Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và khái quát về địa bàn nghiên cứu Chương 2: Nghi lễ sinh đẻ và nuôi dạy con Chương 3: Nghi lễ hôn nhân của người Tày Chương 4: Nghi lễ tang ma của người Tày Chương 5. Biến đổi của nghi lễ chu kỳ đời người và một số nhận xét 7 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN, CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các nghiên cứu của học giả nước ngoài về người Tày Đã từ lâu, sử sách Trung Quốc có đề cập tới các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái, trong đó có tộc người Tày ở Việt Nam.
Các nghiên cứu này đã viết về mối liên hệ giữa cộng đồng người Choang - Đồng ở Trung Quốc với một số tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái hiện nay ở Việt Nam, Lào… Thời kỳ cận hiện đại, các học giả Trung Quốc tập trung chủ yếu nghiên cứu về lịch sử hình thành và phát triển của các tộc người, trong khi lại ít quan tâm đến các khía cạnh văn hóa tộc người cũng như sự giao lưu, tiếp biến văn hóa giữa các tộc người. Từ đầu thế kỷ XX, một số học giả phương Tây đã bắt đầu quan tâm nghiên cứu về các khía cạnh như lịch sử, ngôn ngữ, văn hóa… của các tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Choang - Đồng ở Trung Quốc và nhóm Tày - Thái ở Việt Nam. Một số cuốn sách đã được công bố như Vân Nam – cái chốt giữa Ấn Độ và sông Dương Tử của H. Danes, Tính năng động chủng tộc ở Đông Á và từ Vân Nam đến Thái Lan của V.
Eichstedt, hay Thái - Kađai và Indonexia, một cách phân loại mới ở Đông Nam Á của Paul K. Đáng chú ý là, vào những thập kỷ 60 - 70 của thế kỷ XX, các nhà Dân tộc học Xô Viết như IU. Kriucov… đã tiến hành các nghiên cứu và công bố một số ấn phẩm, trong đó có đề cập đến tộc người Tày như: Các dân tộc trên thế giới (Moscova, 1965), Những vấn đề dân tộc học hiện đại và Lịch sử tộc người Nam Đông Á (Moscova, 1972). Tuy nhiên, các công trình nêu trên chưa phải là những nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện , có hệ thống về các tộc người, về văn hóa của tộc người Tày ở Việt Nam nói riêng.
Các nghiên cứu của tác giả trong nước về người Tày Từ những năm 60 của thế kỷ XX, nhiều nhà dân tộc học Việt Nam đã quan tâm nghiên cứu sâu về tộc người Tày từ những góc nhìn chuyên ngành khác nhau. Có thể phân chia các nghiên cứu này theo các hướng chủ yếu như sau: 8 - Hướng nghiên cứu tổng hợp về người Tày: Các công trình nghiên cứu này đề cập khá toàn diện về điều kiện địa lý tự nhiên, lịch sử tộc người, đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội của người Tày như Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Bắc) (Viện Dân tộc học, 1978), Một số vấn đề về lịch sử tộc người và những đặc điểm chủ yếu của văn hóa các dân tộc Tày - Thái và Các dân tộc Tày - Nùng ở Việt Nam (Bế Viết Đẳng chủ biên, 1992), Văn hóa Tày – Nùng (Lã Văn Lô, Hà Văn Thư); Nguồn gốc lịch sử tộc người vùng biên giới phía Bắc Việt Nam (Hoàng Hoa Toàn, Nguyễn Chí Huyên chủ biên, 2000),v. - Nghiên cứu về ngôn ngữ của tộc người Tày: Có thể đưa ra một số công trình tiêu biểu nghiên cứu về tiếng Tày - Nùng và mối quan hệ giữa tiếng Tày - Nùng và tiếng Việt của Nguyễn Hàm Dương và Nguyễn Thiện Giáp công bố trên các Tạp chí Ngôn ngữ như Nguồn gốc lịch sử tiếng Tày - Nùng, Quan hệ giữa tiếng Tày - Nùng và tiếng Việt và vấn đề ngôn ngữ; Các chức năng xã hội của tiếng Tày – Nùng; Hiện tượng mượn từ trong tiếng Tày - Nùng và cách làm giàu vốn từ vựng Tày – Nùng, v. Cũng trong giai đoạn này, nhiều các tác giả là người Tày và người Nùng cũng đã tiến hành nghiên cứu chuyên sâu và công bố nhiều công trình có giá trị như Vấn đề chữ Tày - Nùng (Nông Quốc Chấn, 1960); Vài ý kiến nhỏ trong việc dùng tiếng và chữ Tày - Nùng (Ban Giáo dục Khu Việt Bắc, 1962); Tiếng nói chữ viết Tày – Nùng với việc xây dựng âm tiêu chuẩn cho chữ Tày – Nùng (Ma Thế Dân, 1969); Ngữ pháp tiếng Tày - Nùng (Hoàng Văn Ma - Lục Văn Pảo - Hoàng Chí, 1971); Từ điển Tày - Nùng - Việt (Hoàng Văn Ma - Lục Văn Pảo - Hoàng Chí, 1974); Từ điển thành ngữ - tụcngữ dân tộc Tày (Triều Ân, Hoàng Quyết, 1996); Việc xây dựng chữ dân tộc ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta (Phương Bằng, 1985),v.
Từ những năm 80 của thế kỷ XX đã xuất hiện những nghiên cứu chuyên sâu về tiếp xúc ngôn ngữ, về các trạng thái song đa/ ngữ giữa các tộc người thiểu số và người Việt dưới góc độ Xã hội học – ngôn ngữ. Trong đó, đáng chú ý là tác giả Đặng Thanh Phương (1979), đã tiếp cận với phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính trong nghiên cứu ngôn ngữ dân tộc, để chỉ ra sự tiếp xúc ngôn ngữ Tày - Việt trên bình diện chức năng xã hội và cấu trúc ngôn ngữ qua nghiên cứu trường hợp ở huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn,v. - Nghiên cứu, sưu tầm, giới thiệu về văn hóa dân gian Tày, Nùng: Đáng chú ý là công trình Văn hóa truyền thống Tày, Nùng của Hoàng Quyết và các cộng sự 9 (1993); Ca dao Tày, Nùng của Triều Ân (1994); Truyện thơ nôm Tày của Hoàng Quyết và Triều Ân (1994); Từ điển thành ngữ - tục ngữ dân tộc Tày của Triều Ân và Hoàng Quyết (1996); Phong Slư của Phương Bằng (1994), Lượn cọi: Ngữ Tày - Quốc Tày của Lục Văn Pảo (1994). Cũng theo hướng nghiên cứu này còn có Lượn Tày Lạng Sơn (song ngữ Tày - Kinh) của Hoàng Văn Páo, 2003), đã nêu rõ giá trị tinh thần của hát lượn trong đời sống đồng bào Tày, trên cơ sở đó đề ra những giải pháp thích hợp nhằm bảo tồn và phát huy hát lượn Lạng Sơn.
Cuốn sách Nghệ thuật múa rối Tày, Nùng (Nguyễn Huy Hồng, 2003) đã giới thiệu một số trò rối của người Tày, Nùng ở các tỉnh Bắc Kạn, Thái Nguyên và Cao Bằng. Nghệ thuật diễn xướng Then Tày được mô tả khá sinh động và tỷ mỉ trong công trình Nét chung và riêng của âm nhạc trong Then Tày - Nùng (Nông Thị Nhình, 2004). Tác giả đã đề cập tới phần âm nhạc trong Then, sự giống nhau và khác nhau về âm nhạc Then của mỗi vùng, qua đó thấy được sự phong phú, đa dạng cũng như giá trị nghệ thuật trong Then của người Tày, Nùng ở Việt Nam. Cuốn Lễ hội Nàng Hai của người Tày Cao Bằng (Nguyễn Thị Yên, 2003) đã đi sâu tìm hiểu đặc điểm, vị trí và ý nghĩa của lễ hội Nàng Hai trong hệ thống các lễ hội ở tỉnh Cao Bằng, từ đó rút ra những nhận xét ban đầu về sự hình thành và phát triển của lễ hội Nàng Hai ở tỉnh này.
Cuốn Then Tày - những khúc hát (Triều Ân, 2000), đã giới thiệu những khúc hát cầu chúc và lễ hội: Thì thầm dân ca nghi lễ (Vi Hồng, 2001), giới thiệu dân ca nghi lễ của người Tày ở tỉnh Cao Bằng,v. - Nghiên cứu về tôn giáo, tín ngưỡng cổ truyền: Đáng chú ý là Bộ Then Tứ Bách, do nhà nghiên cứu quá cố Lục Văn Pảo dịch và biên soạn (1996). Cuốn sách giới thiệu một thể loại nghi lễ cúng bái của dân cư Tày ở Việt Bắc - bộ tứ bách gồm: Bách cốc, Bách thú, Bách điểu, Bách va. Cùng thể loại này còn có Then Bách điểu (Vi Quốc Bình, Nông Văn Tư, Hoàng Hạc, 1994).
“Bách điểu” là một xã hội thu nhỏ của các loài chim, nhưng phản ánh rõ những bất công, ích kỷ, oan trái, buồn vui, v.v… mà trung tâm là chúa. Then “Bách điểu” có 3.860 từ bằng chữ Nôm Tày. Liên quan đến tín ngưỡng của người Tày có cuốn Tàng mừa pjá lệ đẳm (Hoàng Hạc, sưu tầm và biên soạn, 2004), sách gồm hai phần: Phần tiếng Tày là “Tằng mừa 10 pjá lệ đẳm” và phần dịch ra tiếng Việt là “Đường lên dâng lễ tổ”, giới thiệu hình thức hát bụt trong lễ cúng vía và cúng mụ của dân tộc Tày,v. Viện Dân tộc học đã thực hiện dự án điều tra cơ bản kinh tế, xã hội, văn hóa các dân tộc ở Việt Nam (2000) do Khổng Diễn làm chủ nhiệm.
Đề tài đã phác họa một bức tranh khá phong phú về các dân tộc thuộc bốn vùng ở nước ta (Tây Bắc Bộ, Đông Bắc, Trung Bộ và Nam Bộ). Tại vùng Đông Bắc, đã khảo sát dân tộc Tày, Nùng ở Cao Bằng. Ở đây đề tài chỉ ra thực trạng dân tộc, tỷ lệ sinh, chết, tăng dân số, những nơi đặc biệt khó khăn tỷ lệ đi học, không biết chữ, biết chữ, hộ nghèo, nhà ở, di dân tự do, đời sống tinh thần của hai dân tộc Tày, Nùng tại Cao Bằng. Tác giả Lê Thị Hường (2006), đã tìm hiểu nghi lễ hôn nhân của người Tày huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn.
Trong nghiên cứu này, tác giả đã phân tích quá trình hôn nhân và các bước tiến hành nghi lễ hôn nhân của người Tày. Đó là quá trình từ lúc đôi trai gái tìm hiểu nhau, đến lễ dạm hỏi, lễ báo lá số, lễ ăn hỏi, lễ cưới chính thức, lễ lại mặt. Tác giả đã phân tích biểu hiện của từng lễ trong nghi lễ cưới này. Nghiên cứu cũng chỉ ra những biến đổi trong nghi lễ hôn nhân của người Tày ở Văn Lãng.
Đó là quyền lựa chọn người yêu của con cái, sự giảm bớt các lễ vật mang đến nhà gái, sự thay đổi phương tiện đi đón dâu, thay đổi trang phục, thay đổi tục hát lượn. Tuy có một số thay đổi, song về cơ bản các phong tục truyền thống của nghi lễ cưới của người Tày ở Văn Lãng vẫn giữ được bản sắc truyền thống [37]. Tác giả Đặng Thanh Phương (2007), đã tìm hiểu về người phụ nữ Tày ở vùng ven thị trấn trong quá trình đô thị hóa hiện nay. Trong nghiên cứu này, tác giả đã phân tích đặc điểm nghề nghiệp và phân công lao động của phụ nữ Tày.
Tác giả cũng phân tích về trình độ học vấn, việc giáo dục con cái của phụ nữ Tày. Kết quả khảo sát cho thấy, người phụ nữ Tày tham gia vào nhiều hoạt động sản xuất ngoài nông nghiệp. Các gia đình nhiều thế hệ của người Tày giảm và gia đình hai thế hệ có xu hướng tăng.