Luận văn thạc sĩ quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh người dân tộc thiểu số các trường trung học cơ sở huyện thông nông tỉnh cao bằng

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh dân tộc thiểu số tại huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng.

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục

2019

122
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử

Quản lý giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh dân tộc thiểu số là một lĩnh vực quan trọng trong giáo dục hiện đại. Quản lý giáo dục không chỉ đơn thuần là việc tổ chức và điều hành các hoạt động giáo dục mà còn bao gồm việc xây dựng môi trường học tập tích cực, nơi mà học sinh có thể phát triển toàn diện về nhân cách và văn hóa ứng xử. Văn hóa ứng xử là một phần không thể thiếu trong quá trình hình thành nhân cách của học sinh, đặc biệt là đối với học sinh dân tộc thiểu số. Việc giáo dục văn hóa ứng xử giúp học sinh nhận thức rõ hơn về giá trị bản thân và cộng đồng, từ đó hình thành những hành vi ứng xử phù hợp trong xã hội. Đặc biệt, trong bối cảnh huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng, nơi có nhiều dân tộc sinh sống, việc giáo dục văn hóa ứng xử càng trở nên cần thiết.

1.1. Khái niệm và vai trò của giáo dục văn hóa ứng xử

Giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh là quá trình truyền đạt và hình thành những giá trị văn hóa, đạo đức trong hành vi ứng xử của học sinh. Giáo dục văn hóa không chỉ giúp học sinh hiểu biết về các quy tắc ứng xử trong xã hội mà còn giúp các em phát triển kỹ năng giao tiếp, khả năng hòa nhập và xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với mọi người xung quanh. Đặc biệt, đối với học sinh THCS, giai đoạn này là thời điểm quan trọng để hình thành nhân cách và thói quen ứng xử. Việc giáo dục văn hóa ứng xử cần được thực hiện một cách đồng bộ và liên tục, từ gia đình đến nhà trường và xã hội.

II. Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử

Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh dân tộc thiểu số tại huyện Thông Nông cho thấy nhiều vấn đề cần được giải quyết. Mặc dù đã có những nỗ lực trong việc triển khai các chương trình giáo dục văn hóa ứng xử, nhưng hiệu quả vẫn chưa đạt được như mong đợi. Giáo dục cho học sinh dân tộc thiểu số thường gặp khó khăn do sự khác biệt về ngôn ngữ, văn hóa và phong tục tập quán. Điều này dẫn đến việc các em khó tiếp thu các giá trị văn hóa ứng xử mà nhà trường muốn truyền đạt. Hơn nữa, sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong việc giáo dục văn hóa ứng xử còn thiếu chặt chẽ, dẫn đến việc giáo dục không đồng bộ.

2.1. Nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên

Nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên về tầm quan trọng của giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh dân tộc thiểu số là yếu tố quyết định đến hiệu quả của hoạt động giáo dục. Nhiều cán bộ quản lý và giáo viên vẫn chưa nhận thức đầy đủ về vai trò của văn hóa ứng xử trong việc hình thành nhân cách học sinh. Điều này dẫn đến việc giáo dục văn hóa ứng xử chưa được chú trọng đúng mức trong chương trình giảng dạy. Cần có những biện pháp nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý và giáo viên về tầm quan trọng của giáo dục văn hóa ứng xử, từ đó tạo ra những thay đổi tích cực trong công tác quản lý giáo dục.

III. Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử

Để nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh dân tộc thiểu số, cần triển khai một số biện pháp cụ thể. Đầu tiên, cần tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý, giáo viên và phụ huynh về tầm quan trọng của giáo dục văn hóa ứng xử. Thứ hai, cần xây dựng và thực hiện các quy tắc ứng xử văn hóa trong nhà trường, tạo ra môi trường học tập an toàn, thân thiện cho học sinh. Cuối cùng, cần tăng cường sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong việc giáo dục văn hóa ứng xử, nhằm tạo ra một hệ thống giáo dục đồng bộ và hiệu quả.

3.1. Đề xuất các biện pháp cụ thể

Các biện pháp cụ thể bao gồm việc tổ chức các hoạt động ngoại khóa, hội thảo về văn hóa ứng xử, và xây dựng các chương trình giáo dục phù hợp với đặc điểm của học sinh dân tộc thiểu số. Cần có sự tham gia của cộng đồng trong việc xây dựng các chương trình giáo dục văn hóa ứng xử, từ đó tạo ra sự đồng thuận và hỗ trợ từ phía gia đình và xã hội. Việc này không chỉ giúp học sinh tiếp thu kiến thức mà còn tạo ra những trải nghiệm thực tế, giúp các em hình thành thói quen ứng xử tốt trong cuộc sống hàng ngày.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC VĂN HÓA ỨNG XỬ CHO HỌC SINH NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Năm 1949, trong tác phẩm “Khoa học về văn hóa: nghiên cứu con người và văn minh” của tác giả White (Mỹ) đã khẳng định: Các vật thể văn hóa là các “biểu trưng”, văn hóa là sản phẩm của quá trình biểu trưng. Như vậy, những tri thức nhà trường truyền đạt cho người học phải giúp họ tạo nên các “dấu hiệu” trong não - các “công cụ” tâm lý trong đầu - nói một cách khác văn hóa là trong tâm hồn - làm cho con người trở thành con người văn hóa.

Đó chính là mục tiêu của văn hóa học đường [dẫn theo 8, tr. Trong các thập niên 60 - 80 của Thế kỷ XX, tại Liên Xô và các nước Xã hội chủ nghĩa Đông Âu vấn đề văn hóa, VH bắt đầu được các tác giả quan tâm nghiên cứu, tuy nhiên cách nghiên cứu tiếp cận VHƯX tương đồng với lối sống. Từ thập niên 70, các tác giả U.Đôrôkhôp,… đã công bố các tài liệu liên quan đến lý luận về giáo dục văn hóa hành vi nói chung và giáo dục hành vi giao tiếp có văn hóa nói riêng cho HS. Trong các tác phẩm của mình, các tác giả đã chứng minh sự cần thiết phải giáo dục hành vi văn hóa cho HS, nhất là HS nhỏ tuổi [dẫn theo 14, tr.

Năm 1985, Viện nghiên cứu thế giới của Nhật Bản đã chú trọng nghiên cứu thanh niên của 11 quốc gia với lứa tuổi từ 15 - 24 tuổi. Tiếp theo đó, Viện khảo sát xã hội Châu Âu nghiên cứu trên thanh niên 10 nước Châu Âu. Cả hai cuộc điều tra này đều đề cập đến vấn đề định hướng lối sống và giáo dục VHƯX cho thanh niên nhằm giúp họ chuẩn bị bước vào cuộc sống. Năm 2012, báo cáo nghiên cứu mã số DFE-RR218 của Bộ Giáo dục Anh nghiên cứu về ứng xử của HS trong các trường học ở Anh quốc nhằm xem xét về bản chất và tiêu chuẩn của hành vi trong trường học tiếng Anh; tác động của ứng xử tiêu cực trên HS và GV, những điều mà nhà trường và GV có thể làm để phát huy tốt hành vi ứng xử của HS.

Nghiên cứu của các nhà khoa học đã chỉ ra rằng: Có một mối liên hệ tích cực giữa bầu không khí lớp học (niềm tin, giá trị, thái độ) và ứng xử của HS. Một bầu không khí ứng xử nghèo nàn/không tốt sẽ dẫn tới những ứng xử xã hội xấu xí. Từ kết quả nghiên cứu, các nhà khoa học cũng nhận định: Việc ứng xử tốt Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn sẽ mang lại hiệu quả làm việc cho đội ngũ lãnh đạo nhà trường. Ngoài ra, sự phối hợp của cha mẹ HS với nhà trường cũng mang đến những kết quả tích cực cho hành vi ứng xử của HS [dẫn theo 7].

Như vậy, có thể thấy các tác giả nhấn mạnh đến việc tổ chức hành vi tương tác để hình thành văn hóa ứng xử trong trường học, tuy nhiên vẫn còn thiếu vắng các công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử trong nhà trường. Ở Việt Nam Nghiên cứu về văn hóa và văn hóa ứng xử ở Việt Nam đã được một số tác giả đề cập tới. Năm 1987 - 1988, Ban Lý luận giáo dục và giáo dục chuyên nghiệp thực hiện đề tài: “Nghiên cứu và điều tra về xu hướng nhân cách của HS, SV” Đề tài đã chỉ ra những xu hướng nhân cách của HS, SV trong đó nhấn mạnh VHƯX là một bộ phận cấu thành nhân cách. Tác giả Lê Văn Quán (2007) trong tác phẩm “Văn hóa ứng xử truyền thống của người Việt Nam” đã bàn về văn hóa ứng xử của người Việt Nam.

Từ các nhân tố tạo nên các ứng xử, tác giả nêu lên các bình diện và phương châm ứng xử của người Việt theo nhân cách chân, thiện, mỹ [13]. Trong những năm gần đây, ngoài một số công trình liên quan đến văn hóa lối sống, như bàn luận về lối sống, nếp sống, đạo đức chuẩn giá trị xã hội thì cũng có một vài công trình nghiên cứu VHƯX. Tác giả Nguyễn Thị Hằng Phương (2011) trong bài viết “Xây dựng môi trường học đường văn hóa bắt đầu từ giao tiếp văn hóa” đã công bố kết quả nghiên cứu cho thấy có một số biểu hiện ứng xử của GV khiến HS không hài lòng như: sự thiếu công bằng/bao dung, làm trầm trọng hóa vấn đề,. Những điều này đã gây ra tác động tiêu cực đến hứng thú học tập và hiệu quả nhận thức của HS.

Do đó, tác giả cho rằng: Giao tiếp, ứng xử là công việc đầu tiên của các thầy cô đối với HS, với đồng nghiệp và đó là bằng chứng sống động, chân thực nhất về giáo dục văn hóa giao tiếp [dẫn theo 10]. Tác giả Trần Quang Trung trong bài viết “Một số biện pháp xây dựng nền nếp văn hóa ứng xử trong nhà trường” đã xây dựng hệ thống lý luận ban đầu về VHƯX, trong đó tác giả chỉ ra những đặc điểm của VHƯXHĐ. Đó là tính truyền thống, tính công vụ, tính chuẩn mực, tính sư phạm, tính khoa học và phát triển, tính thiện và giá trị tốt đẹp, tính chất tâm lý đám đông và lây lan tâm lý. Từ quan điểm cho rằng VHƯX có mối liên hệ hữu cơ, tác động tích cực đến sự phát triển và vị thế của nhà trường, cơ quan, công sở., tác giả đã đề xuất hệ thống giải pháp hình thành VHƯX trong nhà trường.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Tác giả Nguyễn Kim Hồng (2011) trong tham luận “Văn hóa và xây dựng văn hóa giao tiếp trong nhà trường”, cho rằng: “Vấn đề GDVHƯX, giao tiếp trong nhà trường đang trở thành vấn đề cấp thiết. Trường học không chỉ mang đến cho HS kiến thức mà còn phải xây dựng cho các em nền tảng văn hóa giao tiếp, ứng xử, biết cách sống chan hòa với mọi người… VHƯX trong trường học cần phải được bàn luận, được dạy và được học ngay từ khi trẻ bắt đầu đến trường. ; cần phải có những qui định rõ ràng về cách ứng xử sao cho có văn hóa” [dẫn theo 10]. Ngoài ra còn có thể kể đến những công trình khác dưới dạng các chuyên đề khoa học, bài tạp chí, bài báo đề cập đến một phương diện nhất định của VHƯX.

Trong vài năm gần đây một số đề tài cũng nghiên cứu về vấn đề văn hóa ứng xử của học sinh trong nhà trường trong đó có thể kể đến như đề tài luận văn thạc sĩ“Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh các trường THPT Thành phố Vĩnh Yên” của tác giả Nguyễn Thị Mai Chang và “Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh Trường phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên” của tác giả Trần Văn Đạt. Cả hai đều tập trung nghiên cứu quản lý hoạt động văn hóa ứng cho học sinh ở trường THPT và Trường PTDTNT THCS. Tác giả Dương Xuân Chính (2018), cũng đã nghiên cứu về nội dung giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh người dân tộc thiểu số ở trường tiểu học trong đề tài luận văn thạc sĩ “Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh dân tộc thiểu số các trường tiểu học huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai” đề tài đã đưa ra khung lý luận về quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh người dân tộc thiểu số ở trường tiểu học, khảo sát, phân tích và đưa ra nhiều biện pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý hoạt động văn hóa ứng xử cho học sinh tiểu học người dân tộc thiểu số. Trong các công trình nghiên cứu nêu trên, các tác giả đều đã đi nghiên cứu và làm rõ VHƯX, những biểu hiện của VHƯX.

Tuy nhiên, vẫn còn thiếu những công trình nghiên cứu sâu về quản lý hoạt động giáo dục VHƯX cho HS, đặc biệt là học sinh THCS người DTTS. Vì vậy, đây là mảng đề tài cần được quan tâm nghiên cứu làm cơ sở đề xuất các biện pháp quản lý giáo dục VHƯX cho học sinh người DTTS ở các trường THCS. Một số khái niệm cơ bản 1. Văn hóa, ứng xử, văn hóa ứng xử 1.

Văn hóa Theo nghiên cứu của nhiều tác giả, thuật ngữ “Văn hóa” xuất hiện rất sớm ở Trung Hoa. Lưu Hướng (Ước đoán 77 - 76 TCN) đời Tây Hán là người sử dụng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn thuật ngữ “Văn hóa” trong sách Thuyết Uyển, bài Chi Vũ: "Bậc thánh nhân trị thiên hạ, trước dùng văn đức rồi sau mới dùng vũ lực. Phàm dùng vũ lực đều để đối phó kẻ bất phục tùng, dùng văn hóa không thay đổi được thì sau đó sẽ chinh phạt". “Văn hóa” được hiểu như một cách giáo hóa đối lập với vũ lực, dùng văn để trị, để thay đổi, biến đổi.

Hiểu theo nghĩa đầy đủ, văn hóa là sự giáo hóa, vun trồng nhân cách con người, làm thay đổi con người [dẫn theo 7]. Văn hóa theo tiếng Latinh là “cultus” nghĩa là sự trồng trọt. Danh từ “cultus” được hiểu theo hai nghĩa khác nhau “cultusagri” là trồng trọt ngoài đồng (trồng cây) và “cultusannimi” là trồng tinh thần, trồng người. Theo từ điển Tiếng Việt văn hóa được định nghĩa là: “Văn hóa là tổng thế nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử”.

Như vậy theo nghĩa gốc của từ “văn hóa” thì đó là làm cho sự vật, hiện tượng sinh sôi, nảy nở, phát triển theo chiều hướng tốt đẹp. UNESCO (2002) đã đưa ra một định nghĩa chính thức về văn hóa:“Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi các nhân và các cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ, cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống, mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Quản lý giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh dân tộc thiểu số THCS huyện Thông Nông, Cao Bằng là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc nâng cao chất lượng giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh dân tộc thiểu số tại các trường THCS. Tài liệu này không chỉ phân tích thực trạng mà còn đề xuất các biện pháp quản lý hiệu quả, giúp học sinh phát triển kỹ năng giao tiếp, ứng xử phù hợp với văn hóa truyền thống và hiện đại. Đây là nguồn tham khảo quý giá cho các nhà quản lý giáo dục, giáo viên và những ai quan tâm đến việc cải thiện môi trường học tập cho học sinh dân tộc thiểu số.

Để mở rộng kiến thức về quản lý giáo dục, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ giáo dục học biện pháp quản lý công tác đổi mới phương pháp dạy học ở trường trung học cơ sở huyện kon rẫy tỉnh kon tum, hoặc Luận văn thạc sĩ quản lý hoạt động dạy học môn toán ở các trường trung học cơ sở huyện giồng trôm tỉnh bến tre. Ngoài ra, Quản lý hoạt động tổ chuyên môn ở các trường trung học cơ sở quận hai bà trưng hà nội cũng là một tài liệu hữu ích để hiểu sâu hơn về quản lý giáo dục ở cấp THCS.