Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài luận án 1. Nghiên cứu của các học giả nước ngoài về người Tày ở Việt Nam Là một tộc người trong nhóm ngôn ngữ Tày - Thái, có vai trò, vị trí quan trọng trong sự hình thành và phát triển của khu vực Đông Nam Á nói chungvà dân tộc Việt Nam nói riêng, từ sớm dân tộc Tày đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu. Sử sách Trung Quốc cổ đại và cận hiện đại đã đề cập đến dân tộc Tày ở nước ta trong mối quan hệ với các tộc người ở bên kia biên giới Việt - Trung.
Trong các thư tịch cổ Trung Quốc: Sử ký (Tư Mã Thiên), Thủy kinh chú (Lịch Đào Nguyên), Hậu Hán thư (Phạm Việp), Tùy Thư (Ngụy Trung). đã có các ghi chép về các tộc người ở Tứ Xuyên, Vân Nam, Quảng Tây, trong đó có các nhóm Khương, Di, Choang - Đồng cổ đại với các tộc người nói ngôn ngữ Tày - Thái hiện nay ở Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan, Lào. Đến thời kỳ cận đại, các học giả Trung Quốc tiếp tục tìm hiểu và cho công bố nhiều nghiên cứu về các tộc người Tày, Nùng, Thái. Tiêu biểu là: Các dân tộc thiểu số ở Trung Quốc của Sở nghiên cứu dân tộc Trung Quốc; Các dân tộc thiểu số ở Vân Nam của Sở nghiên cứu dân tộc Quý Châu, Trung Quốc Tây Nam đích cổ đại dân tộc của Vưu Trung.
Đầu thế kỷ XX, một số học giả Tây Âu và Bắc Mỹ cũng quan tâm đến người Tày và một số tộc người khác vùng miền núi phía Bắc nhằm tìm hiểu lịch sử, ngôn ngữ và văn hóa của các cộng đồng ngữ hệ Thái - Kađai khu vực Nam Trung Quốc và Đông Nam Á. Chẳng hạn như: Vân Nam- cái chốt giữa Ấn Độ và sông Dương Tử của H. Danes; Tính năng động chủng tộc ở Đông Nam Á và từ Vân Nam đến Thái Lan của V. Eichstedt; hoặc Thái-Kađai và Indonesia, một cách phân loại mới ở Đông Nam Á của Paul K.
Tuy nhiên, điều dễ nhận thấy là, phần lớn các nghiên cứu này đều tập trung vào lịch sử hình thành và phát triển của các tộc người. Vấn đề văn hóa, nhất là sự khu biệt về văn hóa giữa các dân tộc ít được quan tâm.Trong suốt thời gian dài sau đó, người Tày cũng như văn hóa Tày ít được các học giả ngước ngoài quan tâm hơn. Phải đến những năm 12 đổi mới bắt đầu có một số công trình, dự án nghiên cứu liên ngành về chuyển đổi nông nghiệp vùng cao, tiêu biểu như: Brigh Peaks, Dark Valleys: A Comparative Analasis of Enviromental and Social Conditions and Development Trends in Five Communities in Vietnam’s Northern Mountain Region của Lê Trọng Cúc và Rambo [21]. đề cập đến những biến đổi trong đời sống kinh tế - xã hội và văn hóa của dân tộc Tày.
Gần đây, khi mối quan hệ giữa các tộc người, nhất là quan hệ tộc người xuyên biên giới trở thành chủ đề được quan tâm, một số học giả Trung Quốc, nhất là các nhà nghiên cứu ở Đại học Dân tộc Quảng Tây, Học viện Hồng Hà (Vân Nam), Trung Quốc có xu hướng quay trở lại tìm hiểu, nghiên cứu về nhóm Tày, Nùng (trong mối tương quan với người Choang, Trung Quốc). Ví dụ như: Luận bàn khái quát về sùng bái tổ tiên của dân tộc Choang Trung Quốc và dân tộc Tày, Nùng của Việt Nam của Đằng Thành Đạt [99]. Tuy nhiên, các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào sự giao thoa, sự tương đồng và khác biệt giữa 2 nhóm này liên quan đến nguồn gốc, quá trình tộc người, tín ngưỡng, lễ hội. chứ không đề cập đến những vấn đề hôn nhân hay cưới xin.
Nghiên cứu của các học giả trong nước về người Tày và tập quán cưới xin của người Tày 1. Các công trình nghiên cứu về người Tày có đề cập đến tập quán cưới xin Là một trong những nghi lễ vòng đời người nên có thể thấy trong những nghiên cứu, hầu hết khi phản ánh đời sống văn hóa tinh thần của người Tày các tác giả đều đề cập đến tập quán cưới xin. Từ những năm đầu thế kỷ XX, trong công trình Cao Bằng tạp chí nhật tập viết về nguồn gốc các tộc người ở Cao Bằng, khi nói về người Tày, phần: Tục lấy vợ, lấy chồng của người Thổ (tức người Tày) tác giả Bế Huỳnh khái quát như sau: “Người Thổ từ xưa không có lễ gia quan, chỉ có tục lấy vợ, lấy chồng, đại thể cũng tuân theo sáu thứ lễ của Chu Công„[87, tr.25], bao gồm: lễ Nạp thái, lễ Vấn danh, Trưng lễ, Cát lễ, lễ Thỉnh lỳ, lễ Thân nghênh. Sáu lễ trên tương ứng với tên tục gọi, gồm: Lễ Nạp thái (lễ Má (dấm, dạm) - lễ Dạm vợ); lễ Vấn danh (lễ Páo sư đây - lễ báo hợp mệnh); Trưng lễ (lễ Báo đáp); Cát lễ (lễ Tẳt tháp - đặt gánh); lễ Nạp cát, lễ Thỉnh kỳ (lễ Páo hoằn - lễ báo cưới, thách cưới); lễ Thân nghênh (Rẳp lùa - lễ đón 13 dâu).
Trong từng lễ, tác giả đã miêu thuật một cách cụ thể về thời gian, cách thức, lễ vật cụ thể của từng vùng người Thổ ở Cao Bằng. Ngoài ra, ông cũng miêu tả tục “nộp lễ gánh„ (Sống tháp), tục “đại lễ„ và tục “uống rượu, ăn cỗ cưới„ (Kin lẩu), tục “hát hỏi Quan lang„ hay tục lễ lại mặt. Theo đó, ba ngày sau khi cưới, nhà trai phải chuẩn bị lễ vật là lễ lại mặt, vợ chồng cùng về nhà gái làm lễ bái yết. Từ đó cô dâu sẽ ở lại nhà cha mẹ đẻ, khi nhà chồng có việc thì đón về vài ngày, xong lại quay trở về.
Chỉ đến khi có thai đến kỳ sinh nở nhà chồng mới đón về sinh con và từ đó sinh sống luôn tại nhà chồng. Từ cuối những năm 60 của thế kỷ XX hàng loạt các công trình nghiên cứu về về dân tộc thiểu số, trong đó có người Tày được công bố: Công trình Các dân tộc ít người ở Việt Nam của Viện Dân tộc học [111], Công trình Sơ lược giới thiệu các nhóm Tày - Nùng – Thái ở Việt Nam của Lã Văn Lô và Đặng Nghiêm Vạn [58]; Công trình Văn hóa Tày, Nùng của Lã Văn Lô và Hà Văn Thư [59]; Công trình Văn hóa truyền thống Tày - Nùng của Hoàng Quyết và Ma Khánh Bằng [76]; Công trình Phong tục tập quán dân tộc Tày ở Việt Bắc của Hoàng Huy Quyết và Tuấn Dũng [77],. Điểm chung của các công trình này là đã “vẽ nên một bức tranh khái quát nhất về diện mạo của một dân tộc theo cái nhìn của dân tộc học lịch sử„ bao gồm: nguồn gốc lịch sử, quá trình tộc người, đặc trưng đời sống văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần, văn hóa xã hội. Trong đó, tập quán cưới xin được mô tả khái quát nhất ở các phương diện: quan niệm hôn nhân, chế độ, nguyên tắc kết hôn, quyền quyết định hôn nhân, tuổi kết hôn.
Theo đó, người Tày cho rằng, hôn nhân là nhằm mục đích thỏa mãn yêu cầu của gia đình là sinh con đẻ cái, nối dõi tông đường [59, tr. Vì vậy, việc hôn nhân chủ yếu do cha mẹ quyết định. Chính đặc điểm này đã chi phối toàn bộ nội dung nguyên tắc, bản chất, tiêu chí lựa chọn bạn đời. Bên cạnh đó, các tác giả cũng cho rằng, về cơ bản, tục cưới xin của đồng bào Tày có 7 nghi lễ chính, bao gồm: Lễ dạm hỏi, Lễ mình hom (mừng lá số), Lễ khả cáy (mổ gà), Lễ sêu tết, Lễ ăn hỏi, Lễ cưới chính thức, Lễ hòi ròi [59, tr.
Các nghi lễ được tác giả miêu tả và trình bày một cách hết sức sơ lược và khái quát. Ở thập niên cuối của thế kỷ XX, khi quá trình giao lưu, hợp tác quốc tế ngày càng được mở rộng, văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam nói chung, văn hóa 14 các tộc người nói riêng đang đứng trước những cơ hội lớn của quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa. Đồng thời cũng chính văn hóa, nhất là văn hóa của các dân tộc thiểu số cũng bị đặt trước thách thức của sự lai căng, áp đặt từ bên ngoài, sự mai một các giá trị, bản sắc dân tộc. Từ đây, vấn đề vị trí, vai trò của văn hóa, nhất là văn hóa truyền thống được nhận thức được đầy đủ hơn.
Hàng loạt các công trình nghiên cứu về văn hóa và vấn đề phát huy giá trị bản sắc văn hóa tộc người được công bố. Có thể kể đến hai công trình tiêu biểu về văn hóa Tày theo hướng này là: Công trình Đến với người Tày và văn hóa Tày của La Công Ý [115]. và chuyên khảo Văn hóa Tày ở Việt Nam và tiến trình hội nhập thế giới của Dương Thuấn [92]. Điểm chung của hai công trình này là, tác giả đều là những người con của dân tộc Tày.
Sự kết hợp giữa vốn sống thực tế, những điều mắt thấy, tai nghe, những trải nghiệm của một người trong cuộc với tri thức văn hóa mà một nhà nghiên cứu đã được các tác giả trình bày ở dạng học thuật đã đem lại những ấn tượng mạnh mẽ về vẻ đẹp của văn hóa Tày. Tuy nhiên, do đây không phải là những công trình nghiên cứu chuyên sâu về phong tục, nhất là phong tục, tập quán cưới xin nên những nội dung liên quan đến tập quán này chỉ được các tác giả nhắc đến như những dẫn dụ về những nét đặc trưng làm nên những giá trị độc đáo của văn hóa truyền thống người Tày. Luận án Tiến sỹ Nhân học Một số nét biến đổi văn hóa của người Tày ở Lạng Sơn trong quá trình đổi mới kinh tế- xã hội của Bế Văn Hậu [41] là một trong số hiếm hoi những chuyên khảo đã dựng lên một bức tranh tương đối khái quát và toàn diện về văn hóa của người Tày ở Lạng Sơn trên tất cả các phương diện: văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần, văn hóa xã hội và những biến đổi của nó trước sự tác động của quá trình đổi mới kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Ở chương Biến đổi văn hóa tinh thần, tác giả cũng có chỉ ra sự biến đổi của Lễ cưới ở một số phương diện: nghi thức tổ chức lễ cưới, tuổi kết hôn lần đầu, quyền quyết định hôn nhân,tục thách cưới và hiện tượng hôn nhân hỗn hợp [41, tr.
Ngoài ra, tác giả cũng đặt ra vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị tốt đẹp của văn hóa truyền thống của người Tày ở Lạng Sơn.