đặt vấn đề xác định tên gọi các tộc người để lập danh mục mới, cần phải hết sức coi trọng mặt ngôn ngữ học, phải phân tích xem bản thân các tên ấy có phản ánh đặc trưng ngôn ngữ hay đặc trưng lịch sử xã hội hay không? [96, tr. Cuối cùng, với các ý kiến khá đồng thuận của các nhà khoa học, ở Việt Nam khi đó có 59 dân tộc được xác định trong "Các dân tộc ít người ở Việt Nam, các tỉnh phía Bắc" [89]. Chính phủ đã ủy nhiệm cho Tổng cục Thống kê ban hành "Danh mục thành phần các dân tộc Việt Nam" theo Quyết định 121-TCTK/PPCĐ ngày 2-3-1979, trong đó có 53 dân tộc thiểu số và 1 dân tộc đa số. Trong bài viết “Khái niệm tộc người” in trong sách Nhân học: Ngành khoa học về con người do Nguyễn Văn Sửu (chủ biên) hai tác giả Vương Xuân Tình và Vũ Đình Mười cho rằng các nhà dân tộc học Việt Nam nỗ lực làm rõ khái niệm tộc người, từ đó xác định tộc người là đối tượng nghiên cứu của dân tộc học, với mục đích ứng dụng rất rõ là nhằm phục vụ chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước.
Các nhà dân tộc học bắt đầu thực hiện những nghiên cứu liên quan từ cuối thập niên 1950, và triển khai mạnh mẽ trong những thập niên 1960-1970. Kết quả là đến năm 1979, Chính phủ công bố có 54 tộc người ở Việt Nam. Trong những năm 2001 đến năm 2013, việc xác định lại thành phần tộc người đối với một số tộc người hay các nhóm trong một tộc người được thực hiện xuất phát từ nguyện vọng của một số người dân và nhà dân tộc học. Trong hai lần xác định lại thành phần tộc người do Viện Dân tộc học và Ủy ban Dân tộc thực hiện, các nhà dân tộc học và cán bộ quản lý Nhà nước đều áp dụng ba tiêu chí là có chung ngôn ngữ, các đặc điểm văn hóa, và ý thức tự giác tộc người (ý thức mình thuộc về một tộc người nào đó), như đã được sử dụng trong lần xác định trước.
Vì thế, dù qua hai lần xác định lại thành phần tộc người, đến nay Việt Nam vẫn giữ nguyên danh mục 54 tộc người ở Việt Nam được công bố từ năm 1979 [104]. Tài liệu nghiên cứu, các văn bản chính sách và trong tài liệu truyền thông về 54 tộc người ở Việt Nam thường phân chia thành tộc người đa số và tộc người thiểu số, trong đó người Kinh (Việt) là dân tộc đa số chiếm 85,3% tổng 12 dân số cả nước (năm 2019). Toàn bộ 53 tộc người còn lại được gọi là các dân tộc thiểu số, chiếm 14,7 % dân số cả nước (năm 2019). Trong số 53 dân tộc thiểu số, có 16 dân tộc thiểu số rất ít người (dưới 10.2 Việc phân loại và nhận diện một tộc người ở Việt Nam còn là một nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng, vấn đề chiến lược trong giai đoạn cách mạng hiện nay đối với công tác dân tộc.
Do vậy, tại Chương trình hành động thực hiện Chiến lược công tác dân tộc đến năm 2020, Thủ tướng Chính phủ đã giao cho Ủy ban Dân tộc chủ trì, phối hợp với Viện Hàn lâm Khoa học xã hội và các bộ, ngành, thực hiện Đề án "Xác định thành phần, tên gọi một số dân tộc và xây dựng Bảng danh mục thành phần các dân tộc thiểu số Việt Nam". Một trong những nhà khoa học uy tín trên thế giới nghiên cứu về văn hóa các dân tộc ở châu Á là tác giả Charles Keyes. Trong bài viết “Tiến tới việc hình thành một quan niệm mới về nhóm tộc người”, Charles Keyes quan niệm: “Ba yếu tố khác được trao khi sinh là đặc điểm sinh học, nơi sinh, và nguồn gốc làm thành cơ sở cho việc phân biệt giữa các nhóm xã hội. Trong đó, nguồn gốc tỏ ra là quan trọng hơn cả khi mà trong nhiều trường hợp người ta không tính toán tới các đặc điểm sinh học và nơi sinh trùng hợp với nguồn gốc” [27, tr.
Theo tác giả, không có các thuộc tính văn hóa nào là phổ biến để phân biệt một nhóm tộc người này với nhóm các tộc người khác. Quan điểm của nhà khoa học đã phát triển một công thức mới về khái niệm tộc người có một đặc tính “bẩm sinh” đó là nguồn gốc được trao khi sinh. Trong năm 2014 - 2015, Ủy ban Dân tộc đã chủ trì tổ chức nhiều cuộc hội thảo bàn về vấn đề này với sự tham gia của nhiều nhà khoa học, nhà quản lý ở các cơ quan, bộ, ban, ngành về sự cần thiết của việc xây dựng và ban hành tiêu chí xác định thành phần dân tộc ở nước ta hiện nay. Tiêu chí xác định thành phần dân tộc là sự thể chế hóa Điều 42, Hiến pháp 2013 và là cơ sở khoa học và pháp lý củng cố khối đại đoàn kết các dân tộc anh em trong sự nghiệp xây 2 Các tộc người gồm có: Ơ-đu, Pu Péo, Si La, Rơ-măm, Brâu, Cống, Bố Y, Mảng, Cơ Lao, La Hủ, La Ha, Pà Thẻn, Lự, Phù Lá, Chứt, và Lô Lô.
13 dựng và bảo vệ Việt Nam giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Các tiêu chí để xác định thành phần dân tộc đã được kết luận, gồm: Có chung ý thức tự giác dân tộc; có chung ngôn ngữ; có chung những đặc điểm mang tính bản sắc văn hóa dân tộc. Theo tác giả Lê Xuân Trình, xác định thành phần các dân tộc phải đảm bảo yêu cầu ổn định chính trị, đoàn kết giữa các dân tộc, đúng pháp luật; đồng thời phải xem xét đến tình hình đặc điểm ở từng vùng dân tộc thiểu số trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể để áp dụng chủ trương, biện pháp cho phù hợp. [114] Tuy vậy, công tác xác định thành phần dân tộc nói chung, nhất là việc vận dụng các tiêu chí vào công việc này nói riêng còn bộc lộ những hạn chế, chủ yếu là các tiêu chí được đưa ra rất khó xác định, trong một số trường hợp không xác định được.
Từ những hạn chế đó, quá trình xác định thành phần dân tộc đã để lại nhiều thiếu sót, hậu quả là trong đời sống tư pháp ở cơ sở, đồng bào dân tộc thiểu số ở nhiều địa phương gặp rất nhiều khó khăn trong kê khai hộ tịch hộ khẩu, trong việc tiếp cận các chính sách, các dịch vụ hỗ trợ của Nhà nước.3 Các trưng bày, trình diễn của Bảo tàng DTHVN ảnh hưởng theo cách phân loại tộc người của các nhà dân tộc học ở Việt Nam. Bảo tàng chọn cách thể hiện trưng bày về văn hóa của các dân tộc theo nhóm ngôn ngữ và theo vùng miền. Bảo tàng trưng bày theo quan niệm này đã tạo dựng cho mỗi nhóm dân tộc một bản sắc. Những bản sắc văn hóa được tạo dựng này là một quá trình thực hiện nhiệm vụ của Bảo tàng và sự đóng góp, thương thảo của nhiều bên tham gia.
Quá trình tạo dựng bản sắc văn hóa được thể hiện theo nhóm dân tộc, nhóm ngôn ngữ cũng như theo từng tộc người trong không gian của Bảo tàng. Nghiên cứu về bản sắc và bản sắc văn hóa tộc người Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, vấn đề gìn giữ bản sắc văn hóa tộc người được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm, thể hiện nhất quán trong các 3 https://www.vn/xac-dinh-toc-danh-va-thanh-phan-cac-dan-toc-la-viec-lam-cap-thiet- doi-voi-cong-tac-dan-toc-post86469. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2022. 14 chủ trương, chính sách, mang tính chất chỉ đạo, định hướng quan trọng trong lĩnh vực văn hóa.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI năm 1986 nêu rõ: mở cửa, hội nhập và văn hoá cũng là bộ phận quan trọng trong quá trình đổi mới. Tuy nhiên, sự mở cửa và hội nhập nhanh chóng của Việt Nam vào dòng chảy của văn hoá và kinh tế thế giới tạo ra nỗi lo cho các nhà nghiên cứu và quản lý văn hoá về sự mất bản sắc. Khẩu hiệu “hoà nhập, không hoà tan” trở thành định hướng trọng tâm cho sự nghiệp phát triển văn hoá dân tộc. Nghị quyết hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương (7/1998) khẳng định “Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, thể hiện tầm nhìn chiến lược và tư duy cách mạng của Đảng trong thời kỳ đổi mới với việc đánh giá cao vai trò, sứ mệnh cao cả của văn hóa đối với sự phát triển kinh tế - chính trị - xã hội.
Quan điểm này đã được Đại hội XII tiếp tục khẳng định, với phương hướng phát triển văn hóa là “Xây dựng, phát triển văn hóa, con người”. Đây được xem là chủ trương phù hợp và đúng đắn cả về lý luận và thực tiễn của Đảng bởi vì con người vừa là chủ thể sáng tạo ra văn hóa, đồng thời là sản phẩm của chính nền văn hóa do mình sáng tạo ra; con người là trung tâm của chiến lược phát triển, nói đến văn hóa là nói đến con người, vì văn hóa là của con người, do con người, vì con người. Việc xây dựng, phát triển văn hóa không thể tách khỏi xây dựng, phát triển con người. Đảng ta khẳng định và nhấn mạnh vấn đề trọng tâm, cốt lõi của xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là xây dựng con người với nhân cách và lối sống tốt đẹp.
Cốt lõi của nền văn hóa tiên tiến là “lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội theo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm mục tiêu tất cả vì con người, vì hạnh phúc và sự phát triển phong phú, tự do, toàn diện của con người trong mối quan hệ hài hòa giữa cá nhân và cộng đồng, giữa xã hội và tự nhiên”, tiên tiến không chỉ ở nội dung tư tưởng mà còn tiên tiến trong cả hình thức biểu hiện, trong các phương tiện chuyển tải nội dung. Bản sắc văn hóa Việt Nam là những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. 15 Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc, lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động, sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống… đậm nét trong các hình thức biểu hiện mang tính dân tộc.4 Thời điểm từ Đổi mới, vấn đề bản sắc văn hoá trở thành một chủ đề thảo luận trên nhiều diễn đàn của cả các nhà quản lý cũng như các nhà thực hành văn hoá.