Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý nhà nước về văn hóa 1. Khái niệm quản lý nhà nước về văn hóa Các-Mác đưa ra quan điểm về văn hóa như sau: “ Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình hoạt động thực tiễn xã hội – lịch sử, tiêu biểu cho trình độ đạt được trong lịch sử xã hội” [5, tr. Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực cuả sự phát triển kinh tế xã hội”.
30 năm sau đổi mới nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ đã thu được nhiều thành tựu tuy vẫn chưa hoàn thiện hệ thống quản lý, vai trò điều tiết của Nhà nước chưa được tổ chức chặt chẽ, lợi ích kinh tế cá nhân chưa được đặt trong tương quan mật thiết với lợi ích kinh tế cộng đồng. Do đó nền kinh tế thị trường nhanh chóng bộc lộ thiếu sót bất cập dẫn tới những hậu quả đáng tiếc, thậm chí gây tổn thất nghiêm trọng đối với sự ổn định và phát triển của xã hội làm ảnh hưởng đến phát triển kinh tế Vì vậy, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phải tiến hành song song với việc xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và xây dựng con người. Trên hết, muốn tạo nên nền văn hóa cường thịnh, nhất thiết phải quán triệt tư tưởng: văn hóa là động lực phát triển Kinh tế - Xã hội và phát triển đất nước. Tư tưởng này của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được Đảng ta vận dụng và thể hiện trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và trong các văn kiện của Đại hội lần thứ XI, đặc biệt là Nghị quyết về văn hóa được ban hành sau Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 9 [10].
8 Trong cuốn Xã hội học văn hóa của Đoàn Văn Chúc, tác giả cho rằng: Văn hóa – vô sở bất tại: Văn hóa - không nơi nào không có! Điều này cho thấy tất cả những sáng tạo của con người trên nền của thế giới tự nhiên là văn hóa; nơi nào có con người nơi đó có văn hóa [6, tr. Trong cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, PGS.TSKH Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [40, tr. Như vậy, có thể thấy rằng: Văn hóa là tất cả những giá trị vật thể do con người sáng tạo ra trên nền của thế giới tự nhiên.Văn hóa là sản phẩm của loài người, được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội. Bên cạnh đó, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, duy trì sự bền vững và trật tự xã hội được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người.
Với tầm quan trọng như vậy của văn hóa như đã nêu trên các nhà nước đều phải tiến hành quản lý nhà nước về văn hóa, tạo điều kiện để nhân dân sáng tạo, hưởng thụ các giá trị văn hóa, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa của các nước khác, các dân tộc khác trên thế giới. Nhà nước sử dụng các chính sách, pháp luật để tác động, điều chỉnh các hành vi của con người, hoạt động của các tổ chức trong lĩnh vực văn hóa, nhằm thỏa mãn nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ văn hóa hợp pháp, chính đáng của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội. Trong quản lý nhà nước về văn hóa các cơ quan nhà nước tiến hành xây dựng và áp dụng các chính sách, pháp luật lên các đối tượng tác động là 9 các tổ chức văn hóa, các hoạt động văn hóa nhằm định hướng cho sự phát triển văn hóa, tạo điều kiện để nhân dân sáng tạo các giá trị văn hóa vật chất và tinh thần, đồng thời hưởng thụ các giá trị văn hóa, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa của các nước khác, các dân tộc khác để thỏa mãn nhu cầu về đời sống văn hóa, tinh thần của mình. Đặc điểm của quản lý nhà nước về văn hóa Cũng như sự quản lý nhà nước trên các lĩnh vực khác với ý nghĩa là sự định hướng lập kế hoạch, xây dựng chính sách, pháp luật để điều chỉnh, tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật, kiểm tra đánh giá, xử lý vi phạm pháp luật., Quản lý nhà nước về văn hóa là quản lý bằng pháp luật từ trung ương đến địa phương với mục đích cuối cùng là quản lý tất cả các mặt của văn hóa một cách hài hòa, chuẩn mực và đúng đắn nhất.
QLNN về văn hóa cũng không thể đơn tuyến. Bởi vì văn hóa có cơ sở là KT - XH, luôn luôn gắn liền với KT-XH, mà kinh tế xã hội ở nước ta có nhiều thành phần thì văn hóa tất yếu cũng có nhiều thành phần. Kinh tế xã hội của một quốc gia càng phát triển thì nền văn hóa cũng đứng trước những biến động không nhỏ từ ngay trong nội tại văn hóa dân tộc đó, cũng như những làn sóng tác động từ văn hóa nước ngoài. Chính vì vậy bắt buộc QLNN về văn hóa mang đặc điểm biến thiên tùy theo nền Kinh tế - Xã hội.
Chính vì vậy QLNN về văn hóa có các đặc điểm sau: Một là, chủ thể quản lý nhà nước về văn hóa là Nhà nước. Nhà nước Việt Nam được tổ chức thống nhất từ Trung ương đến các địa phương, quyền quản lý được phân cấp: Cấp trung ương, cấp tỉnh (tỉnh và các thành phố trực thuộc Trung ương), cấp huyện (huyện thuộc tỉnh, quận thuộc thành phố), cấp xã (xã thuộc huyện, phường thuộc quận). Quản lý nhà nước về văn hóa ở cấp nào thì cơ quan nhà nước cấp ấy là chủ thể quản lý. 10 Hai là, Văn hóa với tư cách là khách thể quản lý được hiểu theo nghĩa cụ thể là: Các hoạt động văn hóa (trong đó có các dịch vụ văn hóa, hoạt động sáng tạo.) và các giá trị văn hóa (cụ thể là các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể).
Mặt khác, theo sự phân công trong hệ thống các cơ quan nhà nước các cấp, không phải toàn bộ hoạt động văn hóa hiểu theo nghĩa rộng đều do ngành văn hóa quản lý. Văn hóa giáo dục, khoa học công nghệ. do cơ quan giáo dục, khoa học công nghệ quản lý. Ba là, mục đích QLNN về văn hóa là giữ gìn và phát huy những giá trị và tiếp thu tinh hoa văn hóa truyền thống của Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
Tuy nhiên, trong hoạt động quản lý nhà nước văn hóa ở từng cấp, từng địa phương, từng hoạt động thì mục đích quản lý nhà nước về văn hóa phải được xác định cụ thể sát với yêu cầu nhiệm vụ và hoàn cảnh của địa phương. Ví dụ quản lý nhà nước về Chương trình mục tiêu xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở thì cấp trung ương mục đích là gì; cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã là gì, phải được xác định một cách cụ thể. Có như vậy hoạt động quản lý mới hiệu quả. Bốn là, QLNN về văn hóa là dựa trên Hiến pháp, luật và các văn bản quy phạm pháp luật để quản lý.
QLNN về văn hóa không theo lối tư duy cứng nhắc, mà dựa trên những hoàn cảnh cụ thể, những trường hợp cụ thể để xem xét. Bởi vì văn hóa là sự sáng tạo của quần chúng nhân dân được thực hiện thông qua các đại biểu của mình là văn nghệ sĩ. Vì vậy, QLNN về văn hóa là sự định hướng, tạo điều kiện, tổ chức điều hành cho văn hóa phát triển không ngừng theo hướng chân thiện, mỹ nhằm giúp ích cho con người, cho xã hội Năm là, cách thức quản lý của người làm công tác quản lý nhà nước về văn hóa phải luôn tự đặt câu hỏi và trả lời câu hỏi: Ai là người quản lý? Quản lý ai và quản lý cái gì? Quản lý vì cái gì? Trong tay mình đang có công cụ nào để quản lý? Ngoài 4 câu hỏi cơ bản trên, người quản lý có kinh nghiệm còn biết 11 đặt một số câu hỏi có tính nghiệp vụ khác: Mình đã nắm chắc các công cụ đó chưa? (luật và các văn bản quy phạm pháp luật). Hoạt động quản lý đang diễn ra trong điều kiện, hoàn cảnh nào? Trách nhiệm và quyền hạn quản lý nhà nước của cấp mình đến đâu?.
Người làm công tác quản lý nhà nước về văn hóa dù ở cấp nào cũng cần trả lời các câu hỏi trên một cách thuần thục mới có thể thực thi nhiệm vụ quản lý có hiệu quả. Vai trò của quản lý nhà nước về văn hóa Hoạt động văn hóa là một dạng hoạt động xã hội quan trọng, tất yếu phải có sự quản lý của nhà nước, chính vì thế quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hóa là tất yếu khách quan. Do hoạt động văn hóa là một hoạt động sáng tạo, là hoạt động tư tưởng và còn là hoạt động kinh tế, nên quản lý nhà nước về văn hóa có những vai trò cơ bản sau: Một là, quản lý nhà nước về văn hóa nhằm chăm lo xây dựng, phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Hai là, quản lý nhà nước về văn hóa có tác dụng để các tổ chức và cá nhân sáng tạo, hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hóa, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa.
Ba là, quản lý nhà nước về văn hóa còn nhằm bảo vệ, gìn giữ những giá trị văn hóa của dân tộc. Bốn là, quản lý nhà nước về văn hóa đảm bảo tính đa dạng của nền văn hóa Việt Nam, góp phần kích thích sự phát triển kinh tế - xã hội.