CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ SỬ DỤNG THIẾT BỊ DẠY HỌC 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề Thiết bị dạy học là một trong những thành tố cơ bản hỗ trợ tối đa cho hoạt động dạy học. Yêu cầu đổi mới nội dung và phương pháp dạy học tất yếu kéo theo việc đổi mới cơ sở vật chất nói chung và thiết bị dạy học nói riêng, đặc biệt là hoạt động quản lý việc sử dụng thiết bị dạy học, quá trình có tác động trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả của hoạt động dạy và học, thể hiện cụ thể nội dung dạy học và hỗ trợ thực hiện các phương pháp dạy học tích cực… Chính vì lý do đó, việc tìm hiểu về thiết bị dạy học cũng được nhiều nhà nghiên cứu khoa học, nhà quản lý giáo dục trong và ngoài nước quan tâm đến trong quá trình xây dựng và đổi mới dạy học cũng như giáo dục. Hội nghị chuyên đề các nước Châu Á – Thái Bình Dương ở New Delhi năm 1972 về TBDH khoa học cho nhà trường đã bàn về yêu cầu sư phạm và tính kinh tế, sự cần thiết của TBDH cho hoạt động dạy và học. Chủ đề hội nghị “Phát triển các phương tiện thích hợp để dạy và học” được đưa ra thảo luận giữa các nước Châu Á – Thái Bình Dương tổ chức tại Tokyo năm 1979 đề cập đến những yêu cầu khi trang bị và sử dụng TBDH.
Tác giả Tô Xuân Giáp với tài liệu “Phương tiện dạy học” [7] của ông đã đưa ra minh chứng cho sự phát triển của công nghệ dạy học dựa vào phương tiện dạy học, nêu lên các đặc trưng chủ yếu của phương tiện dạy học, nhiều cách phân loại và những nguyên tắc sử dụng phương tiện dạy học hiệu quả. Tác giả Bùi Minh Hiền đã dành một chương trong tác phẩm “Quản lý giáo dục” [8] để nói về vấn đề Quản lý thiết bị dạy học trong nhà trường. Nội dung đề cập chi tiết đến vai trò, phân loại TBDH và đặc biệt là tác giả đã đưa ra các giải pháp thiết thực về vấn đề sử dụng TBDH trong các trường học nhằm nâng cao được hiệu quả đào tạo trong tình hình hiện nay. Tác giả Trần Đức Hùng đã chọn nghiên cứu đề tài “Biện pháp quản lý thiết bị dạy học ở trường trung học phổ thông tỉnh Quảng Ngãi trong giai đoạn hiện nay”.
Nội dung chính của luận văn thạc sĩ này đã trình bày cụ thể cơ sở lý luận của vấn đề quản lý sử dụng TBDH của trường THPT; trên cơ sở đó, tác giả đã tiến hành khảo sát 6 thực trạng và đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng TBDH ở trường THPT tỉnh Quảng Ngãi.[10] Tác giả Kiều Thị Thùy Trang với đề tài “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý thiết bị dạy học ở các trường trung học cơ sở trên địa bàn quận 11, thành phố Hồ Chí Minh” đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý thiết bị dạy học trên cơ sở phân tích, nghiên cứu những lý luận cơ bản và đánh giá việc quản lý TBDH ở các trường THCS trong quận 11, TPHCM.[19] Tác giả Lê Thanh Giang đã chọn đề tài tìm hiểu về thực trạng và đề xuất các giải pháp quản lý việc sử dụng TBDH của GV trường THPT tỉnh Cà Mau làm đề tài luận văn Thạc sĩ. Đề tài đã cung cấp cơ sở lý luận cụ thể về TBDH và công tác quản lý sử dụng TBDH, các nội dung khảo sát thực trạng quản lý sử dụng TBDH; từ đó, đề xuất các biện pháp phù hợp nhằm cải thiện công tác quản lý sử dụng TBDH.[6] Tác giả Đặng Phúc Tịnh đã chọn nghiên cứu về thiết bị dạy học cho luận văn Thạc sĩ của mình. Nội dung của luận văn dựa là kết quả nghiên cứu lý luận của tác giả về quản lý TBDH và khảo sát thực trạng quản lý TBDH ở các trường THCS huyện Phong Điền, Thành phố Cần Thơ. Từ đó, đề xuất một số biện pháp quản lý TBDH, khai thác tối đa hiệu quả sử dụng TBDH nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy và học của các trường THSC tại địa phương.
[18] Tác giả Phan Thượng Tòng, Phó Hiệu Trường trường THPT Buôn Ma Thuột đã chọn tìm hiểu vấn đề về một số nguyên tắc và giải pháp quản lý CSVC và TBDH làm đề tài sáng kiến kinh nghiệm. Nội dung của đề tài là làm rõ thực trạng việc quản lý CSVC, khai thác và sử dụng TBDH kém hiệu quả ở trường THPT Buôn Ma Thuột; làm rõ nguyên nhân tồn tại, đề ra một số nguyên tắc và giải pháp trong công tác quản lý nhằm góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng CSVC và TBDH trong trường THPT. Những công trình nghiên cứu của các tác giả đã xây dựng được một hệ thống lý luận chặt chẽ, đầy đủ về vị trí, vai trò, các yêu cầu khi sử dụng TBDH hiệu quả cũng như các biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng. 7 Huyện Củ Chi là một trong những huyện nông thôn mới đầu tiên của Thành phố Hồ Chí Minh đang trong giai đoạn nỗ lực không ngừng để duy trì thành quả đạt được và phát triển hơn nữa nhằm nâng cao đời sống cho người dân.
Tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội được cải thiện tất yếu dẫn đến sự đầu tư cho giáo dục nhằm phát triển hơn nữa giáo dục địa phương, mang đến cho thế hệ trẻ một điều kiện học tập tốt hơn. Trong đó, việc đầu tư kinh phí cho cơ sở vật chất nói chung và TBDH nói riêng được chú trọng. Tuy nhiên, vẫn còn rất hạn chế trong vấn đề tìm hiểu và đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hoạt động quản lý TBDH mà quan trọng hơn hết là hoạt động quản lý sử dụng TBDH – hoạt động có ảnh hưởng trực tiếp đến việc phát huy được vai trò của TBDH để phục vụ cho hoạt động dạy và học. Dựa trên những lý luận đã được đúc kết từ những công trình nghiên cứu đã được thực hiện, đề tài khóa luận tốt nghiệp này với mong muốn tìm hiểu cụ thể hơn về khía cạnh quản lý sử dụng TBDH trong toàn bộ hoạt động quản lý TBDH ở các trường THCS huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.2 Các khái niệm liên quan đến đề tài 1.1 Quản lý Ngày nay, trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, khi con người thực hiện các hoạt động đều cần đến quản lý.
Quản lý không chỉ thu hẹp trong phạm vi cá nhân, tổ chức mà hầu như không giới hạn phạm vi; có thể nói rằng nơi nào có hoạt động thì nơi đó có quản lý. Chính vì vậy mà thuật ngữ “Quản lý” được đề cập rất nhiều trong các lĩnh vực và trong đời sống hằng ngày. Như bất kì khái niệm nào, có rất nhiều định nghĩa về thuật ngữ “quản lý”. Giải thích thuật ngữ theo gốc Hán, “Quản” là từ chỉ hoạt động trong coi, điều khiển để duy trì trạng thái ổn định và phát triển của đối tượng quản lý; “Lý” là sửa sang, đổi mới, tạo điều kiện phát triển.
Vậy có thể hiểu “Quản lý” theo cách giải thích này là quá trình điều khiển để duy trì trạng thái ổn định của hoạt động và hướng hoạt động đó đến sự phát triển.W Taylor (1856 – 1915) là một trong những người đầu tiên khai sinh ra khoa học quản lý; với cách tiếp cận quản lý dưới góc độ kinh tế - kỹ thuật đã cho rằng: 8 Quản lý là hoàn thành công việc của mình thông qua người khác và biết được một cách chính xác họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất. Theo James Stoner cho rằng quản lý là “quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên trong tổ chức và sử dụng mọi nguồn lực sẵn có của tổ chức để đạt những mục tiêu của tổ chức”. Tác giả Trần Kiểm định nghĩa: “Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong suốt quá trình lao động”. [13] Hiện nay, đa số các nhà nghiên cứu đều thống nhất khái niệm như sau: Quản lý là quá trình tác động có chủ định, hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm tạo ra các hoạt động hướng tới đạt mục đích chung của tổ chức dưới sự tác động của môi trường.
Từ các định nghĩa trên về quản lý, ta có thể đưa ra kết luận chung về thuật ngữ “Quản lý”, đó là “Quá trình tác động có ý thức, hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu với hiệu quả cao nhất”.2 Quản lý giáo dục Giáo dục cũng giống như bất cứ hoạt động có ý thức nào khác của con người, muốn hoạt động có hiệu quả cao đòi hỏi có sự tác động của quản lý để hoạt động giáo dục hướng đến mục đích giáo dục đã được đặt ra và đó cũng là cơ sở để hình thành nên thuật ngữ “Quản lý giáo dục”. Theo tác giả Trần Kiểm, thuật ngữ “Quản lý giáo dục” được chia thành hai cấp độ chủ yếu: cấp vĩ mô và cấp vi mô. Đối với cấp vĩ mô: Quản lý giáo dục được hiểu là hoạt động tự giác của chủ thể quản lý nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát… một cách có hiệu quả các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Đối với cấp vi mô: Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp qui luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường.
9 Quản lý giáo dục (vi mô) cũng có thể được định nghĩa là những tác động của chủ thể quản lý vào quá trình giáo dục (được tiến hành bởi tập thể giáo viên và học sinh, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường.