Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học với đề tài "Biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh" được thực hiện tại Trường Đại học Văn hóa Hà Nội. Nghiên cứu tập trung giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn về sự biến đổi của các thành tố văn hóa tại các làng nghề truyền thống ở tỉnh Bắc Ninh trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa nông thôn.
- Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu: Làng Việt truyền thống là đơn vị tụ cư cổ truyền ở đồng bằng Bắc Bộ, nơi hình thành và phát triển các làng nghề thủ công thể hiện tính năng động và tính mở của xã hội tiểu nông. Tại Bắc Ninh – vùng đất phát tích vương triều Lý, có mạng lưới giao thông thủy bộ thuận lợi với 62 làng nghề thủ công (trong đó có 16 làng nghề truyền thống). Quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa nông thôn từ sau năm 1986 đã làm thay đổi phương thức sản xuất, quy mô kinh tế và các giá trị văn hóa truyền thống của làng nghề. Nhiều làng nghề chuyển đổi thành công nhưng cũng có làng nghề bị mai một. Trước đây, nhiều công trình đã nghiên cứu về làng nghề Bắc Ninh ở các góc độ lịch sử, địa lý, kinh tế hoặc miêu tả đơn lẻ từng làng nghề, song chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, hệ thống về sự biến đổi các thành tố văn hóa làng nghề truyền thống tại địa phương này.
- Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
- Mục đích: Làm rõ quan niệm, đặc điểm của biến đổi văn hóa làng nghề; phân tích thực trạng và biểu hiện biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống ở Bắc Ninh hiện nay; đề xuất một số giải pháp điều tiết quá trình biến đổi văn hóa làng nghề trong thời gian tới.
- Nhiệm vụ nghiên cứu (03 nhiệm vụ):
- Nghiên cứu cơ sở lý thuyết và thực tiễn của sự biến đổi văn hóa làng nghề.
- Phân tích, đánh giá thực trạng và nhận diện biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống ở Bắc Ninh (qua không gian cảnh quan; di tích, lễ hội và phong tục; tín ngưỡng thờ tổ nghề; mối quan hệ xã hội của cư dân làng nghề).
- Nghiên cứu xu hướng biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống ở Bắc Ninh và những vấn đề đặt ra hiện nay.
- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các khía cạnh biến đổi văn hóa của một số làng nghề truyền thống tiêu biểu trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
- Phạm vi vấn đề: Tập trung vào sự biến đổi của các thành tố văn hóa: không gian cảnh quan; di tích, lễ hội và phong tục; tín ngưỡng thờ tổ nghề; mối quan hệ xã hội của cư dân làng nghề; hình thức tổ chức sản xuất, kỹ thuật chế tác và thị trường tiêu thụ sản phẩm.
- Phạm vi không gian: Địa bàn tỉnh Bắc Ninh, tập trung khảo sát sâu 03 trường hợp tiêu biểu đại diện cho các nhóm ngành nghề: làng gò đúc đồng Đại Bái (huyện Gia Bình), làng gốm Phù Lãng (huyện Quế Võ), làng chạm khắc gỗ Phù Khê (thị xã Từ Sơn) cùng một số làng nghề dệt, làm giấy, tranh dân gian lân cận (Hồi Quan, Đình Cả, Vọng Nguyệt, Dương Ổ, Đông Hồ).
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu văn hóa làng nghề từ sau năm 1986 đến năm 2015, có kết hợp điều tra thông tin hồi cố trước năm 1986.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả luận án đã tổng hợp và phân loại các công trình nghiên cứu đi trước liên quan đến đề tài thành 04 nhóm cơ bản:
- Tư liệu viết về nghề thủ công và làng nghề ở Bắc Ninh nói chung:
- Pierre Gourou trong tác phẩm Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ (1936, đăng lại trên tạp chí Xưa và Nay số 245/2005) đã thống kê 108 nghề thủ công tại Bắc Kỳ và cung cấp số liệu cụ thể về làng nghề tại Bắc Ninh.
- Các tài liệu địa chí Hán Nôm cổ: Phong thổ Hà Bắc đời Lê, Bắc Ninh phong thổ tạp ký (đầu thời Nguyễn, liệt kê 31 nghề thủ công và 16 làng nghề dệt vải, tơ lụa), Bắc Ninh toàn tỉnh địa dư chí của Đỗ Trọng Vỹ (gồm 3 quyển Thượng, Trung, Hạ).
- Các tài liệu địa chí hiện đại và chuyên khảo tổng hợp: Địa chí Hà Bắc (1982), Văn hiến Kinh Bắc (Sở Văn hóa - Thông tin Bắc Ninh, 1997), Bắc Ninh thế và lực mới trong thế kỷ XXI (2002), công trình của Lê Hồng Lý (tạp chí Văn hóa nghệ thuật), Bùi Văn Vượng (Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam).
- Các luận án tiến sĩ liên quan: Lê Văn Hương (Luận án Tiến sĩ Địa lý: Phát triển làng nghề ở Bắc Ninh theo hướng công nghiệp hóa nông thôn), Nguyễn Như Chung (Luận án Tiến sĩ Kinh tế: Quá trình hoàn thiện chính sách thúc đẩy phát triển làng nghề ở tỉnh Bắc Ninh giai đoạn từ 1997 - 2003 - thực trạng kinh nghiệm và giải pháp).
- Tư liệu viết về các nhóm ngành nghề cụ thể tại Bắc Ninh:
- Nghề dệt, tơ tằm: Văn hiến Kinh Bắc (tập 1, viết về dệt Lũng Giang), Địa chí Hà Bắc, Pierre Gourou (thống kê 1.650 thợ dệt tại Bắc Ninh).
- Nghề gốm Phù Lãng: Trương Minh Hằng với chuyên khảo Gốm sành nâu ở Phù Lãng, Vũ Văn Bát (1982) với bài viết Nhóm lư hương gốm men Phù Lãng.
- Nghề mộc, chạm khắc gỗ Phù Khê: Nguyễn Thị Thu Hường với đề tài Làng nghề chạm khắc gỗ Phù Khê, Đặng Đức, Trương Duy Bích, Trương Minh Hằng, Hoàng Cường với đề tài Làng nghề chạm gỗ Phù Khê.
- Nghề gò và đúc đồng Đại Bái: Trần Đình Luyện (2003) với báo cáo đề tài Bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể làng Đại Bái; Đỗ Thị Hảo với Làng Đại Bái - gò Đồng (1986), Làng Vó và nghề đúc đồng truyền thống (1991); Trần Quốc Vượng và Đỗ Thị Hảo (1996) với bài viết về nghề thủ công truyền thống và các vị tổ nghề; sách Lịch sử xã Đại Bái (1996).
- Nghề tranh dân gian Đông Hồ: Chu Quang Trứ (Hà Bắc ngàn năm văn hiến, tập III), Nguyễn Thái Lai (Làng tranh Đông Hồ), Lê Văn Hải và Nguyễn Trung Dũng (tạp chí Dân tộc học), Lưu Tuấn Anh với nghiên cứu về tính biểu trưng trong tranh Đông Hồ.
- Tư liệu viết về văn hóa làng nghề: Chuyên khảo của Nguyễn Thái Lai, Trương Minh Hằng, Đỗ Thị Hảo; sách Các di tích lịch sử văn hóa Bắc Ninh do Lê Viết Nga chủ biên; Lễ hội Bắc Ninh do Trần Đình Luyện chủ biên (2003); công trình của Lê Hồng Lý (1999) chủ biên cuốn Nghề thủ công mỹ nghệ đồng bằng sông Hồng - tiềm năng, thực trạng và một số kiến nghị.
- Tư liệu viết về biến đổi văn hóa làng nghề: Bài viết của Thủy Công, Phạm Quốc Sử (về làng nghề trong CNH, HĐH), Dương Bá Phượng (2001, Bảo tồn và phát triển các làng nghề trong quá trình công nghiệp hóa), Trương Duy Bích, Đào Thế Anh, Đàm Tất Thắng, Lê Duy Dần, Lê Hân, Vũ Hy Thiều (1991). Luận án của Vũ Diệu Trung (2003) nghiên cứu sự biến đổi văn hóa làng nghề ở châu thổ sông Hồng qua các làng Sơn Đồng, Bát Tràng, Đồng Sâm.
Khoảng trống nghiên cứu: Các công trình trước đây chủ yếu dừng lại ở việc miêu tả kỹ thuật sản xuất, thống kê kinh tế, khảo cứu lịch sử hoặc nghiên cứu di sản văn hóa phi vật thể đơn lẻ. Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, đa diện về sự biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống tỉnh Bắc Ninh dưới góc độ Văn hóa học, đặt trong cấu trúc tương tác giữa văn hóa làng và văn hóa nghề thời kỳ đổi mới.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và các khái niệm công cụ
- Hệ thống khái niệm nền tảng:
- Làng: Đơn vị tụ cư truyền thống của người Việt ở nông thôn, có địa vực, cấu trúc vật chất, cơ cấu tổ chức, lệ tục và tính cách riêng tương đối ổn định (Bùi Xuân Đính).
- Nghề: Sự chuyên môn hóa lao động xã hội nhằm tạo ra sản phẩm và hoạt động sản xuất kinh doanh (Từ điển tiếng Việt).
- Làng nghề và Làng nghề truyền thống: Làng nông nghiệp xuất hiện các nghề thủ công tinh xảo, có phường hội, quy trình công nghệ, sản phẩm mang tính mỹ nghệ hàng hóa và quan hệ thị trường (Trần Quốc Vượng, Bùi Văn Vượng, Lưu Tuyết Vân, Dương Bá Phượng, Trương Minh Hằng, Bùi Xuân Đính). Vận dụng tiêu chí công nhận làng nghề theo Thông tư số 116/2006/TT-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.
- Văn hóa làng, Văn hóa nghề và Văn hóa làng nghề: Văn hóa làng gồm các giá trị vật thể (đình, đền, chùa, nhà ở...) và phi vật thể (phong tục, lễ hội, ứng xử...) do cộng đồng sáng tạo (Vũ Ngọc Khánh, Hà Văn Tấn, Trần Quốc Vượng, Phan Đại Doãn, Trương Thìn, Manning Nash). Văn hóa nghề gồm tri thức dân gian, bí quyết, kỹ xảo, nghi lễ thờ tổ nghề (A. Radugin, Robert McCarl). Tác giả định nghĩa Văn hóa làng nghề là tổ hợp các thành tố gắn kết hữu cơ: cảnh quan làng xóm, di tích, nhà ở, lễ hội, phong tục, tín ngưỡng thờ tổ nghề, mối quan hệ cộng đồng, bí quyết và biểu tượng văn hóa trong sản phẩm.
- Các lý thuyết biến đổi văn hóa được tiếp thu: Thuyết Tiến hóa văn hóa (E. Morgan), Thuyết truyền bá văn hóa (G. E. Smith, F. Graebner), Thuyết vùng văn hóa (A. L. Kroeber, C. Wissler), Thuyết tiếp biến văn hóa (R. Redfield, L. Broom), Thuyết chức năng (A. R. Radcliffe-Brown, B. Malinowski), các quan điểm về sinh thái học văn hóa và thích nghi văn hóa.
- Khung phân tích biến đổi văn hóa làng nghề: Kế thừa mô hình cấu trúc của Vũ Diệu Trung (biến đổi cơ cấu kinh tế, đời sống xã hội, tâm lý, cơ cấu tổ chức, văn hóa truyền thống và yếu tố mới), tác giả xây dựng sơ đồ phân tích biến đổi văn hóa làng nghề gồm 8 thành tố:
- Không gian cảnh quan, nhà ở và công trình di tích.
- Tín ngưỡng, lễ hội và phong tục tập quán.
- Quan niệm và quan hệ xã hội của cộng đồng làng nghề.
- Hình thức tổ chức sản xuất.
- Kỹ thuật chế tác.
- Bí quyết giữ gìn nghề và truyền nghề.
- Đặc điểm loại hình sản phẩm.
- Thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu
- Cách tiếp cận: Tiếp cận nhân học văn hóa (đề cao chủ thể người dân làng nghề) và tiếp cận hệ thống tổng thể văn hóa làng xã.
- Phương pháp liên ngành: Kết hợp các phương pháp của Văn hóa học, Sử học, Dân tộc học, Xã hội học và Văn hóa dân gian.
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp (Case study): Khảo sát sâu 03 làng nghề đại diện cho các nhóm chất liệu và mức độ biến đổi khác nhau: Đại Bái (đồng), Phù Lãng (gốm), Phù Khê (gỗ).
- Phương pháp điền dã thực địa: Quan sát tham dự; phỏng vấn sâu nghệ nhân, thợ giỏi, cán bộ quản lý địa phương, người cao tuổi; phỏng vấn định lượng hộ gia đình.
- Phương pháp so sánh, hồi cố và thống kê: So sánh các chỉ số văn hóa, nhà ở, tổ chức sản xuất giữa các giai đoạn lịch sử (trước 1986 và từ 1986 đến 2015); lập các bảng thống kê mô tả thực trạng.
- Nguồn tư liệu: Văn bản Hán Nôm, địa chí lịch sử, báo cáo thống kê của Sở Công thương, Cục Thống kê, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Ninh và dữ liệu điền dã thực tế của tác giả.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và làng nghề truyền thống ở Bắc Ninh
Chương 1 trình bày tổng quan tư liệu, hệ thống lý luận và phác thảo bức tranh địa lý - kinh tế - xã hội của làng nghề truyền thống tỉnh Bắc Ninh.
Về điều kiện tự nhiên, Bắc Ninh nằm ở tọa độ 20°58' đến 21°16' vĩ độ Bắc và 105°54' đến 106°19' kinh độ Đông, tiếp giáp Hà Nội, Bắc Giang, Hải Dương, Hưng Yên. Hệ thống giao thông gồm Quốc lộ 1A, 1B, 18, 38, đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn và các tuyến sông Cầu, sông Đuống, sông Thái Bình tạo lợi thế giao thương. Năm 2010, dân số tỉnh là 1.022.900 người (nam: 511,7 nghìn; nữ: 526,5 nghìn; nông thôn: 769,7 nghìn người, chiếm 74,1%). Đất chật người đông thúc đẩy phát triển kinh tế tiểu thủ công nghiệp.
Toàn tỉnh có 62 làng nghề thủ công (gồm 16 làng nghề truyền thống và 46 làng nghề mới). Tác giả phân loại thành 06 nhóm ngành nghề:
- Nhóm nghề chăn tằm, kéo tơ, dệt vải: Gồm 06 làng nghề tiêu biểu như dệt Hồi Quan, Tiêu Long (Tương Giang, Từ Sơn); dệt Duệ Đông, se sợi Đình Cả (Nội Duệ, Tiên Du); ươm tơ Vọng Nguyệt (Tam Giang, Yên Phong); tơ tằm Đại Mão (Hoài Thượng, Thuận Thành). Nghề dệt Đình Cả năm 2012 còn 100 máy dệt thắt lưng xuất khẩu sang Lào, đến năm 2013 ngừng hoạt động hoàn toàn do mất thị trường; làng Vọng Nguyệt chỉ còn 03 hộ giữ nghề kéo tơ; làng Hồi Quan quy hoạch cụm sản xuất 8,3 ha và chuyển sang may quần áo trẻ em.
- Nhóm nghề mộc, chạm khắc gỗ: Gồm 08 làng nghề chạm khắc mỹ nghệ (Đồng Kỵ, Phù Khê Đông, Phù Khê Thượng, Mai Động, Hương Mạc, Kim Thiều, Kim Bảng, Đồng Hương) và 03 làng mộc dân dụng (Cao Thọ, Khúc Toại, Tuyên Bá). Làng Phù Khê có truyền thống tham gia dựng các công trình cổ như đình Diềm (thế kỷ XVII).
- Nhóm nghề gốm: Làng gốm sành Phù Lãng (Quế Võ) gồm 02 thôn Đoàn Kết và Phấn Trung. Hiện hình thành 06 cơ sở gốm mỹ nghệ hiện đại (Gốm Nhung, Gốm Thiều, Gốm Minh Ngọc, Gốm Hồng Minh, Gốm Bảo Nguyên, Gốm Thượng Nguyên), trong đó cơ sở Gốm Nhung sử dụng khoảng 200 lao động.
- Nhóm nghề chế tác kim loại: Gò đúc đồng Đại Bái (Gia Bình), đúc đồng Quảng Bố (Lương Tài), đúc nhôm Mẫn Xá (Yên Phong), cán thép Đa Hội (Từ Sơn), rèn sắt Nga Hoàng (Quế Võ).
- Nhóm nghề chế biến lương thực, thực phẩm: Bún bánh Đình Bảng, Yên Phụ, Tử Nê, Trà Lâm; nấu rượu tại làng Cầm, Quan Đình, Đại Lâm, Mỹ Xuyên.
- Nhóm các làng nghề khác: Tranh dân gian Đông Hồ, làm hương làng Chóa, nón lá Môn Quảng Phú - Ngâm Mạc, giấy dó Đống Cao - Dương Ổ, mây tre đan Du Tràng.
Về mô hình tổ chức sản xuất, làng nghề Bắc Ninh vận hành qua 04 hình thức: Hộ gia đình cá thể, Hợp tác xã, Doanh nghiệp tư nhân/Công ty TNHH, và Cụm công nghiệp làng nghề (theo Nghị quyết số 02-NQ/TU ngày 04/5/2001, tỉnh quy hoạch 26 cụm công nghiệp làng nghề, trong đó có 20 cụm đã đi vào hoạt động).
| Hình thức tổ chức sản xuất |
2009 |
2010 |
2011 |
2012 |
2013 |
2014 |
Quý I/2015 |
| Hộ gia đình |
10.174 |
- |
- |
- |
- |
- |
- |
| Hợp tác xã |
173 |
164 |
147 |
131 |
154 |
172 |
193 |
| Doanh nghiệp tư nhân |
87 |
91 |
113 |
156 |
104 |
153 |
164 |
| Công ty TNHH |
159 |
171 |
193 |
254 |
185 |
245 |
267 |
| Tổng cộng đơn vị sản xuất |
- |
- |
- |
- |
- |
- |
10.798 |
(Nguồn: Số liệu tổng hợp từ Cục Thống kê và Sở Công thương tỉnh Bắc Ninh - Luận án, tr. 47)
Chương 2: Biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống qua cảnh quan làng và các yếu tố văn hóa tinh thần
Chương 2 phân tích sự biến đổi của không gian cư trú và các thành tố văn hóa tinh thần tại các làng nghề tiêu biểu:
- Biến đổi không gian cảnh quan, nhà ở và công trình công cộng:
- Cảnh quan đường làng: Tại làng Đại Bái, trước năm 1945 đường chính lát gạch nghiêng, sau đó rải cấp phối đất; đến năm 2005 được đổ bê tông và đến năm 2012 đạt 100% đường nhựa và bê tông hóa. Hệ thống giao thông làng gồm 13 đường ngõ rộng 3,2 m, bê tông dày trên 20 cm, quy hoạch từ hình xương cá phát triển thành mạng lưới ô bàn cờ. Tại làng Phù Lãng, từ thời Hậu Lê (thế kỷ XVII) dân số tăng đã tách thành 3 thôn (Thượng, Trung, Hạ); không gian sản xuất lò gốm và bãi tập kết nguyên liệu đất sét mở rộng ra ven sông Cầu.
- Kiến trúc nhà ở: Nhà tranh tre truyền thống bị xóa bỏ hoàn toàn. Thay vào đó là nhà mái bằng, nhà cao tầng kiên cố kết hợp xưởng sản xuất, cửa hàng trưng bày sản phẩm tại mặt đường lớn. Các bảng thống kê (Bảng 2.1, 2.2, 2.3) phản ánh tốc độ kiên cố hóa nhà ở tại Đại Bái, Phù Lãng và Phù Khê từ năm 2010 đến 2015.
- Biến đổi về di tích làng nghề: Hệ thống đình, đền, chùa, miếu, nhà thờ họ được chính quyền và cộng đồng đầu tư tôn tạo khang trang từ nguồn vốn xã hội hóa và tiền công đức của các cơ sở sản xuất kinh doanh làng nghề. Đình làng Diên Lộc (Đại Bái) thờ Tiên sư Nguyễn Công Truyền, sau khi bị phá hủy năm 1947 đã được phục dựng giai đoạn 1954 - 1956 theo kiểu chữ "Công" (I) và tiếp tục được trùng tu mở rộng.
- Biến đổi về tín ngưỡng Thành hoàng và Tổ nghề:
- Tín ngưỡng thờ Tổ nghề được củng cố và gắn kết với hoạt động sản xuất kinh doanh hiện đại. Làng Đại Bái duy trì thờ phụng Tiền tiên sư Nguyễn Công Truyền (vị quan Hiệu úy thời Lê Hồng Đức học nghề luyện đồng). Làng Chân Lạc duy trì đền thờ Bà chúa Dâu tằm.
- Nghi lễ giỗ Tổ nghề trở thành sự kiện văn hóa quan trọng, thu hút sự tham gia đóng góp tài chính của các doanh nghiệp, xưởng sản xuất tư nhân.
- Biến đổi về lễ hội và phong tục:
- Lễ hội làng nghề kết hợp giữa nghi lễ truyền thống (tế lễ, rước kiệu, trò chơi dân gian) với hoạt động xúc tiến thương mại, hội chợ triển lãm sản phẩm thủ công, đón tiếp khách tham quan du lịch.
- Phong tục tập quán, quan hệ dòng họ và quy ước xóm làng biến đổi: xuất hiện lối sống công nghiệp, đề cao quan hệ hợp tác kinh doanh và hợp đồng kinh tế bên cạnh tình làng nghĩa xóm cổ truyền; nảy sinh sự phân hóa giàu nghèo và xung đột lợi ích trong sử dụng mặt bằng, xả thải gây ô nhiễm môi trường.
Chương 3: Biến đổi văn hóa làng nghề trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
Chương 3 tập trung làm rõ các biến đổi trong phương thức sản xuất vật chất của làng nghề qua 04 nội dung:
- Biến đổi về hình thức tổ chức sản xuất: Chuyển dịch từ mô hình kinh tế hộ tiểu nông, phường hội khép kín sang kinh tế hàng hóa nhiều thành phần. Bên cạnh hộ cá thể, các doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH và các cơ sở sản xuất quy mô lớn ra đời. Tại Đại Bái có 50 doanh nghiệp tư nhân và công ty TNHH hoạt động trong cụm công nghiệp tập trung; làng Phù Lãng có 35 cơ sở quy mô lớn; làng Phù Khê hình thành các tổ hợp tác sản xuất chuyên môn hóa theo từng công đoạn chạm khắc.
- Biến đổi về kỹ thuật chế tác: Ứng dụng khoa học công nghệ, cơ giới hóa vào các khâu nặng nhọc hoặc gia công hàng loạt.
- Làng gốm Phù Lãng: Cải tiến kỹ thuật nung, chuyển đổi từ lò cóc, lò bầu thủ công sang lò gas/lò nung cải tiến; đổi mới phương pháp phối trộn men sành nâu tự nhiên với tạo hình mỹ thuật hiện đại.
- Làng đồng Đại Bái: Cơ giới hóa khâu cán đồng, cắt phôi, dập nổi kim loại bằng máy ép thủy lực; áp dụng kỹ thuật tiện, mạ vàng, chạm khảm ngũ sắc tinh xảo trên phôi đồng.
- Làng mộc Phù Khê: Sử dụng máy xẻ gỗ, máy cưa lọng, máy đục vi tính (CNC) ở các khâu định hình ban đầu, sau đó kết hợp bàn tay nghệ nhân chạm trổ chi tiết tinh vi.
- Biến đổi về sản phẩm:
- Làng Đại Bái: Trước kia phân công sản xuất theo 4 xóm truyền thống: xóm Tây (đánh mâm), xóm Ngoài (làm nồi), xóm Giữa (ấm siêu), xóm Sôn (đánh chậu). Hiện nay chuyển đổi sang các dòng sản phẩm đồ thờ cúng cao cấp (đỉnh đồng, hoành phi, câu đối, đại tự), tranh đồng nghệ thuật, quà tặng lưu niệm mạ vàng, mạ bạc (Bảng 3.4).
- Làng Phù Lãng: Chuyển đổi từ đồ sành gia dụng (chum, vại, chậu, ang, nồi đất) sang dòng gốm mỹ nghệ, tranh gốm ốp tường trang trí kiến trúc, bình gốm điêu khắc độc bản (Bảng 3.6).
- Làng Phù Khê: Mở rộng từ sản phẩm mộc kiến trúc truyền thống và đồ dùng gia đình sang điêu khắc trang trí nội thất cao cấp, tượng tròn Phật giáo, đồ thờ khảm trai ốc tinh xảo (Bảng 3.5).
- Biến đổi về thị trường tiêu thụ: Sản phẩm thoát khỏi phạm vi chợ quê, mở rộng ra thị trường đô thị toàn quốc (Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng) và xuất khẩu trực tiếp/gián tiếp sang các thị trường quốc tế như Trung Quốc, Đài Loan, Lào, các nước châu Âu và Mỹ.
Chương 4: Xu hướng biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống ở Bắc Ninh trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và những vấn đề đặt ra hiện nay
Chương 4 tổng kết thực trạng, nhận định các xu hướng phát triển và nêu các vấn đề cấp bách:
- Đánh giá tổng quát sự biến đổi:
- Mặt tích cực: Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương, chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp; nâng cao đời sống vật chất của người dân; phục hồi các di tích lịch sử và tái tạo lễ hội truyền thống; nâng cao tay nghề và vị thế xã hội của người thợ, nghệ nhân.
- Mặt tiêu cực và hạn chế: Môi trường sinh thái bị ô nhiễm nghiêm trọng do khói lò nung, hóa chất tẩy rửa axit, bụi gỗ, xỉ kim loại và nước thải; không gian cảnh quan làng quê bị thu hẹp; nguy cơ mai một bí quyết cổ truyền; quan hệ cộng đồng xuất hiện tính thực dụng, cạnh tranh không lành mạnh; một số làng nghề dệt, làm giấy truyền thống suy giảm và ngưng trệ sản xuất.
- Bối cảnh CNH, HĐH tại Bắc Ninh và định hướng quy hoạch: Đánh giá việc triển khai quy hoạch 26 cụm công nghiệp làng nghề nhằm di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm ra khỏi khu dân cư, tạo mặt bằng kinh doanh tập trung cho doanh nghiệp.
- Xu hướng biến đổi trong tương lai: Xu hướng chuyên môn hóa sâu và hình thành các chuỗi liên kết sản xuất; xu hướng kết hợp sản xuất thủ công mỹ nghệ với phát triển du lịch làng nghề trải nghiệm; xu hướng chuyển dịch mạnh từ hộ gia đình sang doanh nghiệp vừa và nhỏ.
- Những vấn đề đặt ra đối với bảo tồn và phát triển:
- Vấn đề xử lý ô nhiễm môi trường và phát triển bền vững tại các làng nghề đúc đồng, gốm, mộc.
- Vấn đề vốn, mặt bằng sản xuất và hạ tầng kỹ thuật (điện, cấp thoát nước, giao thông nội bộ).
- Vấn đề đào tạo, truyền nghề cho thế hệ trẻ và vinh danh nghệ nhân nắm giữ bí quyết.
- Vấn đề bảo tồn mẫu mã cổ truyền kết hợp bảo hộ sở hữu trí tuệ, xây dựng thương hiệu hàng hóa.
Kết quả và những đóng góp mới
- Đóng góp về mặt lý luận:
- Hệ thống hóa các quan niệm học thuật về làng, nghề, làng nghề truyền thống, văn hóa làng và văn hóa nghề.
- Xây dựng khung lý thuyết và sơ đồ phân tích biến đổi văn hóa làng nghề gồm 8 thành tố cụ thể, tạo công cụ nghiên cứu tiếp cận văn hóa học đối với các làng nghề truyền thống vùng châu thổ Bắc Bộ.
- Đóng góp về mặt thực tiễn:
- Cung cấp bức tranh thực trạng toàn diện và tư liệu thực địa cập nhật về sự biến đổi văn hóa tại 62 làng nghề Bắc Ninh, đặc biệt là 3 làng nghề trọng điểm (Đại Bái, Phù Lãng, Phù Khê).
- Chỉ rõ nguyên nhân dẫn đến sự thăng trầm, biến đổi phương thức sản xuất và đời sống tinh thần của các làng nghề trong giai đoạn đổi mới và CNH, HĐH.
- Cung cấp cơ sở khoa học giúp các nhà hoạch định chính sách, cơ quan quản lý văn hóa và chính quyền tỉnh Bắc Ninh xây dựng đề án bảo tồn di sản văn hóa gắn với phát triển kinh tế nông thôn mới.
- Hệ thống khuyến nghị và giải pháp:
- Hoàn thiện quy hoạch các cụm công nghiệp làng nghề tách biệt khu dân cư, đầu tư hệ thống xử lý chất thải tập trung.
- Xây dựng chính sách ưu đãi vốn, thuế và hỗ trợ chuyển giao công nghệ sạch cho các cơ sở sản xuất.
- Thực hiện chính sách đãi ngộ nghệ nhân, thành lập các lớp truyền dạy kỹ thuật cổ truyền cho thanh niên.
- Đẩy mạnh liên kết du lịch văn hóa làng nghề gắn với các tuyến tham quan di tích lịch sử và dân ca Quan họ Bắc Ninh.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của nghiên cứu: Do nguồn lực và dung lượng đề tài, luận án tập trung khảo sát sâu vào 03 làng nghề tiêu biểu (Đại Bái, Phù Lãng, Phù Khê) thuộc các nhóm nghề kim loại, gốm và mộc mỹ nghệ; các làng nghề thuộc nhóm chế biến nông sản, dệt vải và làm giấy mới chỉ được khảo cứu ở mức độ khái quát. Dữ liệu thực nghiệm tập trung trong giai đoạn từ sau Đổi mới đến quý I/2015.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng khảo sát so sánh biến đổi văn hóa giữa làng nghề truyền thống và làng nghề mới xuất hiện; đi sâu nghiên cứu nhân học môi trường về sinh kế và sức khỏe của cộng đồng làng nghề; đánh giá hiệu quả thực tế của mô hình du lịch di sản làng nghề tại Bắc Ninh trong giai đoạn đô thị hóa toàn diện.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực:
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên và giảng viên: Cung cấp tư liệu thực địa, khung lý thuyết và phương pháp tiếp cận liên ngành Văn hóa học trong nghiên cứu văn hóa dân gian, nhân học văn hóa và văn hóa nông thôn Việt Nam.
- Đối với các nhà quản lý văn hóa và hoạch định chính sách: Tài liệu tham khảo cho Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Công thương, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Bắc Ninh trong việc lập quy hoạch cụm công nghiệp làng nghề, xây dựng chính sách bảo tồn làng nghề truyền thống và phát triển du lịch văn hóa.
- Phần nội dung đáng tham khảo nhất: Khung phân tích 8 thành tố biến đổi văn hóa làng nghề (Chương 1); hệ thống tư liệu phân loại sản phẩm và biến đổi tổ chức sản xuất tại Đại Bái, Phù Lãng, Phù Khê (Chương 2 và Chương 3).
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án khảo sát sâu những làng nghề truyền thống nào tại tỉnh Bắc Ninh?
Luận án tập trung nghiên cứu điển cứu (case study) vào 03 làng nghề truyền thống tiêu biểu đại diện cho ba ngành nghề thủ công khác nhau: làng nghề gò, đúc đồng Đại Bái (xã Đại Bái, huyện Gia Bình); làng nghề gốm sành Phù Lãng (xã Phù Lãng, huyện Quế Võ); làng nghề mộc, chạm khắc gỗ Phù Khê (xã Phù Khê, thị xã Từ Sơn). Ngoài ra, luận án khảo sát mở rộng các làng nghề dệt Hồi Quan, Đình Cả, Vọng Nguyệt, làng giấy Dương Ổ và làng tranh dân gian Đông Hồ.
2. Trước kia, làng gò đúc đồng Đại Bái có sự phân công sản xuất theo các xóm như thế nào?
Làng Đại Bái truyền thống có 4 xóm chuyên môn hóa từng loại mặt hàng: xóm Tây chuyên làm mâm đồng, xóm Ngoài chuyên làm nồi đồng, xóm Giữa chuyên làm ấm siêu, và xóm Sôn (hình thành từ thời nhà Mạc, thế kỷ XVIII) chuyên đánh chậu đồng. Ngày nay, sự phân chia này đã chuyển hóa thành các xưởng sản xuất đa dạng sản phẩm đồ thờ cúng cao cấp, tranh đồng mỹ nghệ và quà tặng mạ vàng.
3. Sự chuyển đổi sản phẩm tại làng gốm Phù Lãng diễn ra như thế nào và có những cơ sở gốm mỹ nghệ tiêu biểu nào?
Làng gốm Phù Lãng chuyển đổi từ sản xuất đồ gốm sành gia dụng thô sơ (chum, vại, chậu, ang) sang sản xuất gốm mỹ nghệ hiện đại và tranh nghệ thuật ốp tường. Làng hiện có 06 cơ sở gốm mỹ nghệ nòng cốt: Gốm Nhung (cơ sở tiên phong của nghệ nhân Vũ Hữu Nhung, quy mô khoảng 200 thợ), Gốm Thiều, Gốm Minh Ngọc (gốm Tịnh), Gốm Hồng Minh (gốm Minh Đội), Gốm Bảo Nguyên và Gốm Thượng Nguyên.
4. Thực trạng biến đổi của nghề dệt truyền thống tại Bắc Ninh được ghi nhận ra sao?
Nghề dệt và ươm tơ truyền thống tại Bắc Ninh chứng kiến sự suy giảm mạnh do mất thị trường. Làng se sợi Đình Cả (Nội Duệ) năm 2012 có 100 máy dệt thắt lưng xuất sang Lào nhưng đến năm 2013 ngừng hoạt động hoàn toàn. Làng ươm tơ Vọng Nguyệt chỉ còn 03 hộ gia đình duy trì nghề kéo tơ. Ngược lại, làng dệt Hồi Quan chuyển dịch thích ứng thành công khi quy hoạch cụm sản xuất 8,3 ha và chuyển hướng sang may mặc công nghiệp (quần áo trẻ em).
5. Tình hình phát triển các đơn vị sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp và cụm công nghiệp làng nghề tại Bắc Ninh được ghi nhận qua những con số nào?
Theo thống kê trong luận án, đến quý I/2015 toàn tỉnh có 10.798 đơn vị sản xuất phi nông nghiệp (gồm 193 hợp tác xã, 164 doanh nghiệp tư nhân và 267 công ty TNHH bên cạnh hơn 10.000 hộ cá thể). Về hạ tầng, tỉnh đã quy hoạch 26 cụm công nghiệp làng nghề, trong đó có 20 cụm công nghiệp đã đi vào hoạt động nhằm di dời sản xuất ra khỏi khu dân cư.
Kết luận
Luận án "Biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh" là công trình nghiên cứu hệ thống về sự chuyển biến của các làng nghề truyền thống trong tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Tác giả đã vận dụng lý thuyết Văn hóa học để phân tích đa chiều các biến đổi về cảnh quan cư trú, đời sống tâm linh, cấu trúc sản xuất và văn hóa ứng xử cộng đồng tại các làng nghề tiêu biểu như Đại Bái, Phù Lãng và Phù Khê. Các phát hiện và số liệu thực địa trong công trình mang lại giá trị thực tiễn cho công tác quản lý di sản và hoạch định chính sách phát triển bền vững kinh tế làng nghề tại vùng đồng bằng Bắc Bộ.