Tổng quan luận án
Đề tài luận án tiến sĩ "Biến đổi tập quán cưới xin của người Tày ở huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn" do nghiên cứu sinh Giang Thị Huyền thực hiện tại Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam (chuyên ngành Văn hóa học, mã số: 62 31 06 40, bảo vệ năm 2017 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Đỗ Đình Hãng).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
- Văn hóa các dân tộc thiểu số là bộ phận cốt lõi tạo nên tính đa dạng trong sự thống nhất của nền văn hóa Việt Nam. Dưới tác động của công cuộc Đổi mới từ năm 1986, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH), đô thị hóa và hội nhập quốc tế, văn hóa các tộc người thiểu số miền núi phía Bắc đang diễn ra sự biến đổi nhanh chóng. Quá trình này vừa tạo cơ hội tiếp biến giá trị mới, vừa đặt các cộng đồng trước nguy cơ mai một di sản và phai nhạt bản sắc văn hóa tộc người.
- Người Tày thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka đai), là tộc người thiểu số có dân số đông nhất Việt Nam. Trong các địa phương cư trú, tỉnh Lạng Sơn là nơi tập trung đông người Tày nhất cả nước (252.800 người theo số liệu thống kê được luận án trích dẫn). Do đặc điểm cư trú vùng thấp, giáp biên giới Việt - Nam và nằm trên trục giao thương quốc tế, quá trình biến đổi văn hóa của người Tày diễn ra nhanh và rõ nét.
- Cưới xin là một trong những nghi lễ vòng đời quan trọng, phản ánh trình độ văn hóa vật chất lẫn tinh thần của tộc người. Mặc dù đã có các công trình nghiên cứu chung về văn hóa Tày hoặc sưu tầm dân gian về phong tục cưới hỏi, song vẫn thiếu vắng một công trình nghiên cứu chuyên khảo, hệ thống về thực trạng và xu hướng biến đổi tập quán cưới xin tại một địa bàn biên giới trọng điểm như huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.
Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát: Nêu, phân tích, đánh giá sự biến đổi trong tập quán cưới xin truyền thống của người Tày ở huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn giai đoạn hiện nay; từ đó cung cấp những luận cứ khoa học và những đề xuất khả thi trong việc định hướng bảo tồn, phát huy giá trị trong tập quán cưới xin của người Tày ở Lạng Sơn và khu vực miền núi phía Bắc.
- Mục tiêu cụ thể:
- Tìm hiểu diện mạo tập quán cưới xin truyền thống của người Tày ở Cao Lộc, Lạng Sơn.
- Làm rõ thực trạng, nguyên nhân biến đổi trong tập quán cưới xin của người Tày ở huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.
- Khuyến nghị một số vấn đề cho việc đề ra giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống trong tập quán cưới xin của người Tày ở huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn trong xã hội đương đại.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tập quán cưới xin của người Tày ở huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn trong quá trình vận động, biến đổi theo thời gian để thích nghi và tồn tại.
- Phạm vi không gian: Huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn. Khảo sát thực địa tập trung tại 3 điểm đại diện cho các tiểu vùng kinh tế - xã hội:
- Thôn Bản Vàng (xã Cao Lâu) - đại diện cho vùng sâu, vùng xa, biên giới.
- Thôn Bắc Đông II (xã Gia Cát) - đại diện cho vùng ven đô.
- Khối 5 (thị trấn Cao Lộc) - đại diện cho vùng đô thị hóa.
- Phạm vi thời gian: Tập quán cưới xin của người Tày được xem xét qua các mốc thời gian lịch sử: trước năm 1975 (thời kỳ chiến tranh); từ 1975 đến 1986 (thời kỳ bao cấp); từ 1986 đến 1996 (10 năm đầu đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH); từ 1997 đến nay (thời kỳ mở rộng hợp tác quốc tế) trong sự so sánh hồi cố với tập quán cưới xin truyền thống.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả đã điểm lại hệ thống tài liệu nghiên cứu liên quan theo các nhóm tác giả trong và ngoài nước:
Các công trình nghiên cứu của học giả nước ngoài
- Thư tịch cổ và nghiên cứu của học giả Trung Quốc: Thư tịch cổ như Sử ký (Tư Mã Thiên), Thủy kinh chú (Lịch Đào Nguyên), Hậu Hán thư (Phạm Việp), Tùy thư (Ngụy Trung) ghi chép về các tộc người Khương, Di, Choang - Đồng và ngữ hệ Tày - Thái. Thời cận - hiện đại có các công trình Các dân tộc thiểu số ở Trung Quốc (Sở nghiên cứu dân tộc Trung Quốc), Các dân tộc thiểu số ở Vân Nam (Sở nghiên cứu dân tộc Quý Châu), Trung Quốc Tây Nam đích cổ đại dân tộc của Vưu Trung. Gần đây có nghiên cứu so sánh xuyên biên giới của Đằng Thành Đạt (Đại học Dân tộc Quảng Tây, Học viện Hồng Hà, Vân Nam) về tục sùng bái tổ tiên giữa người Choang (Trung Quốc) và Tày, Nùng (Việt Nam).
- Học giả Tây Âu và Bắc Mỹ: H. Danes với Vân Nam - cái chốt giữa Ấn Độ và sông Dương Tử, V. Eichstedt với Tính năng động chủng tộc ở Đông Nam Á và từ Vân Nam đến Thái Lan, Paul K. Benedict với Thái-Kađai và Indonesia, một cách phân loại mới ở Đông Nam Á. Thời kỳ đổi mới có công trình liên ngành Bright Peaks, Dark Valleys của Lê Trọng Cúc và Terry Rambo (1995) về chuyển đổi kinh tế - xã hội vùng núi phía Bắc.
Các công trình nghiên cứu của học giả trong nước
- Nghiên cứu dân tộc học lịch sử và tổng quan văn hóa Tày: Tác phẩm Cao Bằng tạp chí nhật tập của Bế Huỳnh (đầu thế kỷ XX) ghi chép về 6 lễ Chu Công trong hôn nhân của người Thổ (Tày) gồm: Nạp thái (lễ Má/dạm), Vấn danh (lễ Páo sư đây/hợp mệnh), Trưng lễ (lễ Báo đáp), Cát lễ (lễ Tẳt tháp/đặt gánh), Thỉnh kỳ (lễ Páo hoằn/báo cưới, thách cưới), Thân nghênh (Rẳp lùa/đón dâu) cùng tục hát Quan lang và tục ở nhà bố mẹ đẻ sau cưới. Các công trình chung của Viện Dân tộc học (1978), Lã Văn Lô và Đặng Nghiêm Vạn (1968), Lã Văn Lô và Hà Văn Thư (1984), Hoàng Quyết và Ma Khánh Bằng (1992), Hoàng Huy Quyết và Tuấn Dũng (1990), La Công Ý (2007), Dương Thuấn (2007). Luận án Tiến sĩ Nhân học của Bế Văn Hậu (2012) về biến đổi văn hóa người Tày ở Lạng Sơn; báo cáo đề tài của Đàm Thị Uyên về văn hóa tộc người ở miền Tây Cao Bằng.
- Nghiên cứu chuyên sâu về tập quán cưới xin: Chuyên khảo Hôn nhân và gia đình các dân tộc Tày, Nùng và Thái ở Việt Nam của Đỗ Thúy Bình (1991); Tục cưới xin của người Tày của Triều Ân và Hoàng Quyết (2007); Việc dựng vợ, gả chồng của người Tày Cao Bằng của Hoàng Tuấn Nam và Bế Thanh Tuyền (2005); Tục hôn nhân cổ của người Tày Nguyên Bình của Hoàng Thị Cành (2006); các khóa luận, luận văn của Đoàn Minh Thuận (2000), Nông Anh Nga (2011), Seo Thị Thu Trang (2007), Quốc Thị Diễm (2014), Hứa Thị Huyền (2015).
- Nghiên cứu về tục hát Quan lang trong đám cưới: Nguyễn Văn Huyên (1946) với Những khúc ca đám cưới người Tày; Nông Minh Châu và Vi Quốc Bảo (1978); Hội Văn học Nghệ thuật Bắc Thái (1984); Lục Văn Pảo (1986); Đàm Thùy Linh (2009); Ma Ngọc Hướng (2004); Tráng Thị Thúy (2006); Hoàng Tương Lai (2011); Lê Thương Huyền (2008); và Luận án Tiến sĩ Văn hóa học của Nguyễn Thị Thoa (2014) về Tục hát Quan lang trong đám cưới của người Tày Cao Bằng.
Khoảng trống luận án giải quyết
Phần lớn các nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận theo hướng dân tộc học mô tả, sưu tầm văn hóa dân gian hoặc nghiên cứu trên diện rộng ở trạng thái tĩnh. Chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, kết hợp phương pháp liên ngành văn hóa học với điều tra xã hội học định lượng để khảo sát quá trình biến đổi tập quán cưới xin của người Tày tại địa bàn cụ thể của tỉnh Lạng Sơn (huyện biên giới Cao Lộc) trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khái niệm thao tác
- Tập quán cưới xin: Hệ thống các quan niệm, chuẩn mực, nghi lễ trong việc kết hôn của một cộng đồng dân cư, được biểu hiện ở: quan niệm về hôn nhân, nguyên tắc kết hôn, tính chất và quyền quyết định hôn nhân, các thủ tục và nghi lễ tiến hành hôn nhân (dạm hỏi, ăn hỏi, lễ cưới, lại mặt).
- Truyền thống trong tập quán cưới xin và tập quán cưới xin truyền thống: "Truyền thống trong tập quán cưới xin" biểu thị các quan niệm, nguyên tắc, mô thức đã định hình bền vững trong cấu trúc văn hóa; còn "tập quán cưới xin truyền thống" được đặt trong tương quan so sánh với các yếu tố của xã hội hiện đại, công nghiệp.
- Biến đổi tập quán cưới xin: Dựa trên quan niệm của Nguyễn Duy Bắc về biến đổi văn hóa, luận án xác định biến đổi tập quán cưới xin của người Tày là sự thay đổi các thành tố cấu thành tập quán hôn nhân và thực hành nghi lễ cưới hỏi dưới tác động của các nhân tố chính trị, kinh tế, xã hội.
Khung lý thuyết
Luận án vận dụng lý thuyết biến đổi văn hóa làm nền tảng phân tích, tiếp thu các luận điểm khoa học:
- Thuyết tiến hóa văn hóa (E. Morgan), Thuyết truyền bá văn hóa (G. Rivers), Thuyết vùng văn hóa (C. Kroeber), Thuyết tiếp biến văn hóa (Redfield, Broom), Thuyết chức năng (Brown, Malinowski).
- Luận điểm của Samuel P. Huntington (1971): Về sự chuyển dịch từ xã hội nông nghiệp truyền thống sang xã hội công nghiệp hiện đại thông qua quá trình hiện đại hóa, đồng thời nhấn mạnh tính tự trị và sự ảnh hưởng lâu dài của các giá trị văn hóa.
- Luận điểm của Ronald Inglehart, Wayne E. Baker và Christian Welzel (2000, 2005): Về mối quan hệ giữa hiện đại hóa, phát triển kinh tế với biến đổi văn hóa; khẳng định sự tồn tại bền bỉ của các giá trị văn hóa truyền thống, chỉ ra rằng hiện đại hóa không diễn ra theo đường thẳng đơn tuyến mà chuyển động qua các điểm cong tùy thuộc di sản văn hóa của từng xã hội.
- Luận điểm của L. S. Spindler (1977): Về mô hình biến đổi văn hóa xã hội trên 3 cấp độ (văn hóa, xã hội, cá nhân), đặc biệt là luận điểm về tính biến đổi song hành cùng tính bền bỉ của văn hóa trong đời sống xã hội.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp tiếp cận liên ngành Văn hóa học, kết hợp giữa nghiên cứu tài liệu, định tính và định lượng:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Thu thập, xử lý 3 nhóm tư liệu: (i) tài liệu lý thuyết về tập quán, phong tục, biến đổi văn hóa; (ii) các công trình nghiên cứu về dân tộc Tày và tập quán cưới xin; (iii) các báo cáo phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
- Phương pháp nghiên cứu định tính: Thực hiện điền dã dân tộc học nhiều đợt; sử dụng kỹ thuật phỏng vấn sâu, quan sát tham dự và thảo luận nhóm (có ghi âm, chụp ảnh, quay phim khi được cho phép). Đối tượng phỏng vấn gồm: cán bộ quản lý văn hóa cơ sở; các chuyên gia văn hóa; người dân địa phương (trưởng thôn, người có uy tín, nghệ nhân, phụ nữ, thanh niên).
- Phương pháp nghiên cứu định lượng: Sử dụng bảng hỏi điều tra xã hội học với mẫu ngẫu nhiên gồm 109 hộ gia đình tại 3 địa bàn thuộc huyện Cao Lộc. Dữ liệu bảng hỏi được nhập, làm sạch và xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS.
| Địa bàn nghiên cứu |
Đặc điểm sinh thái - xã hội |
Số lượng mẫu điều tra |
Tỷ lệ hộ Tày tại địa bàn |
| Thôn Bản Vàng (xã Cao Lâu) |
Vùng sâu, vùng xa, biên giới |
36 hộ |
91,2% (93/102 hộ) |
| Thôn Bắc Đông II (xã Gia Cát) |
Vùng ven đô, chuẩn nông thôn mới |
45 hộ |
91,9% (147/160 hộ) |
| Khối 5 (thị trấn Cao Lộc) |
Vùng đô thị hóa, dịch vụ |
28 hộ |
29,0% (43/148 hộ) |
| Tổng cộng |
Toàn huyện Cao Lộc |
109 hộ |
Mẫu đại diện 3 tiểu vùng |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và địa bàn nghiên cứu
- Trình bày tổng quan các nguồn tài liệu trong và ngoài nước; hệ thống hóa các khái niệm công cụ và xác lập khung lý thuyết biến đổi văn hóa.
- Khái quát lịch sử, văn hóa người Tày ở Lạng Sơn: Người Tày có mặt từ cuối thiên niên kỷ I TCN, có mối quan hệ tiếp xúc lâu đời với người Việt (dấu vết truyền thuyết Chín chúa tranh vua, thời nhà Mạc, Thất tộc thổ ty) và người Nùng (sau khởi nghĩa Nùng Trí Cao). Thực hành tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên 3-4 đời (bố mẹ, ông bà, cụ, kỵ), tục thờ Mẹ sinh sản, quan niệm tâm linh về "ma gà" (phi cáy).
- Phân tích bối cảnh tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Cao Lộc: Huyện nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Lạng Sơn, có hơn 80 km đường biên giới giáp Quảng Tây (Trung Quốc), diện tích tự nhiên 610,11 km2 (đất nông nghiệp chiếm 6,87%), dân số hơn 75.000 người (người Nùng >60%, người Tày gần 30%, người Kinh, Dao, Hoa >6%). Nơi đây có Cửa khẩu Quốc tế Hữu Nghị và thị trấn liên vận Đồng Đăng.
- Phân tích cơ cấu kinh tế - xã hội tại 3 điểm điền dã: Bản Vàng (thuần nông nghiệp, trồng hồi, thông; hộ khá chiếm 61,8%, hộ nghèo 8,8%); Bắc Đông II (nông nghiệp hàng hóa, trồng ớt, 100 ha thông, 100 con ngựa; hộ khá 59,3%, hộ nghèo 5,6%); Khối 5 thị trấn Cao Lộc (cán bộ, thương mại dịch vụ; hộ khá giàu >70%, 1 hộ nghèo).
Chương 2. Truyền thống trong tập quán cưới xin của người Tày ở huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn
- Quan niệm về hôn nhân và độ tuổi kết hôn: Hôn nhân là sự kiện hệ trọng của gia đình mở rộng và dòng họ, nhằm liên kết kinh tế - xã hội và sinh con nối dõi tông đường ("khẩu vẻ vằn" - giống thóc vạn niên). Tập quán kết hôn rất sớm (tảo hôn từ 14-15 tuổi, thậm chí 10-12 tuổi ở vùng sâu; phụ nữ 18-20 tuổi bị coi là quá lứa). Nam giới Tày truyền thống thường kết hôn với phụ nữ lớn hơn 3-4 tuổi để đảm đương công việc đồng áng và quán xuyến gia đình.
- Tiêu chí lựa chọn bạn đời:
- Tiêu chí chọn vợ: Đòi hỏi sức khỏe ("Nạ na kha nẳng..."), sự chăm chỉ, khéo léo may vá nhuộm chàm ("Chiêm lùa chiêm bươn lảp" - chọn dâu tháng chạp xem bàn tay đen chàm), xem gia thế bên ngoại ("Au lục chiêm tai / Au vai chiêm mè"), gia đình phải "sạch sẽ" không có định kiến "ma gà" (phi cáy).
- Tiêu chí chọn chồng: Đòi hỏi sức vóc, khả năng cày bừa giỏi giang ("Cảo na, kha mẳng / Tàng thây, tàng phưa dàu dít"), có tính toán việc lớn, gia đình môn đăng hộ đối, ưu tiên người cùng tộc Tày.
- Các nguyên tắc kết hôn:
- Ngoại hôn dòng họ: Nghiêm cấm kết hôn giữa những người có cùng huyết thống ("lượt lài", "đúc lượt"). Quy tắc tính 5 đời đối với con gái đi lấy chồng; vi phạm bị xem là loạn luân gây ô nhiễm nguồn nước, chịu phạt vạ nặng trước bàn thờ tổ tiên và ma bản.
- Nguyên tắc cư trú sau kết hôn: Tồn tại 3 hình thức (cư trú bên chồng, cư trú riêng, cư trú bên vợ/ở rể đời khi nhà gái hiếm con trai). Tục lệ đặc thù: sau cưới 3 ngày (lại mặt), cô dâu quay về ở nhà bố mẹ đẻ, chỉ về nhà chồng dịp lễ tết hoặc mùa vụ; đến khi mang thai và sinh con đầu lòng mới chính thức về ở hẳn nhà chồng.
- Tính chất hôn nhân: Mang tính chất "gả bán" ("nhình khai, chài slự"), thể hiện qua lễ vật thách cưới nhằm bù đắp sức lao động cho nhà gái và khẳng định giá trị của cô dâu; quyền quyết định hôn nhân hoàn toàn do cha mẹ định đoạt.
- Các nghi lễ cưới xin truyền thống: Diễn trình trải qua các lễ: Lễ dạm hỏi (Má/xam); Lễ gửi lá số/hợp mệnh (Páo sư đây/mỉnh hom); Lễ ăn hỏi (Kin háp/tẳt tháp); Lễ sêu tết; Lễ báo ngày cưới (Páo vằn/páo hoằn); Lễ cưới chính thức (Kin lẩu/rẳp lùa); Lễ lại mặt. Đám cưới truyền thống thực hiện các tục lệ đón dâu (căng dây chặn đường, giữ cửa, rải chiếu, dâng vải ướt khô) và diễn xướng hát Quan lang.
Chương 3. Những biến đổi trong tập quán cưới xin truyền thống của người Tày ở huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn
Chương này phản ánh các khía cạnh biến đổi dựa trên số liệu xử lý SPSS từ 109 bảng hỏi và tài liệu điền dã:
| Khía cạnh biến đổi |
Đặc điểm truyền thống |
Thực trạng biến đổi hiện nay |
| Phạm vi và đối tượng kết hôn |
Chủ yếu nội hôn tộc người Tày, nội vùng làng bản. |
Mở rộng không gian kết hôn; gia tăng hôn nhân hỗn hợp tộc người (kết hôn với người Kinh, Nùng, Dao...). |
| Độ tuổi kết hôn lần đầu |
Tảo hôn phổ biến (14-15 tuổi; vợ hơn tuổi chồng). |
Độ tuổi kết hôn tăng lên, tuân thủ Luật Hôn nhân và Gia đình; tương quan thuận giữa học vấn cao với kết hôn muộn. |
| Quyền quyết định hôn nhân |
Cha mẹ sắp đặt ("đặt đâu con ngồi đấy"). |
Nam nữ tự do tìm hiểu (qua trường học, nơi làm việc, giao lưu xã hội), tự nguyện quyết định hôn nhân. |
| Thực hiện nghi thức pháp luật |
Chỉ coi trọng nghi lễ phong tục truyền thống. |
Đăng ký kết hôn tại UBND xã/thị trấn trở thành quy trình pháp lý bắt buộc trước khi tổ chức đám cưới. |
| Quy mô và địa điểm tổ chức |
Quy mô gọn trong nội tộc, tổ chức tại gia đình. |
Quy mô mở rộng khách mời; xuất hiện tổ chức tại nhà hàng, dựng rạp lớn, thuê dịch vụ trọn gói. |
| Quà mừng đám cưới |
Hiện vật hỗ trợ sinh hoạt (gạo, lợn, gà, rượu, vải). |
Phổ biến bằng phong bì tiền mặt; mức độ trang trải đồ mừng giúp bù đắp chi phí tổ chức cưới hỏi. |
| Trang phục cưới |
Áo chàm truyền thống tự cắt may, nhuộm chàm. |
Chuyển sang váy cưới hiện đại, veston, áo dài; trang phục chàm giảm mạnh, chủ yếu người lớn tuổi mặc. |
| Của hồi môn |
Chăn bông tự làm, vải tự dệt, công cụ sản xuất. |
Chuyển sang của cải có giá trị kinh tế: tiền mặt, vàng, xe máy, đồ dùng gia đình tiện nghi. |
| Tục cư trú sau cưới |
Cô dâu về ở nhà mẹ đẻ, sinh con mới về nhà chồng. |
Cô dâu về sống ngay bên nhà chồng sau ngày cưới; tục ở nhà bố mẹ đẻ sau cưới gần như mất hẳn. |
| Tục hát Quan lang |
Diễn xướng nghi lễ bắt buộc xuyên suốt các bước đón dâu. |
Bị giản lược; ít đám cưới tổ chức hát đối đáp đầy đủ do thiếu nghệ nhân am hiểu văn bản thơ lẩu. |
- Nguyên nhân biến đổi: Sự chuyển đổi kinh tế nông nghiệp sang sản xuất hàng hóa, dịch vụ; tác động của quá trình đô thị hóa và giao thương cửa khẩu biên giới; sự nâng cao trình độ học vấn của thanh niên; hiệu lực thực thi của pháp luật hôn nhân gia đình và phong trào xây dựng nếp sống văn hóa mới.
Chương 4. Giá trị, xu hướng biến đổi và một số vấn đề đặt ra
- Giá trị truyền thống trong tập quán cưới xin: Khẳng định giá trị củng cố tình đoàn kết cộng đồng làng bản; giá trị giáo dục đạo đức, chữ hiếu và nghĩa vợ chồng; giá trị văn hóa nghệ thuật dân gian độc thấu qua văn học truyền khẩu, thơ lẩu, diễn xướng hát Quan lang và tri thức bản địa dệt nhuộm chàm.
- Xu hướng biến đổi trong những năm tới: Quá trình giản lược hóa các nghi lễ rườm rà tiếp tục diễn ra; sự giao thoa, tiếp biến với lối sống đô thị ngày càng sâu sắc; xu hướng thương mại hóa và gia tăng chi phí cưới hỏi tiếp tục xuất hiện ở các địa bàn ven đô và đô thị hóa.
- Một số vấn đề đặt ra và giải pháp:
- Nguy cơ mai một các giá trị văn hóa Tày truyền thống (tiếng nói, trang phục áo chàm, nghệ thuật hát Quan lang).
- Hiện tượng phô trương, thương mại hóa, lãng phí trong tổ chức đám cưới hiện đại.
- Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước kết hợp xây dựng quy ước, hương ước thôn bản về nếp sống văn minh; đẩy mạnh sưu tầm, truyền dạy di sản hát Quan lang; bảo tồn có chọn lọc các phong tục tốt đẹp và loại bỏ hủ tục tốn kém.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Vận dụng khung lý thuyết biến đổi văn hóa và phương pháp tiếp cận liên ngành Văn hóa học vào việc phân tích biến đổi nghi lễ vòng đời người của một tộc người thiểu số tại vùng biên giới.
- Làm rõ tính quy luật của sự biến đổi văn hóa: quá trình hiện đại hóa mang lại những thay đổi nhanh chóng về hình thức tổ chức cưới xin, song các giá trị văn hóa cốt lõi (tính cố kết dòng họ, nguyên tắc ngoại hôn, sự tôn trọng tổ tiên) vẫn thể hiện tính bền bỉ trong đời sống cộng đồng.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Cung cấp hệ thống tư liệu dân tộc học và dữ liệu điều tra xã hội học định lượng (109 hộ tại 3 tiểu vùng sinh thái của huyện Cao Lộc) một cách hệ thống, phản ánh diện mạo thực trạng biến đổi tập quán cưới xin của người Tày từ truyền thống đến hiện đại.
- Cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn cho các cơ quan quản lý văn hóa cấp tỉnh Lạng Sơn và huyện Cao Lộc trong việc hoạch định chính sách bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể, xây dựng quy ước làng văn hóa, thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Tăng cường công tác tuyên truyền, hướng dẫn nhân dân thực hiện Luật Hôn nhân và Gia đình gắn liền với các tiêu chí xây dựng nông thôn mới và gia đình văn hóa.
- Tổ chức kiểm kê, sưu tầm và hỗ trợ các nghệ nhân truyền dạy nghệ thuật hát Quan lang trong đám cưới người Tày; khuyến khích sử dụng trang phục truyền thống trong ngày cưới.
- Xây dựng quy ước thôn bản nhằm khống chế quy mô cỗ bàn, giảm thiểu áp lực tài chính và xu hướng phô trương, thương mại hóa đám cưới.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Dung lượng mẫu điều tra định lượng dừng ở mức 109 hộ tại 3 điểm khảo sát của một huyện (Cao Lộc); nguồn tư liệu chủ yếu tập trung vào người Tày tại địa bàn khảo sát mà chưa so sánh đối chiếu sâu rộng với các địa bàn người Tày ở các tỉnh Đông Bắc khác (như Cao Bằng, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Hà Giang).
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh biến đổi tập quán cưới xin giữa người Tày và người Nùng tại các huyện biên giới Lạng Sơn; khảo sát sâu hơn về hiện tượng hôn nhân hỗn hợp và hôn nhân xuyên biên giới Việt - Trung trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng:
- Nghiên cứu sinh, học viên, sinh viên: Chuyên ngành Văn hóa học, Dân tộc học/Nhân học, Xã hội học tham khảo về phương pháp tiếp cận liên ngành và kỹ thuật kết hợp điền dã dân tộc học với điều tra xã hội học bằng SPSS.
- Giảng viên, nhà nghiên cứu: Sử dụng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy các chuyên đề về văn hóa tộc người thiểu số, biến đổi văn hóa và phong tục tập quán vùng Đông Bắc.
- Cán bộ quản lý văn hóa, người làm chính sách: Tham khảo các luận cứ thực tiễn để xây dựng chính sách văn hóa cơ sở, quản lý lễ nghi phong tục và bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể tại địa phương.
- Nội dung đáng tham khảo: Phương pháp thiết kế bảng hỏi và xử lý tương quan dữ liệu xã hội học; hệ thống tư liệu miêu thuật chi tiết các bước nghi lễ cưới xin truyền thống và tục hát Quan lang của người Tày.
Câu hỏi thường gặp
1. Địa bàn nghiên cứu thực địa của luận án được lựa chọn tại những điểm nào và đại diện cho các đặc trưng gì?
Tác giả lựa chọn 3 điểm khảo sát tại huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn gồm: thôn Bản Vàng (xã Cao Lâu) đại diện cho vùng sâu, vùng xa, biên giới với tỷ lệ người Tày 91,2%; thôn Bắc Đông II (xã Gia Cát) đại diện cho vùng ven đô đạt chuẩn nông thôn mới với tỷ lệ người Tày 91,9%; và Khối 5 (thị trấn Cao Lộc) đại diện cho vùng đô thị hóa với tỷ lệ người Tày 29%.
2. Tiêu chí chọn dâu, chọn rể truyền thống của người Tày ở Cao Lộc dựa trên những chuẩn mực nào?
Chọn dâu truyền thống đề cao sức khỏe để làm nương rẫy, sự chăm chỉ may vá nhuộm chàm ("chọn dâu tháng chạp" xem bàn tay đen chàm), xem xét nếp nhà dòng họ bên ngoại và kiêng kỵ gia đình có "ma gà" (phi cáy). Chọn rể đề cao sức vóc, khả năng cày bừa giỏi giang ("nhìn đường bừa"), tính toán gánh vác việc gia đình, môn đăng hộ đối và ưu tiên người cùng tộc Tày.
3. Nguyên tắc ngoại hôn dòng họ và tục lệ cư trú sau cưới truyền thống của người Tày được thực hiện ra sao?
Người Tày tuyệt đối cấm kết hôn cùng huyết thống ("lượt lài", "đúc lượt"); con gái đi lấy chồng phải sau 5 đời con cháu mới được kết hôn lại. Về cư trú, sau lễ cưới và lễ lại mặt 3 ngày, cô dâu truyền thống quay về ở nhà cha mẹ đẻ, chỉ sang nhà chồng khi có việc mùa màng hoặc lễ tết; đến khi mang thai và sinh con đầu lòng mới chính thức chuyển về ở hẳn nhà chồng.
4. Tục hát Quan lang trong đám cưới của người Tày có vai trò gì và biến đổi như thế nào hiện nay?
Hát Quan lang (thơ lẩu) là hình thức diễn xướng nghi lễ đối đáp dân gian mang tính bắt buộc trong đám cưới truyền thống để giải các thử thách qua từng chặng đón dâu. Hiện nay, tục hát này đang bị giản lược mạnh mẽ, nhiều đám cưới không còn thực hành đầy đủ do thiếu nghệ nhân am hiểu và sự thay đổi trong thị hiếu âm nhạc của giới trẻ.
5. Những nguyên nhân cơ bản nào dẫn đến sự biến đổi tập quán cưới xin của người Tày ở huyện Cao Lộc?
Sự biến đổi bắt nguồn từ: chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ tự cấp sang kinh tế thị trường; tác động của quá trình đô thị hóa và giao thương biên giới qua cửa khẩu; sự nâng cao trình độ học vấn của thế hệ trẻ; cùng tác động của hệ thống pháp luật Nhà nước (Luật Hôn nhân và Gia đình) và các cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa mới tại địa phương.
Kết luận
Luận án của Giang Thị Huyền là công trình nghiên cứu chuyên khảo về sự biến đổi tập quán cưới xin của người Tày tại huyện biên giới Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn dưới góc độ Văn hóa học. Bằng việc kết hợp phương pháp điền dã dân tộc học và điều tra xã hội học định lượng (109 hộ tại 3 tiểu vùng sinh thái), tác giả đã tái hiện diện mạo nghi lễ cưới xin truyền thống, đồng thời làm rõ các phương diện biến đổi từ độ tuổi, tiêu chí chọn bạn đời, quyền quyết định đến hình thức tổ chức và quà mừng trong xã hội đương đại. Công trình khẳng định tính hai mặt của quá trình biến đổi văn hóa, chỉ ra sự thích ứng của các giá trị truyền thống song hành cùng hiện đại hóa, đồng thời cung cấp luận cứ thực tiễn phục vụ công tác quản lý và bảo tồn di sản văn hóa tộc người tại địa phương.