Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học (mã số 62.31.06.40) với đề tài "Văn hóa gia đình người Mường ở Hòa Bình" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Kim Hoa thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Đức Ngôn, bảo vệ tại Trường Đại học Văn hóa Hà Nội năm 2016.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong cấu trúc xã hội, gia đình và văn hóa gia đình giữ vai trò nền tảng đối với sự ổn định và phát triển. Trong bối cảnh chuyển đổi sang kinh tế thị trường, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, các giá trị văn hóa truyền thống nói chung và văn hóa gia đình nói riêng đang đứng trước những biến đổi sâu sắc. Tại tỉnh Hòa Bình – địa bàn cư trú lâu đời và tập trung đông nhất của người Mường (chiếm 62% dân số toàn tỉnh và chiếm 50% tổng số người Mường trên cả nước) – đời sống gia đình xuất hiện những vấn đề xã hội phức tạp như sự suy giảm trật tự kỷ cương, rạn nứt đạo đức và bất bình đẳng giới.

Tác giả chỉ ra khoảng trống nghiên cứu: các công trình trước đây về văn hóa Mường hoặc tiếp cận văn hóa tộc người trên diện rộng, hoặc chỉ khảo tả một vài nét đơn lẻ của gia đình, hôn nhân, tang ma ở phạm vi hẹp. Chưa có công trình nào tiếp cận một cách toàn diện, hệ thống về văn hóa gia đình truyền thống của người Mường tại Hòa Bình cũng như diện mạo, nguyên nhân và hệ quả của sự biến đổi văn hóa gia đình từ sau mốc Đổi mới năm 1986.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của luận án là nhận thức sâu sắc, toàn diện về văn hóa gia đình người Mường ở Hòa Bình (yếu tố truyền thống, biểu hiện biến đổi, nguyên nhân biến đổi), từ đó đặt ra các vấn đề thực tiễn cho việc xây dựng văn hóa gia đình trong điều kiện hiện nay.

Để đạt được mục tiêu, luận án triển khai 5 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Tổng hợp, thu thập tư liệu liên quan thông qua điều tra điền dã, phỏng vấn sâu và tư liệu thành văn về người Mường nói chung và người Mường ở Hòa Bình nói riêng.
  2. Trình bày, đánh giá tổng quan các công trình nghiên cứu đi trước; xác định cơ sở lý luận làm khung định hướng triển khai.
  3. Mô tả và làm rõ các đặc điểm cơ bản trong văn hóa gia đình truyền thống của người Mường ở tỉnh Hòa Bình.
  4. Phân tích, đánh giá thực trạng và xu hướng biến đổi văn hóa gia đình của người Mường ở tỉnh Hòa Bình.
  5. Dự báo xu hướng biến đổi văn hóa gia đình và đặt ra các vấn đề xây dựng, bảo tồn văn hóa gia đình người Mường trong thời kỳ hội nhập.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Văn hóa gia đình của người Mường ở tỉnh Hòa Bình trên 4 phương diện cấu trúc: quan niệm về gia đình, văn hóa ứng xử trong gia đình, giáo dục gia đình và nghi lễ gia đình.
  • Phạm vi không gian: Khảo sát chủ yếu tại 4 vùng Mường lớn (Tứ Mường) của tỉnh Hòa Bình gồm: Mường Bi (huyện Tân Lạc), Mường Vang (huyện Lạc Sơn), Mường Thàng (huyện Cao Phong) và Mường Động (huyện Kim Bôi).
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu phân chia thành hai giai đoạn lịch đại gồm văn hóa gia đình truyền thống trước năm 1986 và sự biến đổi văn hóa gia đình từ năm 1986 đến nay.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả phân loại và đánh giá các công trình nghiên cứu liên quan theo 3 nhóm chính:

                      TỔNG QUAN TÀI LIỆU
  Nghiên cứu chung        Nghiên cứu về          Nghiên cứu về
 về văn hóa Mường        văn hóa gia đình         các thành tố
                          người Mường            VHGĐ & nghi lễ

1. Nhóm công trình nghiên cứu chung về văn hóa người Mường

  • Người Mường với văn hóa cổ truyền Mường Bi (1988) của nhóm tác giả tập thể: Khảo sát thiên nhiên, con người, lịch pháp, tín ngưỡng, tiếng nói và văn nghệ dân gian vùng Mường Bi.
  • Tỉnh Mường Hòa Bình (1994) của Pierre Grossin: Khảo cứu địa lý tự nhiên, lịch sử hình thành đơn vị hành chính và kinh tế - văn hóa các dân tộc tại Hòa Bình.
  • Người Mường - Địa lý nhân văn và xã hội (1995) của Jeanne Cuisinier: Công trình gồm 8 chương địa lý nhân văn và 12 chương xã hội học, nghiên cứu về gia đình, làng xã, thờ cúng và nghi lễ chu kỳ đời người.
  • Người Mường ở Tân Lạc tỉnh Hòa Bình (2003) do Nguyễn Thị Thanh Nga và Nguyễn Ngọc Thanh chủ biên: Ghi chép phong tục, nghi lễ, bước đầu nêu hiện tượng biến đổi văn hóa nhưng chưa phân tích sâu nguyên nhân và giải pháp.
  • Địa chí Hòa Bình (2005) do Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Hòa Bình ấn hành: Công trình 5 phần cung cấp dữ liệu toàn diện về địa lý, lịch sử, kinh tế, xã hội và phân bổ dân cư Tứ Mường.
  • Đề tài cấp Bộ Bản sắc văn hóa Mường cổ truyền và xu hướng biến đổi hiện nay (2008) do PGS.TS. Lương Quỳnh Khuê chủ nhiệm: Chỉ ra nguy cơ mai một bản sắc văn hóa cổ truyền và dự báo xu hướng vận động dưới tác động của công nghiệp hóa.
  • Văn hóa người Mường huyện Kim Bôi tỉnh Hòa Bình (2009) do Hoàng Hữu Bình chủ biên: Cung cấp tư liệu văn hóa truyền thống đặt trong bối cảnh phát triển kinh tế.
  • Luận án tiến sĩ Những biến đổi văn hóa và tính cố kết cộng đồng hiện nay – Nghiên cứu trường hợp Dân tộc Mường tại tỉnh Hòa Bình (2015) của Nguyễn Thị Hằng: Nghiên cứu biến đổi văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần và văn hóa xã hội dưới góc độ liên ngành.
  • Luận án tiến sĩ Bản sắc tộc người, di sản văn hóa và du lịch: Nghiên cứu trường hợp người Mường và người Thái Hòa Bình (2015) của Nguyễn Tuệ Chi: Phân tích sự tác động của du lịch đến việc tái tạo, thực hành văn hóa truyền thống tại Cao Phong và Mai Châu.

2. Nhóm công trình nghiên cứu trực tiếp về văn hóa gia đình người Mường

  • Luận văn Gia đình truyền thống với việc xây dựng gia đình văn hóa mới của người Mường ở Hòa Bình (2005): Khái quát giá trị gia đình truyền thống và xây dựng gia đình văn hóa mới, song chỉ dừng lại ở mức khảo tả, chưa lý giải căn nguyên biến đổi.
  • Bài viết Văn hóa gia đình người Mường (2012): Phản ánh quan hệ ứng xử, giáo dục và một số luật tục hôn nhân (ở rể, tang chế).
  • Luận văn Văn hóa gia đình người Mường (nghiên cứu trường hợp tại xã Kì Phú, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình) (2013): Khảo sát thực trạng tại 3 bản Ao, Sau, Cả; phạm vi nghiên cứu hẹp, chưa khái quát được quy luật biến đổi chung của người Mường tại vùng lõi Hòa Bình.

3. Nhóm nghiên cứu về các thành tố văn hóa gia đình và phong tục liên quan

  • Các công trình của Nguyễn Ngọc Thanh: Mấy ghi chép về lễ cưới cổ truyền người Mường (1991), Tục lệ cưới xin của người Mường huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình (1995), Tục lệ sinh đẻ và nuôi con ở người Mường huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ (1997), Gia đình và hôn nhân của người Mường ở tỉnh Phú Thọ (2005).
  • Các công trình nghi lễ và phong tục: Tang lễ cổ truyền của người Mường (2010) và Phong tục đi hỏi vợ đám cưới cổ truyền Mường (2014) của Bùi Huy Vọng; Mo Mường (1996) của Đặng Văn Lung, Bùi Thiện, Bùi Văn Nợi; Một số tục lệ cổ của dòng họ Đinh Văn (2010) của Đinh Văn Ân; Nghi lễ trong chu kỳ đời người của người Mường ở Hòa Bình (2012) của Nguyễn Thị Song Hà.

Vị trí của luận án: Luận án kế thừa nguồn tư liệu của các tác giả đi trước, khắc phục hạn chế khảo tả đơn lẻ để xây dựng một hệ thống phân tích cấu trúc - chức năng toàn diện về văn hóa gia đình Mường tại Hòa Bình từ truyền thống đến biến đổi đương đại.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận và khung khái niệm

  • Gia đình: Nhóm xã hội hình thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng, gắn kết về tình cảm, trách nhiệm, kinh tế và được xã hội, pháp luật thừa nhận.
  • Văn hóa gia đình: Hệ thống các giá trị, chuẩn mực đặc thù điều tiết mối quan hệ nội bộ gia đình và giữa gia đình với xã hội, phản ánh bản chất tộc người qua các thời kỳ lịch sử.
  • Cấu trúc văn hóa gia đình: Gồm 4 thành tố: (1) Quan niệm về gia đình; (2) Văn hóa ứng xử; (3) Giáo dục gia đình; (4) Nghi lễ gia đình (vòng đời và thờ cúng).
  • Phân kỳ lịch đại: Trước năm 1986 là văn hóa gia đình truyền thống; sau năm 1986 là giai đoạn biến đổi hiện đại dưới tác động của Đổi mới và mở cửa.

Khung lý thuyết ứng dụng

  1. Thuyết cấu trúc - chức năng (G. Durkheim, B. Malinowski, A.R. Radcliffe-Brown, Talcott Parsons): Xem gia đình và văn hóa gia đình là một tiểu hệ thống hoàn chỉnh, các yếu tố quan hệ, nghi lễ và giáo dục đảm nhận những chức năng bảo tồn trật tự và liên kết xã hội.
  2. Thuyết giao lưu, tiếp biến văn hóa (F. Ratzel, L. Frobenius, F. Graebner): Giải thích sự lan tỏa, tiếp nhận chủ động hoặc thụ động các giá trị văn hóa giữa người Mường với người Kinh và quá trình thích ứng với lối sống công nghiệp hóa.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp liên ngành Văn hóa học, Dân tộc học và Xã hội học:

  • Phân tích tài liệu thứ cấp: Kế thừa số liệu văn bản, địa chí, công trình lịch sử và dân tộc học.
  • Điền dã dân tộc học: Quan sát tham dự trực tiếp tại các nghi lễ cưới hỏi, tang ma, mừng nhà mới tại 4 huyện Kim Bôi, Tân Lạc, Lạc Sơn, Cao Phong.
  • Điều tra xã hội học bằng bảng hỏi: Thiết kế phiếu điều tra 20 tiêu chí, chọn mẫu ngẫu nhiên tại các bản.
    • Tổng số phiếu phát ra: 400 phiếu.
    • Tổng số phiếu thu về hợp lệ: 388 phiếu (12 phiếu không hợp lệ).
Địa bàn khảo sát Thuộc vùng Mường cổ Số phiếu hợp lệ Tỷ lệ (%)
Huyện Tân Lạc Mường Bi 135 34,79%
Huyện Cao Phong Mường Thàng 102 26,29%
Huyện Lạc Sơn Mường Vang 99 25,52%
Huyện Kim Bôi Mường Động 52 13,40%
Tổng cộng Tứ Mường 388 100,0%
  • Phỏng vấn sâu (PVS): Thu thập dữ liệu định tính từ người già làng, trưởng bản, trưởng họ, thầy mo/thầy cúng, cán bộ quản lý văn hóa và chính quyền cơ sở.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát về người Mường ở Hòa Bình

Chương 1 (28 trang) thiết lập cơ sở lý thuyết, điểm luận tài liệu và phác thảo bức tranh tự nhiên, kinh tế - xã hội vùng nghiên cứu.

  • Địa bàn và dân cư: Tỉnh Hòa Bình có diện tích tự nhiên 4.591 km², địa hình núi rừng thung lũng, mạng lưới sông Đà dài 151 km, hồ thủy điện dung tích 9,5 tỷ m³. Dân tộc Mường chiếm trên 60% dân số toàn tỉnh (đứng thứ 4 toàn quốc sau Kinh, Tày, Thái).
  • Lịch sử tộc danh và nguồn gốc: Tộc danh Mường vốn xuất phát từ từ "mương" (nơi cư trú), người Mường tự gọi là Mol, Mon, Moan, Mual ("con người"). Người Mường và người Kinh có chung nguồn gốc tiền Việt - Mường, quá trình phân tách diễn ra từ thế kỷ VII-VIII đến thế kỷ X-XI.
  • Đặc trưng kinh tế và văn hóa: Canh tác ruộng nước và nương rẫy, phát triển nghề dệt thổ cẩm, thủ công đan lát; ẩm thực nổi bật với món đồ và món nướng; trang phục nữ gồm mũ vải trắng (cại mu), yếm (áo báng), váy đen (cại vạt), cạp váy (klôốc dệt họa tiết rồng/hươu) và thắt lưng (cại tênh); nhà sàn 4 mái có 2 cầu thang và 2 bếp lửa riêng biệt; hệ thống tín ngưỡng đa thần (thờ Thánh Tản, Quốc Mẫu Vua Bà, ông Tùng, thờ đá, thờ mó nước, lễ hội xuống đồng khuống mùa, hội Chùa Kè, dùng lịch đoi).
                      MÔI TRƯỜNG VĂN HÓA MƯỜNG
Kinh tế lúa nước     Nhà sàn 4 mái      Trang phục dân tộc    Tín ngưỡng đa thần
& dệt thổ cẩm       (2 thang, 2 bếp)    (Cại mu, cạp váy)     (Thánh Tản, Lịch đoi)

Chương 2: Văn hóa gia đình truyền thống của người Mường ở Hòa Bình

Chương 2 (49 trang) phân tích toàn diện 4 thành tố văn hóa gia đình truyền thống trước năm 1986:

  • Quan niệm về gia đình: Gia đình lý tưởng là gia đình nhiều thế hệ sống chung, đông con nhiều cháu để đảm bảo lực lượng lao động nông nghiệp và vị thế dòng họ. Tồn tại chế độ phụ quyền gia trưởng, đề cao vai trò con trai nối dõi và gánh vác trách nhiệm cúng tế. Người cha làm chủ gia đình, nắm giữ toàn bộ tư liệu sản xuất và tài sản.
  • Văn hóa ứng xử:
    • Cha mẹ và con cái: Tương đối bình đẳng về mặt tình cảm so với ảnh hưởng Nho giáo ở người Kinh; con cái có nghĩa vụ phụng dưỡng cha mẹ khi già yếu (thường ở với con trai cả).
    • Kiêng kị bố chồng - con dâu: Con dâu không được ngồi ở gian vóng tông (gian tiếp khách và thờ cúng), không được vào phòng bố chồng, không được chải tóc hay xõa tóc trước mặt bố chồng, không đi qua mặt khi bố chồng ngồi cửa bếp, khi ăn phải ngồi mâm riêng.
    • Quan hệ vợ chồng: Phân định không gian cư trú; nam giới làm các công việc đầu bếp chính (mổ gà, cá) để phụ nữ mang thai tránh tiếp xúc với máu.
    • Quan hệ dòng họ: Tổ chức tự quản chặt chẽ dưới sự điều hành của ông Đầu họ (Trưởng họ). Sự phân tầng giữa dòng họ quý tộc nhà Lang (họ Đinh, Quách, Bạch, Hoàng) và tầng lớp bình dân (họ Bùi, Nguyễn). Tập quán "góp họ" (góp cỗ, góp bữa) hỗ trợ đám hiếu, đám hỷ.
  • Giáo dục gia đình: Giáo dục trực quan thông qua lao động thực tế; sử dụng ca dao, tục ngữ và các trường ca Mo (như áng mo Cuối lìa) để răn dạy lòng trung thực, chống trộm cắp và giữ gìn đạo đức hôn nhân chung thủy; áp dụng sức ép dòng họ khi có thành viên vi phạm nghiêm trọng.
  • Nghi lễ gia đình: Nghi lễ hôn nhân phức tạp, trải qua nhiều bước: chọn người làm mối (chọn mờ), dạm ngõ (kháo thiếng), hỏi kẹo (lễ hỏi nhỏ), lễ cưới chính thức. Tồn tại tục ở rể khi nhà gái không có con trai.

Chương 3: Sự biến đổi văn hóa gia đình truyền thống của người Mường ở Hòa Bình

Chương 3 (30 trang) lượng hóa và đánh giá thực trạng biến đổi từ sau năm 1986 thông qua 14 bảng số liệu điều tra:

  • Biến đổi quy mô và cấu trúc: Quy mô gia đình thu hẹp, mô hình gia đình hạt nhân (hai thế hệ) gia tăng; quan niệm về số con chuyển dịch về mức 2 con; giảm bớt áp lực sinh con trai nối dõi.
  • Biến đổi trong văn hóa ứng xử: Các quy tắc kiêng kị khắt khe giữa bố chồng và con dâu dần được xóa bỏ; quyền bình đẳng giới được nâng cao, phụ nữ tham gia nhiều hơn vào việc bàn bạc kinh tế và quản lý tài chính; quan hệ họ hàng giảm bớt tính ràng buộc hành chính của tập tục.
  • Biến đổi nghi lễ: Rút gọn các thủ tục cưới hỏi rườm rà (thách cưới, ăn uống kéo dài nhiều ngày); sự thay đổi trong tang lễ (giảm thời gian quàn ướp thi hài, cải tiến việc phúng viếng); hình thức thờ cúng gia tiên và các nghi lễ vòng đời có sự dung hợp với văn hóa người Kinh.
  • Hệ quả xã hội: Mặt tích cực là giải phóng người phụ nữ, tiết kiệm chi phí xã hội, nâng cao dân trí; mặt tiêu cực là nguy cơ mai một tiếng Mường trong gia đình trẻ, sự lỏng lẻo của sợi dây liên kết dòng họ và lối sống thực dụng thâm nhập vào quan hệ thân tộc.

Chương 4: Các yếu tố tác động dẫn đến sự biến đổi văn hóa gia đình truyền thống của người Mường ở Hòa Bình và những vấn đề đặt ra hiện nay

Chương 4 (28 trang) tổng kết các động lực biến đổi và nhận diện vấn đề thực tiễn:

  • Các nhóm yếu tố tác động:
    1. Yếu tố kinh tế - xã hội: Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang dịch vụ - du lịch, tốc độ đô thị hóa và làn sóng di cư lao động làm thay đổi nhịp sống truyền thống.
    2. Yếu tố giao lưu văn hóa: Tác động của truyền thông đại chúng, mạng lưới giáo dục quốc gia và sự tiếp xúc thường xuyên với văn hóa người Kinh.
    3. Chính sách của Nhà nước: Các quy định pháp luật về Hôn nhân và Gia đình, phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" và cuộc vận động xây dựng Làng/Gia đình văn hóa mới.
  • Những vấn đề đặt ra: Vấn đề bảo tồn các phong tục tốt đẹp (tính cộng đồng, sự hiếu thuận, nghệ thuật Mo Mường); ngăn chặn sự xâm nhập của tệ nạn xã hội; giải quyết mâu thuẫn thế hệ giữa lớp người già lưu giữ truyền thống và thanh niên tiếp thu lối sống hiện đại.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận và khoa học

  • Cung cấp một nghiên cứu hệ thống dưới góc độ Văn hóa học về văn hóa gia đình người Mường tại địa bàn trọng điểm Hòa Bình, làm rõ cấu trúc 4 thành tố (quan niệm, ứng xử, giáo dục, nghi lễ).
  • Xác lập bức tranh đối sánh lịch đại giữa văn hóa gia đình truyền thống (trước 1986) và diện mạo biến đổi hiện đại (sau 1986), bổ sung tư liệu dân tộc học và xã hội học thực chứng.
  • Làm rõ cơ chế giao lưu, tiếp biến văn hóa nội sinh và ngoại sinh chi phối sự vận động của thiết chế gia đình tộc người thiểu số trong quá trình công nghiệp hóa.

Đóng góp về mặt thực tiễn và kiến nghị

  • Cung cấp luận cứ khoa học phục vụ công tác quy hoạch, quản lý văn hóa và triển khai phong trào xây dựng Gia đình văn hóa tại các huyện miền núi tỉnh Hòa Bình.
  • Đề xuất các giải pháp bảo tồn có chọn lọc: giữ gìn nếp sống gia phong, đạo lý hiếu thảo, tính cố kết họ hàng; đồng thời loại bỏ các hủ tục tốn kém trong ma chay, cưới xin và định kiến giới tính.
  • Đưa ra định hướng phát huy giá trị di sản văn hóa gia đình gắn với phát triển du lịch cộng đồng bền vững tại địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát chính tại 4 địa bàn Mường Bi, Mường Vang, Mường Thàng, Mường Động thuộc tỉnh Hòa Bình; mức độ bao quát đối với các cộng đồng người Mường di cư hoặc sinh sống ở các tỉnh lân cận (Thanh Hóa, Phú Thọ, Sơn La, Ninh Bình) còn ở mức đối sánh thứ cấp.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng khảo sát so sánh văn hóa gia đình người Mường giữa vùng lõi Hòa Bình với các vùng ngoại vi ở đồng bằng và trung du.
    • Đi sâu nghiên cứu sự thích ứng của văn hóa gia đình người Mường trong bối cảnh bùng nổ công nghệ số và truyền thông đa phương tiện.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên: Nguồn tài liệu chuyên khảo cho các ngành Văn hóa học, Dân tộc học, Nhân học, Xã hội học gia đình khi tìm hiểu về văn hóa Mường và phương pháp nghiên cứu liên ngành.
  • Đối với giảng viên, nhà nghiên cứu: Cung cấp hệ thống tư liệu điền dã, dữ liệu điều tra 388 bảng hỏi và khung lý thuyết cấu trúc - chức năng ứng dụng trong phân tích biến đổi văn hóa tộc người.
  • Đối với cơ quan quản lý văn hóa và hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở thực chứng để đánh giá tiêu chí xây dựng gia đình văn hóa mới, điều chỉnh chính sách dân tộc và bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể tại tỉnh Hòa Bình.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao luận án lựa chọn mốc năm 1986 để phân chia truyền thống và biến đổi?

Mốc năm 1986 gắn liền với công cuộc Đổi mới của đất nước, mở cửa nền kinh tế thị trường và đẩy mạnh giao lưu quốc tế. Trước năm 1986, xã hội người Mường ở Hòa Bình duy trì sự khép kín tương đối, quá trình giao lưu văn hóa diễn ra chậm; sau năm 1986, các yếu tố kinh tế, truyền thông và đô thị hóa đã thúc đẩy sự biến đổi nhanh chóng trong cấu trúc và chuẩn mực gia đình.

2. Những điều kiêng kị truyền thống nào tồn tại giữa bố chồng và con dâu người Mường?

Theo văn bản luận án, trong gia đình truyền thống, con dâu tuyệt đối không được ngồi ở gian vóng tông (nơi đặt bàn thờ và tiếp khách), không vào gian ở của bố chồng, không chải tóc hoặc để tóc xõa trước mặt bố chồng, không chạm vào tay bố chồng, không đi ngang mặt khi bố chồng ngồi cửa bếp và không ngồi ăn chung mâm.

3. Quy mô và phương pháp chọn mẫu khảo sát xã hội học của luận án như thế nào?

Tác giả thiết kế bảng hỏi gồm khoảng 20 tiêu chí, chọn mẫu ngẫu nhiên theo bản tại 4 huyện đại diện cho Tứ Mường. Tổng số 400 phiếu phát ra, thu về 388 phiếu hợp lệ gồm: Tân Lạc (135 phiếu), Cao Phong (102 phiếu), Lạc Sơn (99 phiếu) và Kim Bôi (52 phiếu). Phương pháp điều tra bảng hỏi được kết hợp với phỏng vấn sâu nhiều nhóm đối tượng (già làng, trưởng bản, trưởng họ, thầy cúng, cán bộ địa phương).

4. Người Mường truyền thống quan niệm thế nào về vai trò của con trai và người đàn ông trong gia đình?

Gia đình người Mường mang tính chất phụ quyền gia trưởng. Con trai được coi trọng vì là người gánh vác trách nhiệm cúng tế tổ tiên, duy trì dòng dõi và thừa kế tài sản; con gái được xem là thành viên tạm thời do sẽ về nhà chồng. Người đàn ông làm chủ gia đình, quyết định kinh tế và đại diện đối ngoại; đồng thời trong đời sống sinh hoạt, nam giới còn là người làm bếp chính trong việc chế biến các món thịt, cá.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Kim Hoa là công trình nghiên cứu hệ thống về văn hóa gia đình người Mường tại tỉnh Hòa Bình dưới góc độ Văn hóa học liên ngành. Công trình đã làm rõ 4 thành tố văn hóa gia đình truyền thống và lượng hóa diện mạo biến đổi sau mốc Đổi mới năm 1986 trên cơ sở 388 phiếu khảo sát thực chứng tại Tứ Mường. Kết quả nghiên cứu không chỉ đóng góp về mặt lý luận tiếp biến văn hóa mà còn cung cấp luận cứ thực tiễn giá trị cho công tác xây dựng gia đình và bảo tồn bản sắc văn hóa tộc người trong thời kỳ hiện đại hóa.