CHƯƠNG 1 16 SƠ LƯỢC VỀ HÌNH THỨC BA ĐOẠN PHỨC TRONG ÂM NHẠC PHƯƠNG TÂY 1. Sơ lược về sự hình thành và phát triển hình thức ba đoạn phức Âm nhạc là môn nghệ thuật gắn liền với thời gian, bao gồm các sự kiện liền kề nhau, được vang lên lần lượt theo trình tự nhất định nên những yếu tố tạo dấu ấn, tác động đến trí nhớ của thính giả là thực sự cần thiết. Bởi vậy, nhắc lại và tái hiện chủ đề, gợi lại “hình ảnh” quen thuộc là một thủ pháp rất quan trọng trong tác phẩm âm nhạc. Hơn nữa, việc tái hiện ý tưởng âm nhạc ban đầu sau một chủ đề tương phản còn có ý nghĩa thắt chặt các thành tố trong tác phẩm âm nhạc với nhau thành một tổng thể thống nhất, được gọi là hình thức ba phần [49: 44].
Hình mẫu sớm của hình thức ba phần có nguồn gốc từ xa xưa, điển hình như thể loại phức điệu kiểu nhạc – thơ điệp khúc hai vần của Pháp thời kỳ trung cổ vào khoảng những năm 1300 với tên gọi là virelai. Theo tiếng Pháp, vire là “quay trở lại” và lai là “bài hát”. Hình thức này cũng xuất hiện trong một số thể loại nhạc hát khác cùng thời kỳ như laude của Ý, cantigas của Tây Ban Nha (thế kỷ XIII) hay balatta thuộc thể loại phức điệu của Ý (thế kỷ XIV) v. Tuy nhiên, vai trò của hình thức ba phần trở nên quan trọng khi âm nhạc điệu tính lên ngôi, vào khoảng sau thế kỷ XVI, đặc biệt là từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX.
Ở các tác phẩm này, sau phần thứ hai tương phản, chủ đề không chỉ được “gợi lại” về giai điệu mà còn tái hiện lại điệu tính ban đầu, tạo nên sự thống nhất cho tác phẩm. Bởi vậy, trong giai đoạn âm nhạc điệu tính, hầu hết các hình thức âm nhạc có qui mô từ nhỏ đến lớn đều liên quan đến nguyên tắc của hình thức ba phần như hình thức một đoạn nhạc ba câu; hai đoạn đơn tái hiện; ba đoạn đơn; rondo; sonatina; sonata-allegro…và bao gồm cả hình thức ba đoạn phức [72: 69-70]. Hình thức ba đoạn phức với hình mẫu sớm Những năm 1600 là thời kỳ đánh dấu cho sự phát triển của khoa học và xã hội ở các nước châu Âu. Điều đó cũng diễn ra tương tự trong lĩnh vực âm nhạc.
Các nhạc sĩ đã sáng tạo ra phong cách âm nhạc mới mà sau này, các nhà lịch sử nghệ thuật ở thế kỷ XIX gọi là thời kỳ Baroque. Ở giai đoạn này, hàng loạt thể loại mới từ nhạc hát đến nhạc đàn được phát minh như oratorio, cantata, chaconne, opera, 17 overture, trio sonata, sonata cho đàn phím, suite, fugue và passacaglia, trong số đó có nhiều thể loại được sáng tạo bởi các nhạc sĩ Ý với thể loại nổi bật là opera [51: 287, 288]. Trong thời kỳ này, oprera tiếp tục là thể loại dẫn đầu ở Ý với trung tâm là thành phố Venice và sau đó lan rộng sang các nước châu Âu khác. Khán giả yêu thích opera không chỉ ở ở nội dung kịch bản mà còn do hâm mộ các ca sĩ và những giai điệu đẹp với hòa âm đầy sức hút của aria.
Các hình thức phổ biến của aria thời kỳ này thường bao gồm hình thức hai phần, ba phần, rondo. Tuy nhiên, đến cuối thế kỷ XVII, da capo aria đã trở thành hình thức quan trọng trong các aria của opera. Không chỉ vậy, hình thức này cũng được sử dụng nhiều trong thể loại cantata, gắn liền với tên tuổi của một số nhạc sĩ Ý như Luigi Rossi (1598-1653), Agostino Steffani (1653-1728) và đặc biệt là Alessandro Scarlatti (1660-1725). Về cơ bản, da capo aria là hình thức ba đoạn phức (A B A).
Theo tiếng Ý, “Da capo” có nghĩa là quay lại từ đầu. Khi biểu diễn đến cuối phần thứ hai, người nghệ sĩ quay trở lại từ đầu aria và hát lại phần thứ nhất. Sau đây là sơ đồ cấu trúc (SĐCT) aria với tiêu đề “Sì, sì, ben mio” trong bản cantata của A.Scallatti, có hình thức ba phần tái hiện, được gọi là da capo aria. SĐCT 1: Phần Phần 1 (A) Phần 2 (B) Phần 3 (A) Chủ đề Chủ đề của Chủ đề thanh Chủ đề Chủ đề thanh C/đ tương phản Quay lại nhạc cụ nhạc của nhạc nhạc với phần A phần 1 (ritornello) (a) cụ (b) Điệu tính d moll d moll –g moll g moll g moll – d moll f moll–V/d moll d moll … Trong các da capo aria do A.Scallatti sáng tác, phần thứ nhất thường được xây dựng ở hình thức hai đoạn đơn trên hai chủ đề thanh nhạc khác nhau về âm nhạc (a và b) nhưng giống nhau về lời ca.
Trước mỗi chủ đề thanh nhạc là một chủ đề nhạc cụ ngắn (ritornello) có vai trò giới thiệu, chuẩn bị cho chất liệu của chủ đề thanh nhạc ở sau đó. Phần giữa có thể sử dụng chất liệu có liên quan đến phần thứ nhất hoặc chất liệu mới tương phản. Trong nhiều trường hợp, phần thứ ba của da capo aria là nơi thể hiện tài năng của người nghệ sĩ bằng các thủ pháp tô điểm, thay đổi âm nhạc khi biểu diễn lại chủ đề ban đầu (A’). 18 Về điệu tính, bảng cấu trúc trên cũng thể hiện một số đặc điểm cơ bản mà chúng ta có thể tìm thấy trong các tác phẩm thuộc hình thức ba đoạn phức mẫu mực ở thời kỳ sau này như cuối phần thứ nhất được kết ở điệu tính chính và sự tương phản về điệu tính của phần thứ hai (giữa) với phần thứ nhất hoặc sự tái hiện lại điệu tính chính ở phần thứ ba của aria [51: 384 - 389].
Những hình mẫu sớm của ba đoạn phức dưới dạng da capo aria tiếp tục được các nhạc sĩ thời kỳ hậu Baroque quan tâm và sử dụng trong tác phẩm thanh nhạc của mình như trong hợp xướng “Lạy xác thể chí thánh, xin hãy nghỉ yên” trích từ bản passion Thánh John của J.Bach và trong nhiều opera hoặc thanh xướng kịch của G.Handel như aria cho giọng alto “Ngài đã bị khinh chê” từ bản thanh xướng kịch Đấng cứu thế của ông v. Da capo aria tiếp tục là hình thức được ưa thích trong nhiều tác phẩm opera của các nhạc sĩ châu Âu, điển hình là các nhạc sĩ Ý như Pietro Metastasio (1698- 1782). Sơ đồ cấu trúc sau đây khá phổ biến cho các da capo aria của Ý trong giai đoạn từ những năm 1720 đến khoảng 1740 [51: 490-491]. SĐCT 2: Phần Phần 1 (A) Phần 2 (B) Phần 3 (A’) Âm C/đ của nhạc C/đ thanh nhạc C/đ của C/đ thanh nhạc C/đ của Phần giữa Quay lại nhạc cụ (a) nhạc cụ (b) nhạc cụ tương phản phần 1 (ritornello) (stanza) (nhắc lại lời ca) Lời C/đ 1 của lời ca C/đ 1 của lời ca C/đ 2 của lời ca ca Điệu đ/t chính đ/t chính - đ/t đ/t hướng đ/t hướng át- đ/t chính đ/t hạ át thứ tính hướng át át đ/t chính bậc VI Nếu so sánh với aria của A.Scallarti, các da capo aria thời kỳ này đã có một vài điểm thay đổi quan trọng để phù hợp với xu hướng thời đại.
Điệu tính ở cuối mỗi chủ đề thanh nhạc và điệu tính của chủ đề nhạc cụ lần thứ hai thay vì có xu hướng chuyển điệu sang nhóm hạ át như A.Scallatti đã làm, các nhạc sĩ Ý thời kỳ nửa đầu thế kỷ XVIII lại thường chuyển sang nhóm át. Mối quan hệ điệu tính của phần thứ hai cũng có sự thay đổi, là mối quan hệ hạ át bậc VI thay vì bậc III như trong aria của A.Scallatti thời kỳ trước. Điều này đã minh chứng hình thức da capo 19 aria ngày càng đến gần hơn với hình thức ba đoạn phức trong thời kỳ cổ điển sau này. Bên cạnh thể loại thanh nhạc, sự có mặt của hình thức ba đoạn phức trong tác phẩm nhạc đàn còn được tìm thấy trong một số tổ khúc cổ của J.
Bach dưới biểu hiện là một cặp điệu nhảy tương phản nhau, kèm theo ký hiệu chỉ dẫn là alternative (Anh)/ alternativement (Pháp), có nghĩa là chơi luân phiên, chơi lại điệu nhảy đầu tiên sau khi kết thúc điệu nhảy thứ hai theo kiểu gavotte – musette – gavotte. Dẫn chứng cho các cặp điệu nhảy thuộc dạng này là bản số 2, 3, 5 và 6 trong Tổ khúc Anh của J. Việc quay trở lại biểu diễn khúc aria đầu tiên bằng ký hiệu da capo trong các da capo aria hoặc chơi lại điệu nhảy đầu tiên của cặp điệu nhảy trong các tổ khúc cổ chính là nguyên tắc tái hiện - một trong các nguyên tắc quan trọng của hình thức ba đoạn phức - tạo tiền đề cho sự phát triển hoàn thiện của hình thức ba đoạn phức ở thời kỳ sau. Hình thức ba đoạn phức trong âm nhạc thời kỳ cổ điển Sang đến giữa thế kỷ XVIII, dòng nhạc của thời kỳ Baroque đã trở nên lỗi thời và thay vào đó là các ngôn ngữ, phong cách âm nhạc mới hơn.
Thính giả ngày càng yêu thích những giai điệu du dương, có chu kỳ và phần đệm hòa thanh nhẹ nhàng, sáng sủa. Sự tương phản giữa kết cấu âm nhạc và phong cách cũng được chú trọng trong âm nhạc mới. Tất cả những yếu tố mới này đã được phát triển trong opera và dần thâm nhập, lan tỏa sang các sáng tác cho nhạc đàn và khiến thể loại này trở thành một thể loại âm nhạc độc lập, ngày càng thu hút người biểu diễn, nhạc sĩ sáng tác và thính giả. Theo đó, một số nhạc cụ mới cũng đã xuất hiện như piano thay cho clavichord, harpsichord và thể loại hòa tấu mới ra đời như tứ tấu dây.
Một số thể loại có nguồn gốc từ Baroque nhưng với ngôn ngữ, phong cách âm nhạc mới đã trở thành thể loại âm nhạc dẫn đầu thời kỳ này như thể loại concerto và giao hưởng, dẫn đến sự ra đời của các hình thức mới như sonata, biến tấu, rondo và ba đoạn phức ở thể loại minuet. 20 Minuet là một điệu nhảy nhịp ba (3/4) được sử dụng phổ biến trong thời kỳ Baroque cùng với nhiều điệu nhảy khác như allemande, courante, sarabande, gigue, bourrée và gavotte. Tuy nhiên, chỉ điệu minuet còn được duy trì tới nửa sau thế kỷ XVIII và trở thành thể loại quan trọng trong nền khí nhạc cổ điển châu Âu. Hình thức ba đoạn phức ở thể loại minuet là một cặp gồm hai minuet khác nhau với phần minuet thứ hai được đặt tên là trio.
Thuật ngữ trio ở đây được xuất phát từ điệu nhảy thứ hai trong một cặp điệu nhảy của thời kỳ Baroque với đặc điểm là một điệu nhảy gồm ba bè, chẳng hạn như chương cuối trong concerto Brandenburg số 1 của J.