Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ âm nhạc học với đề tài "Hát Trống quân" do nghiên cứu sinh Phạm Minh Hương thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Thụy Loan tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam (bảo vệ năm 2018, mã số chuyên ngành: 62 21 02 01).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Hát Trống quân là một sinh hoạt văn hóa truyền thống của người Việt, từng phổ biến rộng rãi ở miền Bắc Việt Nam, đặc biệt vào các dịp nông nhàn, hội hè, đình đám hoặc các lễ hội mùa xuân, mùa thu mang yếu tố tín ngưỡng tại vùng trung du Bắc bộ. Dưới tác động của hoàn cảnh lịch sử và sự biến đổi xã hội, Hát Trống quân đã bị mai một đáng kể. Dù Nhà nước đã có các dự án đầu tư khôi phục, song loại hình nghệ thuật này sau khi được phục hồi ở một số địa phương đã có những biến đổi nhất định, không còn giữ nguyên vẹn diện mạo và vai trò ban đầu.
Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về Hát Trống quân dưới các góc độ văn học, văn hóa học hoặc dân tộc học, nhưng phần lớn mới dừng lại ở việc khảo tả sinh hoạt đơn lẻ tại một số địa phương, hoặc chỉ tiếp cận một vài khía cạnh riêng biệt. Do đó, việc nghiên cứu một cách tổng quan, có hệ thống và xác lập các đặc trưng âm nhạc học nhằm nhận diện thể loại cũng như phân biệt các phong cách địa phương của Hát Trống quân là một khoảng trống khoa học cần được giải quyết.
Mục tiêu và mục đích nghiên cứu
- Mục tiêu nghiên cứu:
- Phác thảo diện mạo tổng quát của thể loại Hát Trống quân.
- Xác định các đặc trưng âm nhạc chung và các đặc trưng âm nhạc mang tính địa phương của Hát Trống quân nhằm phân biệt thể loại này với các thể loại dân ca khác, đồng thời nhận diện các phong cách âm nhạc tại các vùng, tiểu vùng khác nhau.
- Mục đích nghiên cứu:
- Giải quyết một phần các khoảng trống chưa được đề cập hoặc nghiên cứu chưa sâu kỹ trong các tài liệu đi trước, đóng góp vào việc nhận diện đầy đủ hơn về Hát Trống quân từ góc độ âm nhạc học.
- Cung cấp cơ sở khoa học góp phần vào công tác bảo tồn di sản Hát Trống quân một cách đúng đắn, phù hợp với từng vùng và địa phương cụ thể.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Thể loại Hát Trống quân của người Việt ở Bắc bộ, trọng tâm là các lối Hát Trống quân hiện diện với tư cách là một sinh hoạt văn hóa độc lập.
- Phạm vi không gian:
- Địa bàn khảo sát điền dã trực tiếp tại các địa phương thuộc vùng đồng bằng và trung du Bắc bộ ven sông Hồng và sông Lô: Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hưng Yên, Hải Dương, Hà Tây cũ (nay thuộc Hà Nội).
- Địa bàn khai thác tư liệu âm thanh lưu trữ tại Viện Âm nhạc: Hải Phòng, Ninh Bình, Hà Bắc cũ (nay là Bắc Ninh).
- Luận án cũng ghi nhận sự hiện diện của điệu nhạc mang tên Trống quân ở Quảng Trị (miền Trung) với tư cách là đối tượng đối chiếu mở rộng.
- Phạm vi nội dung và thời gian: Bao quát các thành tố diễn xướng (thời điểm, không gian, địa điểm, phương thức, hình thức, đối tượng tham gia, nội dung diễn xướng), trong đó trọng tâm đi sâu vào phân tích các thành tố âm nhạc học từ nguồn tư liệu lịch sử, tư liệu điền dã và bản ghi âm lưu trữ.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án thống kê và phân loại 45 tài liệu văn bản giấy có đề cập đến Hát Trống quân (tiếp cận trực tiếp 33 tài liệu, tiếp cận gián tiếp 12 tài liệu) và phân kỳ lịch sử nghiên cứu thành 3 giai đoạn:
TIẾN TRÌNH NGHIÊN CỨU HÁT TRỐNG QUÂN
Giai đoạn trước năm 1950 Giai đoạn 1950 - trước 1980 Giai đoạn 1980 đến nay
- Giai đoạn trước năm 1950 (12 tài liệu):
- Các tác giả nước ngoài: A. Chéon (1889 - Notes sur l’origine des chants Annamites), H. Dumoutier (1890 - Les chants et les traditions des Annamites), A. Gaston Knops (1913 - Histoires de la musique dans l’Indochine), Nordemann (1914 - Chrestomathie Annamite), G. Cordier (1920 - Essai de la littérature annamite. La chanson).
- Các tác giả Việt Nam: Nguyễn Văn Huyên (1934 - Les chants alternés des garçons et des filles en Annam), Vũ Hy Tố (1927 - Chống quân đối ca), Anh Ngẫn (1941 - Trống quân giữa trai Xuân Cầu và gái Khúc Lộng), cùng một số bài báo trên Trung Bắc chủ nhật (1940, 1943).
- Đặc điểm: Tiếp cận dưới góc độ miêu tả phong tục, dân tộc học hoặc ngôn ngữ học xã hội; bước đầu ghi nhận nhạc cụ trống đất và sưu tập lời ca.
- Giai đoạn 1950 đến trước năm 1980 (10 tài liệu):
- Các công trình tiêu biểu: Phạm Duy (1952), Tư Nguyên (1957), Vũ Ngọc Phan (1957), Trần Văn Khê (1958 - Hát hội), Lê Văn Hảo (1963 - Sơ khảo về hát Trống quân, dân ca Bắc Việt), Nguyễn Lộc (1974), Tú Ngọc (1975), Vũ Ngọc Phan - Tạ Phong Châu - Phạm Ngọc Hy (1977), Thân Đức Thu (1977).
- Đặc điểm: Mở rộng địa giới nghiên cứu ra toàn khu vực Bắc bộ; bắt đầu phân tích cấu trúc lời ca, từ phụ và đưa ra các giả thuyết dân tộc học về nguồn gốc Hát Trống quân.
- Giai đoạn 1980 đến nay (23 tài liệu):
- Các công trình chuyên khảo và nghiên cứu âm nhạc: Nguyễn Hữu Thu (1980, 1981, 1983, 1987, 1989, 1991), Tú Ngọc (1983, 1994, 1997), Phạm Khương (1984, 1986), Vũ Hồng Đức (1993), Bùi Trọng Hiền (1999), Lê Danh Khiêm (2004), Phạm Minh Hương (2004), Lê Văn Toàn (chủ nhiệm đề tài cấp Bộ, 2009).
- Đặc điểm: Đi sâu vào các khía cạnh âm nhạc học như cấu trúc bài bản, thang âm, điệu thức, mô hình giai điệu, tiết tấu trống đệm tại các địa phương cụ thể (Dạ Trạch, Đức Bác, Vĩnh Phú, Hải Hưng, Bắc Ninh).
| Nhóm vấn đề đã nghiên cứu |
Các luận điểm/giả thuyết tiêu biểu trong tài liệu trước |
| Tên gọi "Trống quân" |
- Đọc chệch từ "Tống quân" (G. Cordier). - Hát của quân sĩ thời Trần Hưng Đạo hoặc Quang Trung dùng trống thúc quân giữ nhịp (Phan Kế Bính, Phạm Duy). - Bắt nguồn từ nhạc khí trống đất tự đệm (Nguyễn Hữu Thu). - Bắt nguồn từ tiếng trống giữ nhịp bình quân (Lê Kim Thuyên), từ cụm từ đệm "Kia hỡi trống quân" (Nguyễn Thụy Loan), hoặc đọc chệch từ "trống cơm" (Phạm Minh Hương). |
| Nguồn gốc thể loại |
- Nhóm 1: Điển tích Trung Quốc (từ tích tiễn bạn "Tống quân" hoặc bài "Nguyệt xuất" trong Kinh Thi). - Nhóm 2: Xuất phát từ quân đội thời Trần đánh Nguyên thế kỷ XIII hoặc thời Tây Sơn Quang Trung đánh Thanh thế kỷ XVIII. - Nhóm 3: Nguồn gốc bản địa cổ sơ gắn với tín ngưỡng nông nghiệp thờ trăng, cầu nước và văn hóa Đông Sơn (Lê Văn Hảo, Nguyễn Hữu Thu). |
| Diễn trình cuộc hát |
Kết cấu 3 chặng: Hát vào đám (hát chào, giao hẹn) - Hát kết/Hát dở giọng/Giao duyên (hát đố, hát họa) - Hát giã đám/Giã bạn. |
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Luận án xác định không tiếp tục đào sâu các tranh luận lịch sử về tên gọi và nguồn gốc do thiếu văn bản gốc để xác minh, mà tập trung giải quyết ba khoảng trống then chốt thuộc chuyên ngành Âm nhạc học:
- Tổng hợp diện mạo tổng thể của các loại hình sinh hoạt Hát Trống quân gắn với diện mạo âm nhạc khái quát.
- Xác định các điểm khác biệt mang tính địa phương của các làn điệu Hát Trống quân.
- Đúc kết các đặc trưng âm nhạc chung và mô hình cấu trúc làn điệu phổ biến ở từng vùng, tiểu vùng và địa phương.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Hệ thống lý thuyết nền tảng: Tiếp thu lý thuyết âm nhạc học phương Tây kết hợp lý thuyết âm nhạc truyền thống Việt Nam; các quan điểm về bản chất văn hóa và tiến trình phát triển âm nhạc dân tộc của các học giả: Tô Ngọc Thanh, Nguyễn Thụy Loan, Tú Ngọc, Nguyễn Hữu Thu, Tô Vũ.
- Các khái niệm và thuật ngữ chuyên ngành sử dụng trong luận án:
- Sinh hoạt Trống quân: Chỉ các phương diện tổ chức, diễn xướng, lề lối và môi trường văn hóa của thể loại.
- Hát Trống quân: Chỉ đối tượng nghiên cứu ở góc độ nghệ thuật và đặc điểm âm nhạc.
- Ca từ: Tương đương với đơn vị "chữ" trong câu thơ khi được hát lên cùng giai điệu, bao gồm ca từ chính (từ ngữ trong câu thơ gốc) và ca từ phụ (từ phụ có nghĩa, tiếng đệm, tiếng đưa hơi).
- Thang âm: Toàn bộ số lượng âm xuất hiện trong mỗi bài Hát Trống quân (bao gồm cả âm hoa mỹ) sắp xếp theo thứ tự độ cao từ thấp lên cao, phản ánh cả âm vực của bài (kế thừa định nghĩa của Tô Vũ, Nguyễn Thụy Loan, The New Grove Dictionary of Music and Musicians).
- Nhóm cao độ tạo nên đường nét cơ bản của giai điệu: Tập hợp cao độ nòng cốt được xác định dựa trên 3 tiêu chí: (1) Tần suất xuất hiện cao; (2) Xuất hiện ở vị trí cố định (từ thứ 2, 3, 4 câu 6; từ thứ 3, 6 câu 8; nét nhạc kết trổ; motif mở đầu); (3) Cao độ xuất hiện ít nhưng tạo điểm nhấn và âm hưởng đặc trưng cho bài.
- Cấu trúc - hình thức âm nhạc: Áp dụng hệ thống phân loại cấu trúc của PGS.TS Nguyễn Thụy Loan gồm cấu trúc vĩ mô (tổng thể), cấu trúc trung bình, cấu trúc vi mô và cấu trúc cơ sở (trổ hát/đoạn nhạc).
- Trổ hát: Đơn vị cấu trúc cơ sở gồm cả âm nhạc và lời ca cấu thành bài Hát Trống quân.
- Tiết tấu lời ca (TTLC): Mô hình phân bố khoảng cách thời gian giữa các ca từ chính trong lời thơ, tồn tại độc lập với tiết tấu của giai điệu âm nhạc.
Phương pháp nghiên cứu thực tế
- Phương pháp khai thác tư liệu thành văn: Xử lý, phân tích, hệ thống hóa nguồn tài liệu lịch sử, sách chuyên khảo, bài báo và các bản ký âm đã xuất bản.
- Phương pháp điền dã, khảo sát, phỏng vấn, hồi cố: Tiến hành điều tra thực địa, thu thanh, phỏng vấn các nghệ nhân cao tuổi tại Hưng Yên, Phú Thọ, Hải Dương, Hà Tây cũ (Hà Nội), Vĩnh Phúc.
- Phương pháp phân tích âm nhạc, so sánh, đối chiếu và quy nạp: Ký âm, thống kê thang âm, đo đếm quãng, phân tích mối tương quan giữa cao độ giai điệu và thanh điệu ca từ, so sánh đối chiếu cấu trúc giai điệu giữa các vùng để quy nạp thành các mô hình nhận diện.
- Phương pháp liên ngành: Kết hợp giữa Âm nhạc học và Văn hóa học, trong đó Âm nhạc học giữ vai trò chủ đạo.
Nguồn tư liệu sử dụng
- Tư liệu điền dã thu thanh trực tiếp từ nghệ nhân tại các địa phương (Đào Hà Lưu, Đào Văn Thảo, Phạm Thị Khuê, Đỗ Thị Thu, Bùi Văn Kiệm, Bùi Thị Dục, Bùi Thị Thủy, Đào Thị Két, Vũ Thị Thơi, Lương Bá Phẩm, Đặng Đình Thản...).
- Tư liệu âm thanh lưu trữ trong kho băng đĩa của Viện Âm nhạc.
- Các bài bản ký âm Hát Trống quân đã được công bố trong các công trình nghiên cứu trước đây.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về Hát Trống quân và một số vấn đề liên quan đến luận án
- Khái quát và phân loại khối tài liệu về Hát Trống quân thành tài liệu văn bản giấy (45 công trình) và tài liệu internet.
- Đánh giá toàn diện các thành tựu nghiên cứu theo 3 giai đoạn lịch sử (trước 1950, 1950 - trước 1980, 1980 đến nay).
- Hệ thống hóa các nội dung đã được nghiên cứu: tên gọi, nguồn gốc lịch sử, môi trường diễn xướng, diễn trình 3 chặng hát, đặc điểm lời ca, cấu trúc thang âm và nhạc cụ trống đất.
- Xác định rõ giới hạn phạm vi nghiên cứu, các khoảng trống khoa học cần giải quyết và thiết lập khung lý thuyết, định nghĩa các thuật ngữ âm nhạc học phục vụ cho toàn bộ luận án.
Chương 2: Diện mạo của Hát Trống quân
Chương 2 khảo tả diện mạo thể loại từ hai bình diện: mục đích diễn xướng và cấu trúc âm nhạc.
DIỆN MẠO SINH HOẠT HÁT TRỐNG QUÂN
- Diện mạo âm nhạc của Hát Trống quân:
- Thang âm và âm vực: Sử dụng đa dạng các hệ thống thang âm (thống kê tại Bảng 2.2), âm vực trải từ hẹp đến rộng tùy theo từng địa phương.
- Cấu trúc - hình thức: Cấu trúc cơ sở là đoạn đơn (một đoạn đơn gồm 2 câu nhạc ngắn - dài, 2 câu cân phương hoặc 3 câu không cân phương theo các Ví dụ âm nhạc 16, 17, 18, 19). Phân ngắt trổ hát bằng nhiều thủ pháp: tiết tấu trống lưu không, ngân dài ca từ cuối trổ, cụm ca từ phụ cố định, điệp lại ca từ, đảo vay trả ca từ, nét láy cố định.
- Nhạc cụ đi kèm: Khảo tả cấu tạo vật lý của trống đất (hố đất, ván gỗ/vỏ cây, cọc tre, dây thép/mây cật, que đánh). Tiết tấu trống gồm các mô hình cơ bản (mô hình 1, 2, 3, 4), mô hình mở rộng và rút gọn; quan hệ với giọng hát ở dạng trùng tiết tấu lời ca hoặc không trùng (giữ nhịp độc lập).
- Mối quan hệ giữa âm nhạc và lời ca: Phân tích sự tương quan giữa cao độ âm nhạc và 6 thanh điệu tiếng Việt (quy luật tiến hành quãng tương ứng thanh điệu, khoảng cách quãng 4Đ, 5Đ ở âm kết câu/đoạn; trường hợp ngược dấu giọng); các mô hình tiết tấu lời ca đồng độ và dị độ (dị độ 1, 2, 3); hiện tượng đảo phách trong giai điệu và tiết luật ca từ.
Chương 3: Đặc trưng âm nhạc chung và đặc trưng âm nhạc mang tính địa phương của Hát Trống quân
- Đặc trưng âm nhạc chung của Hát Trống quân: Xác lập các nguyên lý cốt lõi về tổ chức giai điệu, cấu trúc câu nhạc dựa trên thể thơ lục bát, quan hệ phụ thuộc giữa thanh điệu lời ca và đường nét tiến hành quãng.
- Đặc trưng âm nhạc vùng Đất Tổ (Phú Thọ, Vĩnh Phúc):
- Nét chung: Kết cấu dựa trên 3 cao độ nòng cốt (Bảng 3.1, Ví dụ 50, 51); mối quan hệ quãng cố định giữa các nhóm thanh điệu; thủ pháp điệp lại câu 8 hoặc nét nhạc điệp cố định cuối trổ.
- Nét riêng địa phương:
- Trống quân Đức Bác: 3 nhân tố hạt nhân tạo giai điệu, vị trí đảo phách cố định ở từ thứ 6 của vế 8 (Ví dụ 55, 56, 57, 58).
- Trống quân Hữu Bổ: Mô hình tiết tấu lời ca đặc trưng và mô hình giai điệu kết trổ gồm 2 bộ phận (Ví dụ 60, 61, 62, 63).
- Trống quân Hiền Quan: Sử dụng chất liệu giai điệu gắn với hình thức múa sênh tiền, múa quạt và thủ pháp chuyển nhóm cao độ (Ví dụ 64, 65).
- Đặc trưng âm nhạc vùng đồng bằng Bắc bộ (Hưng Yên, Hải Dương, Hà Nội/Hà Tây cũ, Bắc Ninh, Hải Phòng, Ninh Bình):
- Nét chung: Âm vực và thang âm rộng hơn vùng Đất Tổ (so sánh tại Bảng 3.2 và 3.3); kết cấu quãng nòng cốt và cấu trúc quãng phân bố theo nhóm 5, 6, 7 cao độ (Bảng 3.4, 3.5, Ví dụ 66, 67).
- Tiểu vùng 1: Tiết tấu lời ca đồng độ, câu kết bài đặc thù, thủ pháp đảo 2 ca từ cuối câu 6 mở đầu (Ví dụ 69, 70, 71).
- Tiểu vùng 2: Nét láy kết trổ đặc trưng, nét luyến cao độ phổ biến và nét kết trổ cố định khi ca từ có thanh không dấu (Ví dụ 72, 73, 74).
- Hệ thống bảng nhận diện làn điệu Hát Trống quân: Xây dựng 3 bảng nhận diện chuẩn xác (Bảng 3.6 - Nhận diện giữa các vùng lớn; Bảng 3.7 - Nhận diện các địa phương thuộc vùng Đất Tổ; Bảng 3.8 - Nhận diện các tiểu vùng thuộc đồng bằng Bắc bộ).
Kết quả và những đóng góp mới
- Đóng góp về mặt lý luận và học thuật:
- Là công trình đầu tiên nghiên cứu toàn diện, sâu kỹ và có hệ thống về thể loại Hát Trống quân ở Bắc bộ trên mọi khía cạnh, đặt trọng tâm phân tích chuyên sâu vào âm nhạc học.
- Lần đầu tiên đề xuất phương án phân vùng và phân tiểu vùng Hát Trống quân dựa trên các tiêu chí và dữ liệu âm nhạc học cụ thể (thang âm, âm vực, nhóm cao độ nòng cốt, cấu trúc quãng, mô hình tiết tấu lời ca).
- Đúc kết các đặc trưng âm nhạc chung và đặc trưng mang tính địa phương, xây dựng hệ thống tiêu chí khoa học trong các bảng nhận diện làn điệu giúp phân biệt Hát Trống quân với các thể loại dân ca khác và phân biệt các phong cách vùng miền.
- Đóng góp nguồn dữ liệu phân tích và luận giải thực chứng vào hệ thống cơ sở dữ liệu phục vụ công tác xây dựng lý thuyết âm nhạc truyền thống Việt Nam.
- Đóng góp về mặt thực tiễn và giải pháp:
- Cung cấp tài liệu khoa học làm giáo trình và tài liệu tham khảo cho công tác giảng dạy bộ môn Âm nhạc truyền thống Việt Nam tại các cơ sở đào tạo chuyên nghiệp và phổ thông.
- Cung cấp căn cứ thực chứng định hướng cho các nhà quản lý, các nhà nghiên cứu và nghệ nhân địa phương trong các dự án bảo tồn, phục dựng Hát Trống quân đúng với bản sắc âm nhạc gốc của từng địa phương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của luận án:
- Do điều kiện thực tế, tác giả chưa thể tiến hành điền dã khảo sát tại toàn bộ các làng xã có Hát Trống quân ở Bắc bộ mà tập trung vào các địa bàn trọng điểm ven sông Hồng và sông Lô.
- Luận án không đi sâu xác minh các giả thuyết lịch sử về nguồn gốc tên gọi hay truyền thuyết do thiếu văn bản gốc và đây không phải là trọng tâm của chuyên ngành Âm nhạc học.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng phạm vi điền dã, sưu tầm các biến thể Hát Trống quân tại các địa phương còn lại ở đồng bằng và trung du Bắc bộ.
- Nghiên cứu so sánh hệ thống các bài bản mang tên "Trống quân" nằm trong cấu trúc của các thể loại âm nhạc truyền thống khác (như Quan họ, Ca trù, Chèo, Hát Xoan) hoặc điệu Trống quân tại miền Trung (Quảng Trị).
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Âm nhạc học, Văn hóa dân gian: Cung cấp khung phương pháp luận phân tích cấu trúc bài bản dân ca, phương pháp xác định nhóm cao độ nòng cốt và kỹ thuật đối chiếu giữa tiết luật ca từ với giai điệu âm nhạc.
- Đối với các cơ quan quản lý văn hóa và chính sách di sản: Là căn cứ khoa học chuẩn xác để đánh giá giá trị di sản, lập hồ sơ khoa học công nhận di sản văn hóa phi vật thể và xây dựng kế hoạch bảo tồn Hát Trống quân phù hợp với tính chất của từng vùng văn hóa.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân loại sinh hoạt Hát Trống quân theo những mục đích diễn xướng nào?
Luận án phân loại thành 2 nhóm chính:
- Hát Trống quân mang mục đích giao duyên, vui chơi giải trí, thi tài: Diễn ra chủ yếu vào các đêm trăng mùa thu (tháng 7, tháng 8 âm lịch) tại sân đình, bãi chợ, gò đất, hoặc đối đáp hai bên bờ sông; mang tính chất sinh hoạt văn hóa đời thường của nam nữ thanh niên.
- Hát Trống quân mang mục đích tín ngưỡng: Diễn ra vào các dịp lễ hội mùa xuân hoặc mùa thu tại sân đình, đền, chùa (tiêu biểu như Trống quân Đức Bác, Hiền Quan, Kinh Kệ), gắn liền với các nghi thức thờ Thánh và phong tục thành hoàng làng.
2. Nhạc cụ trống đất được cấu tạo và sử dụng như thế nào trong Hát Trống quân?
Trống đất là nhạc khí đệm đặc thù gồm một hố đất đào dưới đất, phủ tấm ván gỗ hoặc vỏ cây lên trên miệng hố, cắm cọc tre hai bên và căng một sợi dây thép (hoặc dây mây cật) bắc ngang qua một con kê đặt trên ván. Khi đánh, người ta dùng que tre gõ vào dây phát ra âm thanh "bình bình" cộng hưởng từ hố đất để giữ nhịp cho canh hát.
3. "Nhóm cao độ tạo nên đường nét cơ bản của giai điệu" được xác định dựa trên những tiêu chí nào?
Luận án xác lập 3 tiêu chí:
- Các cao độ có tần suất xuất hiện lặp lại nhiều lần trong giai điệu.
- Các cao độ xuất hiện ít nhưng luôn nằm ở các vị trí cố định (từ thứ 2, 3, 4 câu 6; từ thứ 3, 6 câu 8; nét nhạc kết trổ hoặc motif mở đầu).
- Các cao độ xuất hiện ít nhưng đóng vai trò tạo âm hưởng mới, gây ấn tượng mạnh cho một bộ phận giai điệu và được dùng để hát các từ chính hoặc từ phụ.
4. Điểm khác biệt trong hình thức diễn xướng Hát Trống quân tại làng Hiền Quan (Phú Thọ) so với các nơi khác là gì?
Hát Trống quân làng Hiền Quan không diễn xướng theo hình thức đối đáp nam nữ thông thường mà tổ chức thành một đội hát gồm 5 nữ (1 người "cái" hát chính đứng giữa và 4 người "con" chia làm hai hàng đứng múa và hát đế theo). Điệu hát này hoàn toàn không dùng trống đất mà chỉ sử dụng sênh tiền và quạt làm đạo cụ múa đệm, kết hợp với tiếng điểm trống cái của quan chức làng ngồi xem.
5. Luận án đề xuất phân chia các vùng âm nhạc Hát Trống quân như thế nào?
Luận án phân chia thành 2 vùng âm nhạc lớn:
- Vùng Đất Tổ (Phú Thọ, Vĩnh Phúc): Đặc trưng bởi kết cấu 3 cao độ nòng cốt, âm vực hẹp hơn, giai điệu gắn liền với các lối hát nghi lễ và phong cách địa phương đặc thù (Đức Bác, Hữu Bổ, Hiền Quan).
- Vùng đồng bằng Bắc bộ (Hưng Yên, Hải Dương, Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Phòng, Ninh Bình): Đặc trưng bởi hệ thống 5, 6, 7 cao độ, âm vực rộng hơn, cấu trúc quãng phát triển đa dạng và được chia tiếp thành Tiểu vùng 1 và Tiểu vùng 2 với các nét láy kết trổ và tiết tấu lời ca riêng biệt.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Hát Trống quân" của tác giả Phạm Minh Hương là công trình nghiên cứu chuyên khảo toàn diện, khảo tả có hệ thống diện mạo thể loại từ góc độ mục đích diễn xướng đến cấu trúc âm nhạc học. Bằng việc kết hợp phương pháp điền dã thực địa với các kỹ thuật phân tích cấu trúc bài bản, thang âm, quãng và tiết tấu lời ca, luận án đã làm sáng tỏ các đặc trưng âm nhạc chung cũng như nét riêng biệt của từng địa phương, đồng thời xác lập các bảng nhận diện làn điệu khoa học cho từng vùng và tiểu vùng ở Bắc bộ. Công trình đóng góp cơ sở dữ liệu thực chứng quan trọng cho lý thuyết âm nhạc truyền thống Việt Nam và cung cấp nền tảng phục vụ công tác giảng dạy, bảo tồn di sản nghệ thuật Hát Trống quân.