Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ "Biến đổi văn hóa của người Tày ở huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên hiện nay" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thanh Thủy thực hiện tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh năm 2022, thuộc ngành Văn hóa học (mã số 9229040), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Toàn Thắng và PGS.TS. Lê Ngọc Thắng.

Về tính cấp thiết, tác giả luận giải rằng trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế, văn hóa các dân tộc thiểu số tại Việt Nam đang vận động và biến đổi mạnh mẽ. Định Hóa là huyện miền núi thuộc tỉnh Thái Nguyên, từng là trung tâm An toàn khu (ATK) - Thủ đô kháng chiến của cả nước thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Do đó, văn hóa truyền thống của cộng đồng người Tày tại đây mang nét đặc thù khi vừa giữ các khuôn mẫu tộc người truyền thống, vừa đan xen sâu sắc với văn hóa cách mạng. Sau hơn 35 năm Đổi mới, nhiều giá trị văn hóa Tày tại Định Hóa đứng trước nguy cơ phai nhạt, biến dạng hoặc mai một dưới sức ép của kinh tế thị trường và lối sống mới. Địa phương đã triển khai Đề án "Phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa, lịch sử truyền thống các dân tộc huyện Định Hóa", tuy nhiên thực tế thực hiện còn thiếu tính đồng bộ và chưa khai thác hết giá trị đặc trưng tộc người. Về mặt học thuật, các lý thuyết biến đổi văn hóa tộc người trong nước còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục bổ sung tư liệu thực nghiệm.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là: trên cơ sở tổng hợp và luận giải, bổ sung các vấn đề lý luận về biến đổi văn hóa và biến đổi văn hóa tộc người; nghiên cứu thực trạng biến đổi văn hóa của người Tày ở huyện Định Hóa hiện nay; nhận diện các giá trị văn hóa đặc trưng cần bảo tồn, phát huy; phân tích các yếu tố tác động nhằm đề xuất các giải pháp khả thi trong thời gian tới.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu được tác giả xác lập và đánh số cụ thể như sau:

  • Câu hỏi nghiên cứu 1: Văn hóa truyền thống của người Tày ở huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên có những biến đổi cụ thể như thế nào từ khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, hội nhập và phát triển?
    Giả thuyết: Văn hóa người Tày bắt đầu có sự biến đổi từ sau năm 1986, và biến đổi nhiều từ thời điểm 2015 đến nay. Văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần truyền thống của người Tày đã vận động và biến đổi khá nhiều.
  • Câu hỏi nghiên cứu 2: Những thành tố văn hóa nào mang giá trị đặc trưng văn hóa của người Tày ở huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên cần được bảo tồn và phát huy?
    Giả thuyết: Các thành tố văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần người Tày ở huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên cần phải được bảo tồn và phát huy.
  • Câu hỏi nghiên cứu 3: Nguyên nhân nào dẫn đến sự biến đổi văn hóa của người Tày? Làm thế nào để văn hóa tộc người Tày vừa tiếp nhận được những giá trị văn hóa mới của thời đại, song vẫn giữ được bản sắc riêng của mình?
    Giả thuyết: Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa, sự bùng nổ của xã hội thông tin, sự phát triển nhảy vọt của truyền thông đại chúng (phát thanh, truyền hình) đặc biệt là internet và các mạng xã hội, sự giao lưu văn hóa giữa các vùng miền đã tác động, chi phối và ảnh hưởng đến văn hóa người Tày ở huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. Để văn hóa tộc người Tày vừa tiếp nhận được những giá trị văn hóa mới của thời đại mà vẫn giữ được bản sắc riêng của mình, cần có các giải pháp đồng bộ, mang tính khả thi, có sự vào cuộc của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là sự biến đổi văn hóa của người Tày ở huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. Luận án giới hạn khảo sát các thành tố tiêu biểu có biến đổi rõ rệt: văn hóa vật chất gồm cấu trúc làng bản, nhà ở, trang phục, ẩm thực; văn hóa tinh thần gồm ngôn ngữ, tín ngưỡng, lễ hội, hôn nhân và tang ma.

Về phạm vi thời gian, luận án xác định khung mốc từ năm 1986 (thời điểm Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng đường lối Đổi mới toàn diện đất nước, chuyển sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa) đến năm 2022 (thời điểm tác giả hoàn thành văn bản luận án).

Về phạm vi không gian, luận án khảo sát thực địa tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, tập trung trọng điểm vào 4 xã tập trung đông đồng bào Tày sinh sống gồm: xã Phúc Chu, xã Định Biên, xã Điềm Mặc và xã Phú Đình. Trong đó, 3 xã Định Biên, Điềm Mặc và Phú Đình thuộc quần thể Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt An toàn khu (ATK) Định Hóa.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu trong luận án được phân chia theo ba nhóm nội dung chính:

Nhóm nghiên cứu về văn hóa và biến đổi văn hóa nói chung: Tác giả dẫn xuất giáo trình "Lý luận văn hóa và đường lối văn hóa của Đảng" của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh phân định cơ cấu văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. Các công trình lý luận về văn hóa và phát triển gồm: Nguyễn Thanh Tuấn với "Văn hóa bản địa Việt Nam - khuynh hướng phát triển hiện đại", Phan Ngọc với "Nền văn hóa mới của Việt Nam", Đỗ Huy với "Văn hóa Việt Nam trên con đường giải phóng, đổi mới, hội nhập và phát triển", Nguyễn Văn Dân qua chuyên luận "Con người và văn hóa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập" phân tích tiếp biến văn hóa sau 20 năm đổi mới, Vũ Khiêu, Phạm Xuân Nam, Hoàng Trinh với "Phương pháp luận về vai trò của văn hóa trong phát triển", Trịnh Thị Kim Ngọc với "Con người và văn hóa - Từ lý luận đến thực tiễn phát triển", Nguyễn Chí Bền với "Văn hóa và phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa", Phan Đăng Nhật nghiên cứu "Văn hóa các dân tộc thiểu số - những giá trị đặc sắc", Hoàng Nam khảo cứu "Tổng quan văn hóa truyền thống các dân tộc Việt Nam", Vương Xuân Tình và Trần Hồng Hạnh công bố "Phát triển bền vững văn hóa tộc người trong quá trình hội nhập ở vùng Đông Bắc", Ngô Đức Thịnh với chuyên luận "Văn hóa, Văn hóa tộc người và Văn hóa Việt Nam". Về sự biến đổi văn hóa đương đại, tác giả tổng thuật công trình của Lê Hồng Lý và cộng sự (2011) về xu hướng biến đổi văn hóa Việt Nam các thập niên đầu thế kỷ XXI, Mai Văn Hai và Phạm Việt Dũng phân tích 5 lĩnh vực biến đổi lối sống, Nguyễn Thị Phương Châm và Trương Thị Minh Hằng nghiên cứu biến đổi văn hóa nông thôn và đô thị theo 7 xu hướng, Đỗ Lan Phương chỉ ra các nhân tố tác động trên 6 phương diện, Trần Hữu Sơn phân tích biến đổi lễ hội, Nguyễn Thế An bàn về vai trò thanh niên, Lê Anh Tuấn và Nguyễn Thị Hồng Tâm phân tích nhận thức giới trẻ trước tiếp biến văn hóa du lịch, và Nguyễn Văn Kim (2016) chủ biên cuốn "Tiếp biến và hội nhập văn hóa ở Việt Nam".

Nhóm nghiên cứu về văn hóa người Tày: Luận án điểm lại các ghi chép thời phong kiến trong "Kiến văn tiểu lục" của Lê Quý Đôn và "Dư địa chí" của Nguyễn Trãi. Các nghiên cứu thời Pháp thuộc từ thập niên 1940 của Jeanne Cuisinier, Barker, Milton E., Bigot - Alfred (1937, 1939), Bonifacy (1914, 1915 về truyện cổ tích, khởi nghĩa 1833, lễ tết), Dugnet Edonar (1907, 1910 về ngữ pháp và từ vựng Thổ), Ginard Dhenry (1898). Giai đoạn sau năm 1945 và các thập niên 1960-1970 với các tác giả Lã Văn Lô, Hà Văn Thư, Nông Quốc Chấn, Hoàng Ma, Mã Thế Dân, Hoàng Hoa Toàn, Bế Viết Đẳng, Hoàng Huy Phách, Vương Toàn, Bế Văn Hậu, Hoàng Bé, La Công Ý, Đặng Nghiêm Vạn. Các công trình sau năm 1986 gồm Bế Viết Đẳng chủ biên "Các dân tộc Tày - Nùng ở Việt Nam", Hoàng Hoa Toàn và Đàm Thị Uyên về nguồn gốc lịch sử người Tày, Đỗ Thúy Bình nghiên cứu hôn nhân gia đình và tang ma Tày - Nùng - Thái, Lã Văn Lô và Hà Văn Thư về văn hóa Tày - Nùng, công trình tổng hợp của Viện Dân tộc học (1992), Hoàng Quyết, Ma Khánh Bằng, Hoàng Huy Phách về văn hóa truyền thống Tày - Nùng, Hoàng Quyết và Tuấn Dũng về phong tục tập quán Tày ở Việt Bắc, Nguyễn Thị Thanh Nga (2010) về các dân tộc vùng Tây Bắc, Dương Thuấn (2012) với "Văn hóa Tày ở Việt Nam và tiến trình hội nhập thế giới", Lường Thị Hạnh (2014) khảo cứu tang ma của người Tày ở Bắc Kạn.

Nhóm nghiên cứu về biến đổi văn hóa của người Tày: Luận án nêu các nghiên cứu tiêu biểu của Lê Sỹ Giáo về cư dân Tày - Thái ven sông Hồng, đề tài cấp Bộ của Hoàng Ngọc La và Hoàng Hoa Toàn (1999) về tín ngưỡng dân gian Tày lịch sử và hiện tại, luận án tiến sĩ Nhân học của Vũ Phương Nga về tiếp biến văn hóa trong gia đình hỗn hợp Tày - Kinh tại huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn, và công trình chuyên khảo dày 626 trang của Nguyễn Thị Song Hà (2021) về biến đổi văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam từ Đổi mới đến nay.

Về khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng các công trình đi trước phần lớn khảo cứu văn hóa người Tày trên bình diện tổng quát, chưa làm rõ các biểu hiện văn hóa đặc thù của địa bàn miền núi gắn với vùng căn cứ địa kháng chiến ATK. Đặc biệt, chưa có công trình nào khảo sát hệ thống, toàn diện thực trạng biến đổi các thành tố văn hóa vật chất và tinh thần của người Tày tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên từ sau Đổi mới đến năm 2022 để đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát huy gắn với phát triển du lịch địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng cơ sở lý luận dựa trên việc hệ thống hóa các khái niệm công cụ và các lý thuyết chuyên ngành Văn hóa học và Nhân học:

  • Khái niệm công cụ: Tác giả trích dẫn định nghĩa văn hóa năm 1943 của Hồ Chí Minh, định nghĩa của các học giả Liên Xô (thập niên 1960), Tuyên bố Mêhicô năm 1982 của UNESCO. Luận án lựa chọn khung phân chia cơ cấu văn hóa thành văn hóa vật chất (hướng tới đáp ứng nhu cầu vật chất: ăn, mặc, ở) và văn hóa tinh thần (hướng tới đáp ứng nhu cầu tinh thần: ngôn ngữ, tín ngưỡng, lễ hội, hôn nhân, tang ma). Về biến đổi văn hóa (cultural change), luận án tiếp cận luận điểm của Dennis O’Neil (1957) về ba nguồn gốc biến đổi và sự dung hợp của các thiết chế văn hóa, cùng quan điểm của Nguyễn Thị Song Hà về hai xu hướng thích ứng hoặc hòa tan bản sắc. Về văn hóa tộc người, luận án dẫn quan niệm của Ngô Đức Thịnh, Lê Ngọc Thắng, Nguyễn Từ Chi. Các khái niệm giá trị văn hóa (theo C. Kluckhohn, Trần Văn Giàu, Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII) và bản sắc văn hóa được định hình làm căn cứ đo lường mức độ biến đổi.
  • Lý thuyết tiếp cận:
    1. Thuyết biến đổi văn hóa (culture change) của Julian Steward (thập niên 1950) về tiến hóa đa tuyến (multilinear evolution), coi biến đổi là trạng thái tuyệt đối, văn hóa vận động để thích nghi với điều kiện mới;
    2. Lý thuyết giao lưu, tiếp biến văn hóa (acculturation) của nhân học Anglo-Saxon, phân tích sự tương tác văn hóa nội sinh và ngoại sinh;
    3. Lý thuyết về bản sắc văn hóa tộc người của Franz Boas;
    4. Quan điểm đường lối văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII (1998), Nghị quyết số 33-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 9 khóa XI (2014), Văn kiện Đại hội XIII và bài phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc ngày 24/11/2021.

Về phương pháp nghiên cứu, luận án kết hợp cách tiếp cận liên ngành (văn hóa học, dân tộc học/nhân học, lịch sử học, xã hội học) với các phương pháp cụ thể:

  • Phương pháp điền dã dân tộc học: Là phương pháp chủ đạo. Tác giả thực hiện các chuyến điền dã (trung bình 1 tuần/chuyến) tại các bản người Tày ở Định Hóa. Kỹ thuật áp dụng gồm: quan sát, quan sát tham dự vào sinh hoạt đời thường và các nghi lễ; phỏng vấn sâu 20 đối tượng (già làng, nghệ nhân, thanh niên, thầy tào, thầy cúng, trưởng/phó thôn, cán bộ đoàn thể, cán bộ văn hóa xã, lãnh đạo địa phương và cư dân); thảo luận nhóm thực hiện 5 cuộc với các nhóm hỗn hợp theo lứa tuổi và giới tính; phỏng vấn hồi cố nhằm so sánh lịch đại.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Tác giả tiến hành phát phiếu bảng hỏi khảo sát hộ gia đình người Tày tại 4 xã (Phúc Chu, Định Biên, Điềm Mặc, Phú Đình). Tổng số phiếu phát ra là 120 phiếu, số phiếu hợp lệ thu về đạt 100 phiếu. Luận án sử dụng phần mềm SPSS để xử lý số liệu thống kê mô tả.
  • Phương pháp so sánh: So sánh lịch đại (trước và sau mốc Đổi mới năm 1986, giai đoạn từ 2015 đến 2022) và so sánh đồng đại (đối chiếu biến đổi văn hóa người Tày ở Định Hóa với người Tày ở Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang).
  • Phương pháp chuyên gia: Trao đổi trực tiếp với các chuyên gia nghiên cứu văn hóa và dân tộc học để kiểm chứng các nhận định khoa học.
Phương pháp thu thập dữ liệu Quy mô / Địa bàn triển khai Đối tượng / Công cụ xử lý
Điền dã dân tộc học Các chuyến điền dã tại huyện Định Hóa (khoảng 1 tuần/đợt) Quan sát tham dự, phỏng vấn hồi cố
Phỏng vấn sâu 20 người tại các thôn bản Già làng, nghệ nhân, thầy tào, thầy cúng, trưởng thôn, cán bộ xã
Thảo luận nhóm 05 cuộc thảo luận nhóm hỗn hợp Đa dạng theo độ tuổi, giới tính, lĩnh vực công việc
Điều tra bảng hỏi 120 phiếu phát ra, 100 phiếu hợp lệ tại 4 xã: Phúc Chu, Định Biên, Điềm Mặc, Phú Đình Hộ gia đình người Tày; xử lý số liệu định lượng bằng phần mềm SPSS

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát về địa bàn nghiên cứu

Chương 1 triển khai ba nội dung lớn: tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước; xác lập hệ thống cơ sở lý luận, các khái niệm công cụ, các lý thuyết tiếp cận; và phác thảo khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội cùng lịch sử tộc người Tày tại địa bàn nghiên cứu.

Huyện Định Hóa nằm ở phía tây bắc tỉnh Thái Nguyên, tọa độ 105°29’ - 105°43’ kinh độ đông, 21°45’ - 22°30’ vĩ độ bắc, diện tích tự nhiên 520,75 km², gồm 24 đơn vị hành chính cấp xã (1 thị trấn Chợ Chu và 23 xã). Địa hình phân hóa thành hai vùng rõ rệt: phía Bắc là vùng núi đá vôi cánh cung Sông Gâm (độ cao 200 - 400 m so với mực nước biển) với nhiều hang động; phía Nam là vùng đồi núi thấp, thung lũng tích tụ phù sa thích hợp trồng trọt lúa nước và cây công nghiệp. Cơ cấu đất đai gồm 99,29 km² đất nông nghiệp, 221,7 km² đất lâm nghiệp (tài nguyên rừng chiếm 90% diện tích tự nhiên), 8,46 km² đất chuyên dùng, 7,33 km² đất ở và 183,98 km² đất chưa sử dụng. Về dân số, theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, huyện Định Hóa có 26.288 hộ với 89.849 nhân khẩu (nam giới 44.929 người, nữ giới 44.920 người; khu vực nông thôn có 24.380 hộ, thành thị có 1.908 hộ). Địa bàn quy tụ 17 dân tộc, trong đó người Tày chiếm đa số với 48.897 người, người Kinh có 23.834 người.

Chỉ số tự nhiên - dân số huyện Định Hóa Số liệu thực tế trong văn bản
Tổng diện tích đất tự nhiên 520,75 km²
Đất nông nghiệp 99,29 km²
Đất lâm nghiệp 221,70 km²
Tổng số đơn vị hành chính cấp xã 24 (01 thị trấn, 23 xã)
Tổng số dân năm 2019 89.849 nhân khẩu (26.288 hộ)
Số lượng nhân khẩu người Tày 48.897 người (chiếm đa số)
Số lượng nhân khẩu người Kinh 23.834 người
Sản lượng lương thực có hạt (năm 2019) 51.340 tấn (lúa: 47.090 tấn, ngô: 4.250 tấn)
Diện tích và sản lượng chè búp tươi (năm 2019) Diện tích: 2.647 ha; Sản lượng: 25.538 tấn

Về mặt tộc người, người Tày tại Định Hóa thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái, có lịch sử cư trú lâu đời ở vùng thung lũng, ven suối. Đồng bào tại đây tự gọi là "Tày Măng giang" (Tày Mảy rạng) hoặc "Tày Mục" (Tày Đooc) để phân biệt với phương ngữ Tày Thúa. Hoạt động kinh tế cổ truyền dựa vào canh tác lúa nước (các cánh đồng gắn với từ "nà" như Nà Chằm, Nà Luông, Nà Phai), sử dụng phân trâu và guồng nước (cọn nước), kết hợp chăn nuôi, khai thác lâm thổ sản và dệt thổ cẩm, đan lát.

Chương 2: Biến đổi văn hóa vật chất của người Tày ở huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên

Chương 2 tập trung phân tích thực trạng biến đổi các thành tố thuộc diện mạo văn hóa vật chất qua các số liệu khảo sát điền dã:

  • Cấu trúc làng bản và nhà ở: Bản truyền thống người Tày thường có quy mô 30 đến 60 nóc nhà, phân bố ven chân đồi, gần suối, tên bản thường gắn với địa hình ("nà", "pác", "khuổi" như Nà Loòng, Nà Poọc, Pác Máng, Pác Cáp). Dưới tác động của quy hoạch nông thôn mới và gia tăng dân số, cấu trúc bản mở rộng, đường giao thông bê tông hóa thay thế đường mòn. Về kiến trúc nhà ở, mô hình nhà sàn truyền thống lợp lá cọ đang thu hẹp dần do nguồn gỗ, cọ khan hiếm. Bảng 2.1 (trang 63) phản ánh sự chuyển dịch từ nhà sàn sang các loại hình nhà đất, nhà xây gạch kiên cố, lợp ngói hoặc tôn xi măng nhằm đáp ứng tính tiện dụng trong sinh hoạt hiện đại.
  • Trang phục: Y phục truyền thống nhuộm chàm cổ truyền (áo cánh, áo dài năm thân, thắt lưng vải) có sự thay đổi căn bản. Các Bảng 2.2 (trang 68) và Bảng 2.3 (trang 70) chỉ ra mức độ sử dụng trang phục Tày giảm mạnh trong đời sống lao động thường nhật. Đồng bào chủ yếu chuyển sang mặc trang phục âu phục may sẵn theo phong cách người Kinh để thuận tiện làm việc; trang phục truyền thống hầu như chỉ còn được mặc trong các dịp lễ tết, đám cưới, hội hè hoặc biểu diễn văn nghệ phục vụ du lịch.
  • Ẩm thực: Chế độ ăn uống cổ truyền dựa trên các sản phẩm nông nghiệp và tự nhiên tại chỗ (gạo nếp, xôi ngũ sắc, cơm lam, trám đen, măng rừng, cá suối). Bảng 2.4 (trang 78) ghi nhận tỷ lệ tiêu thụ các món ăn hàng ngày có sự đan xen với các sản phẩm công nghiệp chế biến sẵn và văn hóa ẩm thực phổ thông của người Kinh. Biểu đồ 2.1 (trang 81) cho thấy rõ sự phân hóa về sở thích ẩm thực truyền thống theo lứa tuổi: nhóm người cao tuổi duy trì khẩu vị món ăn truyền thống cao hơn đáng kể so với nhóm thanh thiếu niên.

Chương 3: Biến đổi văn hóa tinh thần của người Tày ở huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên

Chương 3 miêu tả và định lượng các biến đổi trong đời sống tinh thần của cộng đồng người Tày:

  • Ngôn ngữ: Bảng 3.1 và Bảng 3.2 (trang 88) phản ánh thực trạng suy giảm tần suất sử dụng tiếng mẹ đẻ. Trong phạm vi gia đình, thế hệ trẻ có xu hướng sử dụng tiếng Việt (Kinh) nhiều hơn tiếng Tày. Các Bảng 3.3, Bảng 3.4, Bảng 3.5 (trang 91-92) khảo sát việc sử dụng tiếng Tày trong các hoàn cảnh giao tiếp xã hội, tham gia lễ hội cộng đồng và thực hành nghi lễ thờ cúng. Chữ Nôm Tày hầu như không còn được sử dụng trong đời sống đương đại, chỉ một số ít thầy tào lưu giữ qua các sách cúng cổ.
  • Tín ngưỡng và Lễ hội: Bảng 3.6 (trang 97) đo lường mức độ thực hành các tín ngưỡng truyền thống (thờ cúng tổ tiên, then, tào, then pụt, tín ngưỡng nông nghiệp). Bảng 3.7 và Bảng 3.8 (trang 104-105) phân tích cách thức tổ chức và biến đổi trong lễ hội người Tày (tiêu biểu như Lễ hội Lồng Tồng - xuống đồng). Lễ hội hiện nay có sự tham gia điều hành của chính quyền địa phương, thời gian tổ chức rút gọn, xuất hiện thêm các trò chơi và hoạt động văn hóa hiện đại bên cạnh các nghi thức dân gian cổ truyền.
  • Hôn nhân và Tang ma: Bảng 3.9 (trang 112) trình bày biến đổi trong nghi thức cưới xin: các hủ tục kéo dài được lược bỏ, nghi thức đăng ký kết hôn theo pháp luật Nhà nước được thực hiện nghiêm túc, gia đình hỗn hợp tộc người (kết hôn Tày - Kinh) xuất hiện ngày càng phổ biến. Bảng 3.10 (trang 119) phản ánh thực hành tang ma: các công đoạn ma chay rườm rà (như các bài cúng dài ngày, việc giết mổ nhiều gia súc) được đơn giản hóa, thời gian tổ chức tang lễ rút ngắn theo quy ước nếp sống mới tại thôn bản.

Chương 4: Những yếu tố tác động đến sự biến đổi văn hóa và giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của người Tày ở huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên trong thời gian tới

Chương 4 đúc kết các nhân tố chi phối quá trình biến đổi và đề ra nhóm giải pháp định hướng:

Những yếu tố tác động: Luận án phân tích hai nhóm nhân tố khách quan và chủ quan:

  1. Tác động của phát triển kinh tế thị trường, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phong trào xây dựng nông thôn mới làm thay đổi phương thức sản xuất, nâng cao mức sống nhưng đồng thời thu hẹp không gian sinh tồn của văn hóa truyền thống;
  2. Tác động của quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa, việc tiếp cận các phương tiện truyền thông đại chúng, mạng internet, mạng xã hội thúc đẩy thị hiếu thẩm mỹ mới;
  3. Tác động từ các chủ trương, chính sách quản lý nhà nước về văn hóa dân tộc và đề án du lịch lịch sử cách mạng tại huyện Định Hóa;
  4. Biến đổi ý thức tự giác tộc người và tâm lý xã hội của các thế hệ người Tày (sự cách biệt nhận thức giữa lớp già và thanh niên).

Giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa: Luận án xây dựng các nhóm giải pháp:

  • Nâng cao nhận thức của cấp ủy, chính quyền và đồng bào Tày về giá trị di sản văn hóa truyền thống gắn với niềm tự hào ATK Thủ đô kháng chiến;
  • Bảo tồn chọn lọc các giá trị văn hóa vật chất (hỗ trợ kinh phí phục dựng, duy trì kiến trúc nhà sàn truyền thống, khuyến khích mặc trang phục dân tộc trong công sở, trường học vào các dịp quy định);
  • Bảo tồn văn hóa tinh thần thông qua truyền dạy hát Then, đàn Tính, bảo tồn các làn điệu dân ca, biên soạn tư liệu dạy tiếng Tày cho thế hệ trẻ;
  • Gắn kết chặt chẽ công tác bảo tồn văn hóa Tày với Đề án phát triển du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái và du lịch lịch sử về nguồn tại vùng Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt An toàn khu Định Hóa.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp khoa học về mặt lý luận và thực tiễn:

  • Về mặt lý luận: Luận án góp phần hệ thống hóa các vấn đề lý luận về biến đổi văn hóa, biến đổi văn hóa tộc người trong điều kiện hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Công trình cụ thể hóa khung phân tích tác động nội sinh - ngoại sinh vào trường hợp một dân tộc thiểu số tại vùng trung du miền núi phía Bắc, chỉ ra tính chất hai mặt của quá trình tiếp biến văn hóa giữa việc làm giàu thêm đời sống văn hóa và nguy cơ xói mòn bản sắc cổ truyền.
  • Về mặt thực tiễn: Luận án cung cấp bức tranh thực nghiệm toàn diện, cập nhật về thực trạng biến đổi văn hóa của người Tày tại huyện Định Hóa từ năm 1986 đến năm 2022 thông qua các số liệu điều tra bảng hỏi (xử lý bằng SPSS) và điền dã dân tộc học. Luận án làm rõ tính chất đặc thù của văn hóa Tày Định Hóa - nơi văn hóa tộc người đan quyện với truyền thống cách mạng An toàn khu. Các kiến nghị và giải pháp trong luận án cung cấp căn cứ khoa học cho các cơ quan quản lý văn hóa của tỉnh Thái Nguyên và huyện Định Hóa trong việc điều chỉnh chính sách, triển khai hiệu quả Đề án "Phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa, lịch sử truyền thống các dân tộc huyện Định Hóa".

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Căn cứ vào phạm vi nghiên cứu được tác giả xác định trong văn bản:

  • Hạn chế: Luận án không bao quát toàn bộ diện mạo văn hóa Tày mà chỉ tập trung khảo sát một số thành tố tiêu biểu của văn hóa vật chất (làng bản, nhà ở, trang phục, ẩm thực) và văn hóa tinh thần (ngôn ngữ, lễ hội, hôn nhân, tang ma). Mẫu khảo sát định lượng dừng ở mức 100 phiếu hợp lệ tại 4 xã (Phúc Chu, Định Biên, Điềm Mặc, Phú Đình), chưa bao quát toàn bộ 24 xã, thị trấn của huyện Định Hóa. Các khía cạnh khác như tri thức dân gian về y học, luật tục hay văn học dân gian Tày chưa được phân tích sâu.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi khảo sát liên ngành về các thành tố văn hóa phi vật thể chuyên biệt (nghệ thuật diễn xướng Then cổ, tri thức bản địa trong canh tác và sử dụng thảo dược); nghiên cứu so sánh chuyên sâu về biến đổi văn hóa người Tày giữa vùng lõi di tích ATK Định Hóa với các địa bàn vùng cao biên giới giáp ranh như Bắc Kạn, Tuyên Quang.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên ngành phục vụ trực tiếp cho công tác nghiên cứu và đào tạo đại học, sau đại học thuộc các ngành Văn hóa học, Dân tộc học/Nhân học và Quản lý văn hóa.

Về phương diện ứng dụng chính sách, công trình hữu ích đối với cán bộ quản lý văn hóa, lãnh đạo chính quyền huyện Định Hóa và tỉnh Thái Nguyên trong việc hoạch định chính sách dân tộc, xây dựng hương ước thôn bản nếp sống mới, và xây dựng các sản phẩm du lịch văn hóa - lịch sử đặc trưng của địa phương.

Câu hỏi thường gặp

1. Người Tày tại huyện Định Hóa có các tên tự gọi nội bộ nào theo ghi nhận của tác giả?
Bên cạnh tên gọi chung của tộc người, người Tày ở Định Hóa còn tự gọi mình là "Tày Măng giang" (Tày Mảy rạng) hoặc "Tày Mục" (Tày Đooc) nhằm phân biệt với nhóm nói phương ngữ Tày Thúa.

2. Quy mô khảo sát định lượng và định tính của tác giả tại thực địa được triển khai như thế nào?
Về định lượng, tác giả phát ra 120 phiếu điều tra bảng hỏi tại 4 xã và thu về 100 phiếu hợp lệ để xử lý bằng SPSS. Về định tính, tác giả tiến hành phỏng vấn sâu 20 đối tượng đại diện và tổ chức 5 cuộc thảo luận nhóm hỗn hợp.

3. Vì sao địa bàn nghiên cứu tại Định Hóa lại có tính chất đặc thù so với các vùng người Tày khác?
Vì Định Hóa là vùng căn cứ địa An toàn khu (ATK) Trung ương - Thủ đô kháng chiến thời kỳ chống Pháp, đồng bào Tày sớm tiếp xúc với cách mạng, tạo nên sự đan xen sâu sắc giữa văn hóa tộc người truyền thống với văn hóa cách mạng trong không gian di tích lịch sử quốc gia đặc biệt.

4. Khung thời gian nghiên cứu của luận án được giới hạn trong giai đoạn nào?
Luận án xác định phạm vi thời gian từ năm 1986 (khởi đầu công cuộc Đổi mới đất nước) đến năm 2022 (thời điểm hoàn thành luận án).

5. Những thành tố văn hóa cụ thể nào được luận án lựa chọn để phân tích biến đổi?
Văn hóa vật chất gồm: cấu trúc làng bản, nhà ở, trang phục, ẩm thực. Văn hóa tinh thần gồm: ngôn ngữ, tín ngưỡng, lễ hội, hôn nhân và tang ma.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thanh Thủy là công trình chuyên khảo nghiên cứu có hệ thống về sự biến đổi văn hóa của người Tày tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2022. Bằng việc kết hợp lý thuyết biến đổi văn hóa, tiếp biến văn hóa với phương pháp điền dã dân tộc học và điều tra xã hội học, luận án đã làm rõ thực trạng vận động của các thành tố văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần dưới tác động của kinh tế thị trường, đô thị hóa và truyền thông mới. Kết quả nghiên cứu khẳng định tính cấp thiết của việc bảo tồn các giá trị bản sắc Tày gắn liền với không gian lịch sử văn hóa ATK Định Hóa, đồng thời cung cấp luận cứ khoa học phục vụ quản lý văn hóa và phát triển kinh tế - xã hội địa phương.