Thái Phiên (2000, Âm nhạc mới Việt Nam, tiến trình và thành tựu); Nguyễn Thị Nhung (2001, Âm nhạc thính phòng – giao hưởng Việt Nam) phân tích thể loại và đặc trưng khí nhạc; Phạm Nghiêm Việt Anh (2007, Luận văn Thạc sĩ) khảo sát hòa thanh và phức điệu trong tác phẩm của Ca Lê Thuần; Nguyễn Thị Thiều Hương (2010, Luận văn Thạc sĩ) phân tích hình thức và chủ đề giao hưởng Nguyễn Văn Nam; Trịnh Hoài Thu (2010, Luận án Tiến sĩ) nghiên cứu ảnh hưởng của âm nhạc dân gian trong khí nhạc thế kỷ XX; Phạm Phương Hoa (2013, Một số thủ pháp sáng tác tiêu biểu trong âm nhạc thế kỷ XX) tổng hợp các thủ pháp điệu thức, tiết tấu, hòa thanh; Vũ Tú Cầu (2017, Luận án Tiến sĩ) phân tích thủ pháp hòa âm trong giao hưởng Việt Nam sau 1975.

Khoảng trống nghiên cứu

Các tài liệu lý thuyết phương Tây và trong nước chủ yếu trình bày khái niệm hoặc minh họa trên tác phẩm cổ điển thế giới, ca khúc và dân ca; các luận án khí nhạc Việt Nam trước đó tập trung vào từng phương tiện riêng lẻ (phức điệu, hòa âm, âm nhạc dân gian) hoặc từng tác giả cụ thể. Chưa có công trình nào tổng hợp và phân tích có hệ thống cặp phạm trù thuận – nghịch trong tổng thể các phương tiện luật nhịp, tiết tấu, điệu thức, hòa âm và phối khí ở tác phẩm giao hưởng Việt Nam sau 1975.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án tiếp cận khái niệm thuận và nghịch theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp:

  • Nghĩa rộng: Thuận là sự hòa hợp, thích hợp, phù hợp với quy luật vận động tự nhiên; nghịch là sự bất hòa, không thích hợp, đối lập với chiều vận động thông thường.
  • Nghĩa hẹp trong âm nhạc học:
    • Về âm học và tâm lý học: Dựa trên lý thuyết consonance (hòa hợp, tỷ lệ số nguyên nhỏ từ thời Pythagore và Zarlino, giảm căng thẳng âm thanh) và dissonance (bất hòa, độ thô ráp, tạo độ căng âm thanh).
    • Về luật nhịp và tiết tấu: Sử dụng lý thuyết của Harald Krebs về bất hòa nhịp điệu gồm: bất hòa nhóm (grouping dissonance - kết hợp các cách chia phân nhịp đối lập như chia 2 đi cùng chia 3), bất hòa chuyển vị (displacement dissonance - lệch pha vị trí phách), bất hòa trực tiếp (theo chiều dọc) và bất hòa gián tiếp (nối tiếp theo chiều ngang); kết hợp lý thuyết về tiết nhịp pha của Vakhrameev cùng các dạng phân chia cơ bản/tự do, đảo phách, nghịch phách, nhấn lệch, nhấn bất thường của Phạm Tú Hương, Đỗ Xuân Tùng, Nguyễn Trọng Ánh.
    • Về quãng và hợp âm: Phân loại theo mức độ thuận (thuận rất hoàn toàn: 1Đ, 8Đ; thuận hoàn toàn: 4Đ, 5Đ; bán thuận: 3t, 3T, 6t, 6T) và mức độ nghịch (2t, 2T, 4tg, 5g, 7t, 7T, các quãng tăng/giảm, hợp âm chứa quãng nghịch, hợp âm nhiều âm, hợp âm biến âm).
    • Về điệu thức: Phân loại điệu thức 7 âm cổ (Ionian, Dorian, Phrygian, Lydian, Mixolydian, Aeolian, Locrian), điệu thức trưởng – thứ phương Tây, hệ thống điệu thức ngũ cung Việt Nam (không có và có bán âm), thang âm toàn cung, hệ thống 12 âm (twelve-tone), song điệu tính (bitonal), đa điệu tính (polytonal) và hệ thống trục điệu tính đối trục (axial system) của Béla Bartók.
Phương tiện âm nhạc Biểu hiện tính thuận (Ổn định, hài hòa) Biểu hiện tính nghịch (Căng thẳng, kịch tính)
Luật nhịp Sử dụng cố định nhịp đơn/phức; thay đổi nhịp đơn/phức trong thời gian dài (≥ 8 ô nhịp); kết hợp nhịp có quan hệ gần (cùng cấp chia, cùng giá trị phách). Sử dụng nhịp hỗn hợp (5/4, 7/8...); đổi từ nhịp đơn/phức sang nhịp hỗn hợp; kết hợp nhịp quan hệ xa liên tục; không xác định số chỉ nhịp (ameter).
Tiết tấu Phân chia trường độ cơ bản (chia đôi, chia bốn, chia ba ở nốt chấm dôi); trọng âm trùng với phách mạnh của luật nhịp. Phân chia trường độ tự do (chùm 3, 5, 6, 7... trên nốt thường; chùm 2, 4 trên nốt chấm dôi); đảo phách, nghịch phách, nhấn lệch, nhấn bất thường, đa tiết tấu (polyrhythm).
Quãng & Hợp âm Quãng 1Đ, 8Đ, 4Đ, 5Đ, 3t, 3T, 6t, 6T; hợp âm 3 nốt ổn định diatonic. Quãng 2, 7, 4tg, 5g, quãng tăng/giảm; hợp âm 3 nốt chứa quãng nghịch, hợp âm 4 nốt, hợp âm bảy, hợp âm chứa biến âm, chùm âm (tone cluster).
Điệu thức Sử dụng một trung tâm điệu tính rõ ràng (trưởng, thứ, ngũ cung truyền thống, điệu thức cổ). Điệu thức toàn cung, điệu thức 12 âm, song điệu tính (bitonal), đa điệu tính (polytonal), thủ pháp không điệu tính (atonal), luân chuyển điệu tính liên tục.
Phối khí Biên chế cân bằng, sử dụng âm sắc đồng nhất hoặc bổ trợ tự nhiên theo 4 bộ chuẩn; âm lượng ổn định. Khai thác âm sắc đối lập gắt gao, chồng chất các bè đa âm tiết, sử dụng bộ gõ phi truyền thống, tương phản đột ngột về âm vực và cường độ.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành âm nhạc học:

  1. Phương pháp phân tích, chứng minh: Phương pháp chủ đạo, dùng để mổ xẻ văn bản tổng phổ các tác phẩm giao hưởng, chứng minh các cấu trúc luật nhịp, tiết tấu, hòa âm, điệu thức và phối khí mang tính thuận hoặc nghịch ở Chương 2 và Chương 3.
  2. Phương pháp tổng hợp: Thu thập, xử lý và phân loại các tài liệu lý thuyết, lịch sử âm nhạc và danh mục bản nhạc để thiết lập cơ sở lý thuyết và thực tiễn ở Chương 1.
  3. Phương pháp đối chiếu – so sánh: Đối sánh các trạng thái cấu trúc âm nhạc giữa các tác phẩm, giữa các giai đoạn và giữa các phương tiện biểu hiện nhằm làm rõ mức độ tương quan thuận – nghịch trong từng chương và phần kết luận.

Nguồn dữ liệu

Văn bản tổng phổ của các tác phẩm giao hưởng sau năm 1975 thuộc nhiều thế hệ nhạc sĩ Việt Nam: Đỗ Nhuận, Hoàng Việt, Trọng Bằng, Chu Minh, Đàm Linh, Quang Hải, Nguyễn Văn Nam, Ca Lê Thuần, Hoàng Cương, Đỗ Hồng Quân, Đặng Hữu Phúc, Trọng Đài, Vũ Nhật Tân, Đinh Lăng, Trần Mạnh Hùng, Doãn Nho, Phan Ngọc, Trần Quý, Hoàng Dương, Trần Trọng Hùng, Nguyễn Đình Phúc, Trần Thanh Hà.


Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN

Chương 1 thiết lập khung lý thuyết và bối cảnh thực tiễn cho toàn bộ luận án qua 3 nhóm nội dung:

  • Lý thuyết về thuận và nghịch trong âm nhạc: Phân tích từ nguyên và định nghĩa của các từ điển chuyên ngành (Dictionary of Music and Musicians, Norman Cazden, Đào Duy Anh); xác định bản chất âm học dựa trên tần số dao động và bản chất tâm lý học qua độ căng thẳng âm thanh; hệ thống hóa tiêu chuẩn thuận nghịch của các quãng cơ bản và quãng chuyển hóa; phân loại điệu thức 7 âm cổ, điệu thức ngũ cung có/không bán âm, điệu thức toàn cung, chuỗi 12 âm.
  • Lý thuyết về luật nhịp và tiết tấu: Định nghĩa các dạng luật nhịp (nhịp đơn, nhịp phức, nhịp hỗn hợp); xác định tiêu chí quan hệ gần và xa khi chuyển đổi luật nhịp; phân tích cách phân chia trường độ cơ bản theo cấp số 2 và phân chia tự do (chùm lẻ); làm rõ cơ chế của đảo phách, nghịch phách, nhấn lệch, nhấn bất thường và hiện tượng không ghi số chỉ nhịp (ameter).
  • Cơ sở thực tiễn về tác giả và tác phẩm giao hưởng Việt Nam sau 1975: Khái quát tiến trình hình thành và phát triển của nghệ thuật giao hưởng Việt Nam; phân loại các thể loại giao hưởng khảo sát (giao hưởng nhiều chương, một chương, concerto); giới thiệu tiểu sử sáng tác và đặc trưng ngôn ngữ của các tác giả tiêu biểu trong mẫu khảo sát.

CHƯƠNG 2: THUẬN, NGHỊCH TRONG LUẬT NHỊP VÀ TIẾT TẤU

Chương 2 đi sâu phân tích văn bản tổng phổ nhằm làm rõ các biểu hiện cụ thể của luật nhịp và tiết tấu:

  • Biểu hiện tính thuận trong luật nhịp và tiết tấu:
    • Luật nhịp thuận: Sử dụng cố định một loại nhịp đơn hoặc nhịp phức xuyên suốt các chương/phần; thay đổi nhịp đơn/phức trong phạm vi thời gian dài (từ 8 ô nhịp trở lên) tạo tính ổn định cấu trúc; chuyển đổi giữa các luật nhịp có quan hệ gần (2/4 sang 4/4, 2/4 sang 6/8, 3/4 sang 9/8). Luận án minh chứng qua các trích đoạn: Nguyễn Văn Nam (Cửu Long dậy sóng, chương III, nhịp 1→10; Adysky, chương I, nhịp 96→99), Trọng Đài (Concerto cho dàn nhạc, chương I, nhịp 57→61), Đỗ Hồng Quân (Rhapsody Việt Nam, phần IV, nhịp 63→70), Trần Trọng Hùng (Trở về Điện Biên, chương II, nhịp 1→4).
    • Tiết tấu thuận: Khai thác cách phân chia trường độ cơ bản chẵn đều; duy trì trọng âm tiết tấu trùng khớp với phách mạnh của ô nhịp; sử dụng các âm hình tiết tấu cố định tạo điểm tựa ổn định nhịp điệu (Trọng Bằng trong Người về đem tới ngày vui, nhịp 171→179 ở bè bassoon, violoncello và double bass; Vĩnh Cát trong Ngàn năm khoảnh khắc, nhịp 53→62; Nguyễn Đình Phúc trong Symphony C-dur, chương II, nhịp 17→19).
  • Biểu hiện tính nghịch trong luật nhịp và tiết tấu:
    • Luật nhịp nghịch: Sử dụng cố định hoặc luân chuyển liên tục các loại nhịp hỗn hợp không cân đối (5/4, 7/8, 5/8); chuyển đổi đột ngột giữa các nhịp có quan hệ xa trong thời gian ngắn dưới 8 ô nhịp; không xác định số chỉ nhịp (ameter) tạo cảm giác vô nhịp tự do.
    • Tiết tấu nghịch: Ứng dụng các thủ pháp phân chia tự do (chùm 3, chùm 5, chùm 7 trên nền nhịp chẵn); đảo phách ngân qua phách mạnh liên tục nhiều ô nhịp; nghịch phách tạo khoảng lặng bất ngờ ngay phách mạnh; nhấn lệch và nhấn bất thường phá vỡ chu kỳ trọng âm tự nhiên; kết hợp đa tiết tấu (polyrhythm) giữa các tuyến bè. Minh chứng qua các tác phẩm: Hoàng Cương (Thác đổ, nhịp 48, 105→106, 130, 156→161, 265→267 và âm hình gõ timpani), Ca Lê Thuần (Giao hưởng thơ, nhịp 45→59; Concerto cho piano và dàn nhạc, nhịp 216→220), Doãn Nho (Chiến thắng, chương III, nhịp 30→35), Nguyễn Văn Nam (Chuyện Nàng Kiều, chương III, nhịp 6→10), Trần Quý (Lục bình tím, chương II, nhịp 120→126), Hoàng Dương (Tiếng hát sông Hương, chương VI, nhịp 46→61 và 62→94).

CHƯƠNG 3: THUẬN, NGHỊCH TRONG ĐIỆU THỨC, HÒA ÂM VÀ PHỐI KHÍ

Chương 3 khảo sát ngôn ngữ âm nhạc theo chiều dọc và màu sắc âm thanh dàn nhạc:

  • Tính chất thuận, nghịch trong điệu thức:
    • Điệu thức thuận: Vận dụng các thang âm 7 âm điệu tính trưởng – thứ tự nhiên; điệu thức ngũ cung không có bán âm mang âm hưởng dân gian truyền thống; các điệu thức cổ diatonic có trung tâm âm chủ vững vàng. Dẫn chứng từ: Trần Thanh Hà (Giao hưởng số 1, chương I, nhịp 1→9), Đỗ Hồng Quân (Rhapsody Việt Nam, phần II, nhịp 20→25; phần III, nhịp 1→7), Doãn Nho (Chiến thắng, chương I, nhịp 127→140), Phan Ngọc (Hào khí Tây Sơn, phần I, nhịp 27→31), Nguyễn Văn Nam (Sài Gòn 300 năm, chương I, nhịp 12→22; Chuyện Nàng Kiều, chương I, nhịp 73→80).
    • Điệu thức nghịch: Sử dụng thang âm ngũ cung có bán âm (quãng 2 thứ xen kẽ); thang âm toàn cung (hướng thăng và giáng); hệ thống 12 âm có âm chủ; cấu trúc song điệu tính (bitonal) và đa điệu tính (polytonal); luân chuyển điệu thức liên tục; thủ pháp đối trục của Béla Bartók. Dẫn chứng từ: Đàm Linh (Không đề, phần I, phần III, phần IV), Trần Mạnh Hùng (Lệ Chi viên, nhịp 27→31, 49→56; Bạch Đằng giang, nhịp 34→41), Đinh Lăng (Heroic Youth, nhịp 21→28, 37→41), Vĩnh Cát (Ngàn năm khoảnh khắc, phần II, nhịp 66→71; phần III, nhịp 38→45), Đỗ Hồng Quân (Symphony, nhịp 59→66; Rhapsody Việt Nam, phần III, nhịp 33→36).
  • Tính chất thuận, nghịch trong hòa âm:
    • Hòa âm thuận: Sử dụng các chồng âm 3 nốt xây dựng từ các quãng thuận (quãng 3 trưởng, 3 thứ, 5 đúng, 8 đúng); các tiến trình hòa âm công năng chủ – át – hạ át rõ ràng (Phan Ngọc trong Hào khí Tây Sơn, chương I, nhịp 32→36; Hoàng Dương trong Tiếng hát sông Hương, chương III, nhịp 25→30; Đàm Linh trong Không đề, phần III, nhịp 83→86).
    • Hòa âm nghịch: Sử dụng các hợp âm 3 nốt chứa quãng nghịch (quãng 2, 7, quãng tăng, quãng giảm); hợp âm 4 nốt; hợp âm bảy chứa quãng 2; hợp âm chứa các âm biến âm chromatic; hợp âm chứa các âm liền kề tạo độ cọ xát âm thanh gắt gao (Trọng Bằng trong Chào năm 2000 – Chào thiên niên kỷ mới, chương I, nhịp 159→161; Phan Ngọc trong Hào khí Tây Sơn, chương II, nhịp 144→149; Đinh Lăng trong Heroic Youth, nhịp 240→246; Trần Thanh Hà trong Giao hưởng số 1, chương I, nhịp 64→81).
  • Tính chất thuận, nghịch trong phối khí:
    • Phối khí thuận (hợp lý, hài hòa, ổn định): Bố cục dàn nhạc chặt chẽ theo phân bổ 4 bộ truyền thống; tuyến bè giai điệu rõ nét; sự kết hợp âm sắc êm dịu, mềm mại giữa bộ dây và bộ gỗ.
    • Phối khí nghịch (bất thường, căng thẳng, kịch tính): Chồng chéo các mảng khối âm thanh đối lập cực đoan giữa bộ đồng và bộ gõ; khai thác các âm vực cực trầm hoặc cực cao; thay đổi đột ngột sắc thái và cường độ âm lượng (ff sang pp hoặc ngược lại); tạo các tuyến bè phức điệu tương phản gắt gao.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận khoa học

  1. Hệ thống hóa lý thuyết thuận – nghịch: Luận án đã tổng hợp và chuẩn hóa khung lý thuyết về tính thuận và nghịch từ âm nhạc cổ điển phương Tây, bổ sung cách tiếp cận theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp để áp dụng phân tích tác phẩm khí nhạc quy mô lớn của Việt Nam.
  2. Xác lập tiêu chí nhận diện thuận – nghịch trong từng phương tiện: Công trình đã phân định rõ ràng các tiêu chí khoa học để xác định tính thuận và nghịch trong luật nhịp (quan hệ gần/xa, chu kỳ ổn định/bất thường, ameter), tiết tấu (phân chia cơ bản/tự do, vị trí trọng âm), điệu thức (7 âm, ngũ cung biến thể, toàn cung, 12 âm, song/đa điệu tính), hòa âm (quãng, cấu trúc hợp âm 3–4 nốt, biến âm) và phối khí (hài hòa/kịch tính).
  3. Đúc kết quy luật vận động của giao hưởng Việt Nam sau 1975: Luận án chỉ ra rằng các nhạc sĩ Việt Nam không chỉ kế thừa các nguyên lý hòa thanh, phối khí phương Tây mà còn kết hợp các thang âm, điệu thức truyền thống dân tộc; việc vận dụng đan xen giữa thuận và nghịch là quy luật tự nhiên, phản ánh tư duy sáng tạo chuyên nghiệp và thẩm mỹ nghệ thuật hiện đại.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Tài liệu tham khảo chuyên ngành: Cung cấp nguồn tư liệu phân tích tổng phổ có giá trị học thuật cho nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên các chuyên ngành Sáng tác, Chỉ huy giao hưởng, Âm nhạc học và Lý thuyết âm nhạc tại các nhạc viện và cơ sở đào tạo văn hóa nghệ thuật.
  2. Định hướng ứng dụng cho sáng tác và nghiên cứu tiếp nối: Kết quả phân tích về sự kết hợp giữa các yếu tố thuận và nghịch mở ra các gợi ý cụ thể cho các nhạc sĩ trong việc tổ chức cấu trúc tác phẩm, xử lý hòa âm nhiều bè và phối khí cho dàn nhạc; đồng thời cung cấp khung phương pháp luận để mở rộng nghiên cứu sang các thể loại khí nhạc khác của âm nhạc chuyên nghiệp Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Luận án giới hạn phạm vi khảo sát ở các tác phẩm thuộc thể loại giao hưởng (liên khúc, tổ khúc, rhapsody, thơ giao hưởng, ouverture, ballad và concerto cho nhạc cụ phương Tây với dàn nhạc) sáng tác sau năm 1975 của các nhạc sĩ trong nước; chưa mở rộng sang toàn bộ các thể loại thính phòng nhỏ, thanh xướng kịch hay tác phẩm viết cho nhạc cụ dân tộc hòa tấu cùng dàn nhạc giao hưởng.
    • Không đi sâu vào phân tích lịch sử biến đổi thuận nghịch của âm nhạc thế giới qua các thời kỳ lịch sử cũng như không lượng hóa tỷ lệ tương quan thống kê chính xác giữa các đoạn thuận và nghịch trong toàn bộ tác phẩm khảo sát.
    • Chưa bao quát các sáng tác khí nhạc của các nhạc sĩ người Việt Nam sinh sống và làm việc tại nước ngoài cũng như các thang âm điệu thức đặc thù của một số dân tộc thiểu số ít phổ biến.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi phân tích tính chất thuận – nghịch sang các thể loại âm nhạc thính phòng, hợp xướng, nhạc kịch và các tác phẩm kết hợp nhạc cụ truyền thống với dàn nhạc giao hưởng.
    • Mở rộng đối tượng khảo sát sang các tác phẩm khí nhạc của các nhạc sĩ Việt kiều.
    • Nghiên cứu so sánh đối chiếu tính chất thuận – nghịch trong tác phẩm khí nhạc của Việt Nam với các quốc gia khác trong khu vực Đông Nam Á và châu Á.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Âm nhạc học, Sáng tác, Chỉ huy: Nắm vững phương pháp phân tích văn bản tổng phổ khí nhạc lớn; hiểu rõ kỹ thuật kết hợp điệu thức ngũ cung Việt Nam với các kỹ thuật hòa âm, luật nhịp cận – hiện đại phương Tây.
  • Giảng viên các cơ sở đào tạo âm nhạc chuyên nghiệp (Nhạc viện TP. Hồ Chí Minh, Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam, v.v.): Sử dụng các chương 2 và 3 làm ngữ liệu giảng dạy các môn Phân tích tác phẩm âm nhạc, Hòa âm, Phối khí và Lịch sử âm nhạc Việt Nam.
  • Nhạc sĩ sáng tác và nhà phê bình âm nhạc: Tham khảo các mô hình kết hợp tiết tấu phức tạp, cấu trúc hợp âm chứa biến âm và thủ pháp tạo độ căng kịch tính trong tổ chức âm thanh dàn nhạc giao hưởng.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân định tính "thuận" và "nghịch" trong luật nhịp dựa trên những tiêu chí nào?

Luận án phân định dựa trên ba tiêu chí chính:

  • Sự ổn định chu kỳ phách mạnh/nhẹ: Luật nhịp thuận sử dụng cố định các loại nhịp đơn hoặc nhịp phức (2/4, 3/4, 4/4, 6/8); luật nhịp nghịch sử dụng các nhịp hỗn hợp không cân đối (5/4, 7/8, 5/8) hoặc không xác định số chỉ nhịp (ameter).
  • Thời gian duy trì: Thay đổi luật nhịp kéo dài từ 8 ô nhịp trở lên được tính là thuận (ổn định); thay đổi diễn ra liên tục dưới 8 ô nhịp làm gia tăng tính nghịch (bất thường).
  • Quan hệ giữa các loại nhịp: Chuyển đổi giữa các nhịp có quan hệ gần (cùng cấp chia, cùng giá trị phách như 2/4 sang 4/4 hoặc 2/4 sang 6/8) là thuận; chuyển đổi giữa các nhịp có quan hệ xa hoặc từ nhịp đơn/phức sang nhịp hỗn hợp là nghịch.

2. Những thủ pháp tiết tấu nào được luận án xếp vào nhóm "tiết tấu nghịch"?

Các biểu hiện tiết tấu nghịch bao gồm:

  • Sử dụng cách phân chia trường độ tự do (chia lẻ như chùm 3, 5, 6, 7 trên nốt không chấm dôi; chia chẵn như chùm 2, 4 trên nốt có chấm dôi).
  • Sử dụng đảo phách ngân dài từ phần nhẹ sang phần mạnh qua nhiều ô nhịp.
  • Nghịch phách tạo dấu lặng bất ngờ ở phách mạnh.
  • Nhấn lệch (trọng âm nốt không trùng phách mạnh) và nhấn bất thường vào các vị trí phách ngẫu nhiên.
  • Kết hợp đa tiết tấu (polyrhythm) giữa các tuyến bè khác nhau trong dàn nhạc.

3. Tác giả luận án đã chỉ ra các nhạc sĩ Việt Nam sử dụng những dạng điệu thức nào để tạo tính "nghịch"?

Để tạo tính nghịch, căng thẳng và kịch tính, các tác giả giao hưởng Việt Nam sau 1975 đã vận dụng:

  • Điệu thức ngũ cung có bán âm (chứa các quãng 2 thứ cọ xát).
  • Điệu thức toàn cung (hướng thăng và hướng giáng).
  • Điệu thức 12 âm có âm chủ.
  • Kỹ thuật song điệu tính (bitonal) và đa điệu tính (polytonal).
  • Thủ pháp đối trục (axial system) theo nguyên lý của Béla Bartók.

4. Về mặt hòa âm và phối khí, tính chất "nghịch" được biểu hiện như thế nào trong tác phẩm?

  • Về hòa âm: Thể hiện qua việc sử dụng các quãng nghịch (quãng 2, 7, quãng tăng, quãng giảm); các cấu trúc hợp âm 3–4 nốt chứa quãng nghịch; hợp âm bảy chứa quãng 2; hợp âm chứa biến âm chromatic và các chùm âm liền kề (tone cluster).
  • Về phối khí: Thể hiện qua sự tương phản gắt gao giữa các mảng khối âm thanh của các bộ nhạc cụ (đặc biệt là bộ đồng và bộ gõ); việc khai thác âm vực cực đoan; biến đổi đột ngột sắc thái cường độ (ff sang pp); và việc bố trí các tuyến bè phức điệu tương phản kịch tính.

5. Những tác phẩm giao hưởng tiêu biểu nào được luận án trích dẫn làm ngữ liệu phân tích?

Luận án khảo sát nhiều tác phẩm tiêu biểu như: Cửu Long dậy sóng, Adysky, Chuyện Nàng Kiều, Sài Gòn 300 năm, Mẹ Việt Nam (Nguyễn Văn Nam); Giao hưởng thơ, Concerto cho piano và dàn nhạc, Ballade Symphony (Ca Lê Thuần); Thác đổ (Hoàng Cương); Rhapsody Việt Nam, Symphony (Đỗ Hồng Quân); Concerto cho dàn nhạc (Trọng Đài); Không đề (Đàm Linh); Ngàn năm khoảnh khắc (Vĩnh Cát); Người về đem tới ngày vui, Chào năm 2000 – Chào thiên niên kỷ mới (Trọng Bằng); Chiến thắng (Doãn Nho); Giao hưởng số 1 (Trần Thanh Hà); Lệ Chi viên, Bạch Đằng giang (Trần Mạnh Hùng); Hào khí Tây Sơn (Phan Ngọc); Tiếng hát sông Hương (Hoàng Dương); Heroic Youth (Đinh Lăng); Trở về Điện Biên (Trần Trọng Hùng); Lục bình tím (Trần Quý).


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Mỹ Hạnh là công trình nghiên cứu âm nhạc học chuyên sâu, hệ thống hóa toàn diện cặp phạm trù tính chất thuận và nghịch trong các tác phẩm giao hưởng Việt Nam giai đoạn từ sau năm 1975. Thông qua phương pháp phân tích văn bản tổng phổ chi tiết trên các bình diện luật nhịp, tiết tấu, điệu thức, hòa âm và phối khí, luận án đã làm rõ cơ sở lý thuyết âm nhạc phương Tây cũng như sự vận dụng sáng tạo ngôn ngữ âm nhạc dân tộc của các nhạc sĩ Việt Nam. Công trình khẳng định tính tất yếu khách quan của sự kết hợp giữa thuận và nghịch như một động lực phát triển nghệ thuật, đóng góp nguồn tư liệu khoa học có giá trị cho công tác nghiên cứu, đào tạo và sáng tác âm nhạc chuyên nghiệp.