Bản Sắc Văn Hóa Tộc Người Qua Hoạt Động Trình Diễn Tại Bảo Tàng Dân Tộc Học Việt Nam

Chuyên khảo phân tích Bản sắc văn hóa tộc người qua hoạt động trình diễn ở bảo tàng dân tộc học việt nam, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Trường đại học

Học viện Khoa học xã hội

Chuyên ngành

Văn hóa học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2023

196
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.2. Tộc người và vấn đề phân loại tộc người ở Việt Nam

1.3. Nghiên cứu về bản sắc và bản sắc văn hóa tộc người

1.4. Nghiên cứu vai trò của bảo tàng trong việc tạo dựng bản sắc văn hóa tộc người

1.5. Đánh giá về các công trình nghiên cứu

1.6. Khái niệm công cụ và cơ sở lý luận

1.6.1. Khái niệm công cụ

2. CHƯƠNG 2: SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC VIỆT NAM VÀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRÌNH DIỄN VĂN HOÁ TỘC NGƯỜI

2.1. Sự hình thành và phát triển Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

2.1.1. Chủ trương xây dựng

2.1.2. Xây dựng các không gian trưng bày

2.1.3. Một số thành tựu trong quá trình hình thành và phát triển Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

2.2. Quá trình tổ chức hoạt động trình diễn ở Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

2.2.1. Kinh nghiệm của một số bảo tàng trên thế giới và bài học, tôn chỉ của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

2.2.2. Quan niệm về tổ chức hoạt động trình diễn tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

2.2.3. Tổ chức các hoạt động trình diễn ở Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

3. CHƯƠNG 3: HOẠT ĐỘNG TRÌNH DIỄN BẢN SẮC VĂN HÓA TỘC NGƯỜI BANA, THÁI, KINH Ở BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC VIỆT NAM

3.1. Trình diễn bản sắc văn hóa tộc người Bana

3.1.1. Trưng bày văn hóa Bana tại tòa Trống đồng

3.1.2. Trưng bày văn hóa Bana tại Vườn kiến trúc

3.1.3. Hoạt động trình diễn của dân tộc Bana

3.2. Trình diễn bản sắc văn hóa tộc người Thái

3.2.1. Không gian nhà Thái đen trong tòa Trống đồng

3.2.2. Hoạt động trình diễn của dân tộc Thái

3.3. Trình diễn bản sắc văn hóa tộc người Kinh

3.3.1. Trưng bày văn hoá của dân tộc Kinh trong toà Trống đồng

3.3.2. Không gian văn hóa của dân tộc Kinh tại Vườn kiến trúc

3.3.3. Hoạt động trình diễn của dân tộc Kinh

4. CHƯƠNG 4: HOẠT ĐỘNG TRÌNH DIỄN TẠI BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC VIỆT NAM VÀ TÍNH CHÍNH TRỊ CỦA TẠO DỰNG BẢN SẮC

4.1. Vấn đề chọn lọc trong tạo dựng bản sắc văn hóa tộc người

4.1.1. Chọn lọc từ bối cảnh của bảo tàng

4.1.2. Chọn lọc từ bối cảnh của cộng đồng

4.2. Vấn đề thương thảo trong việc tạo dựng bản sắc

4.2.1. Thương thảo: Sự đồng thuận

4.2.2. Thương thảo: Quá trình trao đổi, thảo luận và nhượng bộ

4.3. Nhiệm vụ thể hiện bản sắc văn hóa tộc người ở Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

4.4. Tính phản biện trong các hoạt động trình diễn của Bảo tàng DTHVN

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Giới Thiệu Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc Tại Bảo Tàng DTHVN

Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (DTHVN) đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của các dân tộc Việt Nam. Từ sau Đổi mới năm 1986, nhu cầu giao lưu và tìm hiểu văn hóa giữa các dân tộc ngày càng tăng cao. Bảo tàng DTHVN đã tiên phong trong việc nghiên cứu, sưu tầm, trưng bày và trình diễn văn hóa của các dân tộc, tạo cơ hội cho cộng đồng thể hiện bản sắc của mình. Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (1998) đã thông qua Nghị quyết về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất và đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Nghị quyết này trở thành kim chỉ nam cho sự phát triển văn hóa của Việt Nam, gắn liền với việc gìn giữ và phát huy nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, cũng như tiếp thu những tinh hoa tiên tiến của thời đại. Bảo tàng DTHVN đã và đang kể câu chuyện bằng cách mới, trình bày bản sắc qua văn hóa đời thường, thu hút đông đảo khách tham quan trong và ngoài nước.

1.1. Vai trò của Bảo tàng DTHVN trong bảo tồn văn hóa

Bảo tàng DTHVN không chỉ là nơi lưu giữ hiện vật mà còn là không gian sống động để trình diễn văn hóa. Các hoạt động trưng bày, trình diễn, giáo dục và truyền thông được thực hiện một cách xuyên suốt, thể hiện quan điểm tiếp cận mới trong chuyên môn bảo tàng. Phương pháp trưng bày này đã lan tỏa đến nhiều đơn vị văn hóa khác, góp phần vào việc khôi phục, gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hội nhập. Những trưng bày về văn hóa tộc người, như nhà rông Bana, nhà sàn của người Thái đen, hay các hiện vật, trình diễn mang đậm văn hóa tộc người như Ghe ngo của người Khơ me, múa rối nước của người Việt luôn thu hút khách tham quan, trải nghiệm.

1.2. Sự tham gia của cộng đồng trong hoạt động bảo tàng

Mỗi trình diễn, trưng bày là một quá trình tạo dựng, từ ý tưởng đến hiện thực hóa, từ sự chỉ đạo đến công việc của các giám tuyển, rồi đến sự tham vấn của cộng đồng và các chuyên gia. Những gì chúng ta đang trải nghiệm và hiểu về bản sắc dân tộc tại Bảo tàng là một quá trình tạo dựng, thương thảo giữa các bên tham gia, trong đó có tiếng nói quan trọng của cộng đồng, chủ thể văn hóa. Chủ đề tạo dựng bản sắc đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, tuy nhiên, nghiên cứu tạo dựng bản sắc văn hóa trong hoạt động trưng bày, trình diễn tại bảo tàng nói chung và Bảo tàng DTHVN chưa được quan tâm nhiều.

II. Thách Thức Tạo Dựng Bản Sắc Văn Hóa Tộc Người Tại Bảo Tàng

Việc tạo dựng bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh bảo tàng đặt ra nhiều thách thức. Cần phải đảm bảo tính xác thực, tránh sự sai lệch hoặc đơn giản hóa quá mức. Đồng thời, cần phải cân bằng giữa việc bảo tồn các giá trị truyền thống và đáp ứng nhu cầu của công chúng hiện đại. Quá trình này đòi hỏi sự tham gia tích cực của cộng đồng, sự hợp tác giữa các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý văn hóa và các nghệ nhân. Theo luận án, việc tạo dựng bản sắc là một quá trình phức hợp thông qua những lăng kính khác nhau, từ sự thương thảo của các bên tham gia (Nhà nước, cộng đồng, các bên liên quan) đến tính chính trị của bảo tàng. Cần tổng quan những vấn đề nghiên cứu về bản sắc văn hóa, bản sắc văn hóa tộc người và việc tạo dựng bản sắc.

2.1. Vấn đề chọn lọc trong tạo dựng bản sắc văn hóa

Việc chọn lọc các yếu tố văn hóa để trưng bày và trình diễn là một quá trình phức tạp, đòi hỏi sự cân nhắc kỹ lưỡng. Cần phải đảm bảo rằng các yếu tố được chọn lọc phản ánh đúng bản sắc văn hóa của cộng đồng, đồng thời phù hợp với mục tiêu và chức năng của bảo tàng. Sự chọn lọc này diễn ra trong bối cảnh của bảo tàng và cộng đồng, đòi hỏi sự hiểu biết sâu sắc về văn hóa và xã hội.

2.2. Thương thảo và đồng thuận trong tạo dựng bản sắc

Quá trình tạo dựng bản sắc văn hóa đòi hỏi sự thương thảo và đồng thuận giữa các bên liên quan, bao gồm bảo tàng, cộng đồng và các nhà nghiên cứu. Sự thương thảo này bao gồm việc trao đổi, thảo luận và nhượng bộ để đạt được sự đồng thuận về nội dung và hình thức trình diễn. Nhiệm vụ thể hiện bản sắc văn hóa tộc người ở Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam cần được thực hiện một cách cẩn trọng và tôn trọng.

2.3. Tính phản biện trong hoạt động trình diễn văn hóa

Các hoạt động trình diễn tại Bảo tàng DTHVN cần phải mang tính phản biện, khuyến khích công chúng suy nghĩ và đặt câu hỏi về bản sắc văn hóa. Điều này giúp tạo ra một không gian đối thoại cởi mở và thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nền văn hóa. Tính phản biện này là một yếu tố quan trọng trong việc tạo dựng một bảo tàng hiện đại và có trách nhiệm.

III. Phương Pháp Trình Diễn Bản Sắc Văn Hóa Bana Thái Kinh

Bảo tàng DTHVN đã áp dụng nhiều phương pháp khác nhau để trình diễn bản sắc văn hóa của các dân tộc, trong đó có dân tộc Bana, Thái và Kinh. Các phương pháp này bao gồm trưng bày hiện vật, tái hiện không gian sống, tổ chức các hoạt động trình diễn nghệ thuật và giới thiệu các phong tục tập quán. Mục tiêu là tạo ra một trải nghiệm sống động và hấp dẫn cho khách tham quan, giúp họ hiểu sâu sắc hơn về văn hóa của các dân tộc. Luận án sẽ phân tích các hoạt động trình diễn văn hóa ở Bảo tàng DTHVN thông qua những trường hợp nghiên cứu cụ thể về trưng bày văn hóa của dân tộc Bana, Thái và Kinh.

3.1. Trình diễn bản sắc văn hóa tộc người Bana

Việc trình diễn bản sắc văn hóa của dân tộc Bana được thực hiện thông qua trưng bày văn hóa Bana tại tòa Trống đồng và Vườn kiến trúc. Các hoạt động trình diễn của dân tộc Bana cũng được tổ chức thường xuyên, thu hút sự quan tâm của đông đảo khách tham quan. Các hoạt động này bao gồm biểu diễn cồng chiêng, hát dân ca, múa xoang và giới thiệu các nghề thủ công truyền thống.

3.2. Trình diễn bản sắc văn hóa tộc người Thái

Không gian nhà Thái đen trong tòa Trống đồng là nơi trình diễn bản sắc văn hóa đặc trưng của dân tộc Thái. Các hoạt động trình diễn của dân tộc Thái cũng được tổ chức thường xuyên, bao gồm biểu diễn xòe Thái, hát khắp và giới thiệu các phong tục tập quán truyền thống. Các hoạt động này giúp khách tham quan hiểu rõ hơn về đời sống văn hóa của người Thái.

3.3. Trình diễn bản sắc văn hóa tộc người Kinh

Việc trình diễn bản sắc văn hóa của dân tộc Kinh được thực hiện thông qua trưng bày văn hoá của dân tộc Kinh trong toà Trống đồng và không gian văn hóa của dân tộc Kinh tại Vườn kiến trúc. Các hoạt động trình diễn của dân tộc Kinh cũng được tổ chức thường xuyên, bao gồm múa rối nước, hát chèo và giới thiệu các nghề thủ công truyền thống. Các hoạt động này giúp khách tham quan hiểu rõ hơn về lịch sử và văn hóa của dân tộc Kinh.

IV. Ứng Dụng Hoạt Động Trình Diễn Và Tính Chính Trị Của Bản Sắc

Hoạt động trình diễn tại Bảo tàng DTHVN không chỉ là một hoạt động văn hóa mà còn mang tính chính trị. Việc lựa chọn các yếu tố văn hóa để trình diễn, cách thức trình diễn và thông điệp được truyền tải đều phản ánh quan điểm và mục tiêu của bảo tàng, cũng như của Nhà nước. Đồng thời, hoạt động trình diễn cũng là một diễn đàn để các cộng đồng dân tộc thể hiện tiếng nói của mình và khẳng định bản sắc văn hóa của mình. Luận án làm rõ quá trình xây dựng các trưng bày, trình diễn, tái hiện văn hoá của các dân tộc thể hiện những nhiệm vụ và tính chính trị của bảo tàng cùng với những thương thảo và sự phản biện xã hội.

4.1. Nhiệm vụ thể hiện bản sắc văn hóa tộc người

Bảo tàng DTHVN có nhiệm vụ thể hiện bản sắc văn hóa tộc người một cách trung thực và khách quan. Tuy nhiên, việc thể hiện bản sắc văn hóa không phải là một quá trình đơn giản, mà đòi hỏi sự cân nhắc kỹ lưỡng và sự tham gia của nhiều bên liên quan. Bảo tàng cần phải đảm bảo rằng các yếu tố văn hóa được trình diễn phản ánh đúng giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng, đồng thời phù hợp với mục tiêu giáo dục và quảng bá văn hóa.

4.2. Tính chính trị trong hoạt động trình diễn văn hóa

Hoạt động trình diễn văn hóa tại Bảo tàng DTHVN mang tính chính trị, phản ánh quan điểm và mục tiêu của Nhà nước trong việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, tính chính trị này không nên làm mất đi tính khách quan và trung thực của việc trình diễn văn hóa. Bảo tàng cần phải tạo ra một không gian đối thoại cởi mở và khuyến khích sự tham gia của các cộng đồng dân tộc trong quá trình tạo dựng bản sắc.

4.3. Thương thảo và phản biện xã hội trong tạo dựng bản sắc

Quá trình tạo dựng bản sắc văn hóa tại Bảo tàng DTHVN đòi hỏi sự thương thảo và phản biện xã hội. Bảo tàng cần phải lắng nghe ý kiến của các cộng đồng dân tộc, các nhà nghiên cứu và công chúng để đảm bảo rằng các hoạt động trình diễn văn hóa phản ánh đúng giá trị văn hóa và đáp ứng nhu cầu của xã hội. Sự thương thảo và phản biện xã hội là một yếu tố quan trọng trong việc tạo dựng một bảo tàng hiện đại và có trách nhiệm.

V. Kết Luận Tương Lai Của Bản Sắc Văn Hóa Tại Bảo Tàng DTHVN

Bảo tàng DTHVN tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của các dân tộc Việt Nam. Trong tương lai, bảo tàng cần tiếp tục đổi mới phương pháp trình diễn, tăng cường sự tham gia của cộng đồng và tạo ra một không gian đối thoại cởi mở để bản sắc văn hóa được thể hiện một cách trung thực và sống động. Luận án nghiên cứu về vấn đề tạo dựng bản sắc văn hóa tộc người trong một bảo tàng vừa mới hình thành sau Đổi mới qua hoạt động trình diễn từ cách tiếp cận quan điểm tạo dựng bản sắc và tính chính trị của Bảo tàng.

5.1. Đổi mới phương pháp trình diễn văn hóa

Bảo tàng DTHVN cần tiếp tục đổi mới phương pháp trình diễn văn hóa để thu hút sự quan tâm của công chúng, đặc biệt là giới trẻ. Các phương pháp trình diễn mới có thể bao gồm sử dụng công nghệ thông tin, tổ chức các hoạt động tương tác và tạo ra các trải nghiệm sống động. Điều này giúp bản sắc văn hóa được truyền tải một cách hiệu quả và hấp dẫn.

5.2. Tăng cường sự tham gia của cộng đồng

Sự tham gia của cộng đồng là yếu tố then chốt trong việc tạo dựng bản sắc văn hóa tại Bảo tàng DTHVN. Bảo tàng cần tạo điều kiện cho các cộng đồng dân tộc tham gia vào quá trình lựa chọn nội dung, hình thức trình diễn và đánh giá hiệu quả của các hoạt động. Điều này giúp đảm bảo rằng các hoạt động trình diễn văn hóa phản ánh đúng giá trị văn hóa và đáp ứng nhu cầu của cộng đồng.

06/06/2025
Bản sắc văn hóa tộc người qua hoạt động trình diễn ở bảo tàng dân tộc học việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề xác định tên gọi các tộc người để lập danh mục mới, cần phải hết sức coi trọng mặt ngôn ngữ học, phải phân tích xem bản thân các tên ấy có phản ánh đặc trưng ngôn ngữ hay đặc trưng lịch sử xã hội hay không? [96, tr. Cuối cùng, với các ý kiến khá đồng thuận của các nhà khoa học, ở Việt Nam khi đó có 59 dân tộc được xác định trong "Các dân tộc ít người ở Việt Nam, các tỉnh phía Bắc" [89]. Chính phủ đã ủy nhiệm cho Tổng cục Thống kê ban hành "Danh mục thành phần các dân tộc Việt Nam" theo Quyết định 121-TCTK/PPCĐ ngày 2-3-1979, trong đó có 53 dân tộc thiểu số và 1 dân tộc đa số. Trong bài viết “Khái niệm tộc người” in trong sách Nhân học: Ngành khoa học về con người do Nguyễn Văn Sửu (chủ biên) hai tác giả Vương Xuân Tình và Vũ Đình Mười cho rằng các nhà dân tộc học Việt Nam nỗ lực làm rõ khái niệm tộc người, từ đó xác định tộc người là đối tượng nghiên cứu của dân tộc học, với mục đích ứng dụng rất rõ là nhằm phục vụ chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước.

Các nhà dân tộc học bắt đầu thực hiện những nghiên cứu liên quan từ cuối thập niên 1950, và triển khai mạnh mẽ trong những thập niên 1960-1970. Kết quả là đến năm 1979, Chính phủ công bố có 54 tộc người ở Việt Nam. Trong những năm 2001 đến năm 2013, việc xác định lại thành phần tộc người đối với một số tộc người hay các nhóm trong một tộc người được thực hiện xuất phát từ nguyện vọng của một số người dân và nhà dân tộc học. Trong hai lần xác định lại thành phần tộc người do Viện Dân tộc học và Ủy ban Dân tộc thực hiện, các nhà dân tộc học và cán bộ quản lý Nhà nước đều áp dụng ba tiêu chí là có chung ngôn ngữ, các đặc điểm văn hóa, và ý thức tự giác tộc người (ý thức mình thuộc về một tộc người nào đó), như đã được sử dụng trong lần xác định trước.

Vì thế, dù qua hai lần xác định lại thành phần tộc người, đến nay Việt Nam vẫn giữ nguyên danh mục 54 tộc người ở Việt Nam được công bố từ năm 1979 [104]. Tài liệu nghiên cứu, các văn bản chính sách và trong tài liệu truyền thông về 54 tộc người ở Việt Nam thường phân chia thành tộc người đa số và tộc người thiểu số, trong đó người Kinh (Việt) là dân tộc đa số chiếm 85,3% tổng 12 dân số cả nước (năm 2019). Toàn bộ 53 tộc người còn lại được gọi là các dân tộc thiểu số, chiếm 14,7 % dân số cả nước (năm 2019). Trong số 53 dân tộc thiểu số, có 16 dân tộc thiểu số rất ít người (dưới 10.2 Việc phân loại và nhận diện một tộc người ở Việt Nam còn là một nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng, vấn đề chiến lược trong giai đoạn cách mạng hiện nay đối với công tác dân tộc.

Do vậy, tại Chương trình hành động thực hiện Chiến lược công tác dân tộc đến năm 2020, Thủ tướng Chính phủ đã giao cho Ủy ban Dân tộc chủ trì, phối hợp với Viện Hàn lâm Khoa học xã hội và các bộ, ngành, thực hiện Đề án "Xác định thành phần, tên gọi một số dân tộc và xây dựng Bảng danh mục thành phần các dân tộc thiểu số Việt Nam". Một trong những nhà khoa học uy tín trên thế giới nghiên cứu về văn hóa các dân tộc ở châu Á là tác giả Charles Keyes. Trong bài viết “Tiến tới việc hình thành một quan niệm mới về nhóm tộc người”, Charles Keyes quan niệm: “Ba yếu tố khác được trao khi sinh là đặc điểm sinh học, nơi sinh, và nguồn gốc làm thành cơ sở cho việc phân biệt giữa các nhóm xã hội. Trong đó, nguồn gốc tỏ ra là quan trọng hơn cả khi mà trong nhiều trường hợp người ta không tính toán tới các đặc điểm sinh học và nơi sinh trùng hợp với nguồn gốc” [27, tr.

Theo tác giả, không có các thuộc tính văn hóa nào là phổ biến để phân biệt một nhóm tộc người này với nhóm các tộc người khác. Quan điểm của nhà khoa học đã phát triển một công thức mới về khái niệm tộc người có một đặc tính “bẩm sinh” đó là nguồn gốc được trao khi sinh. Trong năm 2014 - 2015, Ủy ban Dân tộc đã chủ trì tổ chức nhiều cuộc hội thảo bàn về vấn đề này với sự tham gia của nhiều nhà khoa học, nhà quản lý ở các cơ quan, bộ, ban, ngành về sự cần thiết của việc xây dựng và ban hành tiêu chí xác định thành phần dân tộc ở nước ta hiện nay. Tiêu chí xác định thành phần dân tộc là sự thể chế hóa Điều 42, Hiến pháp 2013 và là cơ sở khoa học và pháp lý củng cố khối đại đoàn kết các dân tộc anh em trong sự nghiệp xây 2 Các tộc người gồm có: Ơ-đu, Pu Péo, Si La, Rơ-măm, Brâu, Cống, Bố Y, Mảng, Cơ Lao, La Hủ, La Ha, Pà Thẻn, Lự, Phù Lá, Chứt, và Lô Lô.

13 dựng và bảo vệ Việt Nam giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Các tiêu chí để xác định thành phần dân tộc đã được kết luận, gồm: Có chung ý thức tự giác dân tộc; có chung ngôn ngữ; có chung những đặc điểm mang tính bản sắc văn hóa dân tộc. Theo tác giả Lê Xuân Trình, xác định thành phần các dân tộc phải đảm bảo yêu cầu ổn định chính trị, đoàn kết giữa các dân tộc, đúng pháp luật; đồng thời phải xem xét đến tình hình đặc điểm ở từng vùng dân tộc thiểu số trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể để áp dụng chủ trương, biện pháp cho phù hợp. [114] Tuy vậy, công tác xác định thành phần dân tộc nói chung, nhất là việc vận dụng các tiêu chí vào công việc này nói riêng còn bộc lộ những hạn chế, chủ yếu là các tiêu chí được đưa ra rất khó xác định, trong một số trường hợp không xác định được.

Từ những hạn chế đó, quá trình xác định thành phần dân tộc đã để lại nhiều thiếu sót, hậu quả là trong đời sống tư pháp ở cơ sở, đồng bào dân tộc thiểu số ở nhiều địa phương gặp rất nhiều khó khăn trong kê khai hộ tịch hộ khẩu, trong việc tiếp cận các chính sách, các dịch vụ hỗ trợ của Nhà nước.3 Các trưng bày, trình diễn của Bảo tàng DTHVN ảnh hưởng theo cách phân loại tộc người của các nhà dân tộc học ở Việt Nam. Bảo tàng chọn cách thể hiện trưng bày về văn hóa của các dân tộc theo nhóm ngôn ngữ và theo vùng miền. Bảo tàng trưng bày theo quan niệm này đã tạo dựng cho mỗi nhóm dân tộc một bản sắc. Những bản sắc văn hóa được tạo dựng này là một quá trình thực hiện nhiệm vụ của Bảo tàng và sự đóng góp, thương thảo của nhiều bên tham gia.

Quá trình tạo dựng bản sắc văn hóa được thể hiện theo nhóm dân tộc, nhóm ngôn ngữ cũng như theo từng tộc người trong không gian của Bảo tàng. Nghiên cứu về bản sắc và bản sắc văn hóa tộc người Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, vấn đề gìn giữ bản sắc văn hóa tộc người được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm, thể hiện nhất quán trong các 3 https://www.vn/xac-dinh-toc-danh-va-thanh-phan-cac-dan-toc-la-viec-lam-cap-thiet- doi-voi-cong-tac-dan-toc-post86469. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2022. 14 chủ trương, chính sách, mang tính chất chỉ đạo, định hướng quan trọng trong lĩnh vực văn hóa.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI năm 1986 nêu rõ: mở cửa, hội nhập và văn hoá cũng là bộ phận quan trọng trong quá trình đổi mới. Tuy nhiên, sự mở cửa và hội nhập nhanh chóng của Việt Nam vào dòng chảy của văn hoá và kinh tế thế giới tạo ra nỗi lo cho các nhà nghiên cứu và quản lý văn hoá về sự mất bản sắc. Khẩu hiệu “hoà nhập, không hoà tan” trở thành định hướng trọng tâm cho sự nghiệp phát triển văn hoá dân tộc. Nghị quyết hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương (7/1998) khẳng định “Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, thể hiện tầm nhìn chiến lược và tư duy cách mạng của Đảng trong thời kỳ đổi mới với việc đánh giá cao vai trò, sứ mệnh cao cả của văn hóa đối với sự phát triển kinh tế - chính trị - xã hội.

Quan điểm này đã được Đại hội XII tiếp tục khẳng định, với phương hướng phát triển văn hóa là “Xây dựng, phát triển văn hóa, con người”. Đây được xem là chủ trương phù hợp và đúng đắn cả về lý luận và thực tiễn của Đảng bởi vì con người vừa là chủ thể sáng tạo ra văn hóa, đồng thời là sản phẩm của chính nền văn hóa do mình sáng tạo ra; con người là trung tâm của chiến lược phát triển, nói đến văn hóa là nói đến con người, vì văn hóa là của con người, do con người, vì con người. Việc xây dựng, phát triển văn hóa không thể tách khỏi xây dựng, phát triển con người. Đảng ta khẳng định và nhấn mạnh vấn đề trọng tâm, cốt lõi của xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là xây dựng con người với nhân cách và lối sống tốt đẹp.

Cốt lõi của nền văn hóa tiên tiến là “lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội theo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm mục tiêu tất cả vì con người, vì hạnh phúc và sự phát triển phong phú, tự do, toàn diện của con người trong mối quan hệ hài hòa giữa cá nhân và cộng đồng, giữa xã hội và tự nhiên”, tiên tiến không chỉ ở nội dung tư tưởng mà còn tiên tiến trong cả hình thức biểu hiện, trong các phương tiện chuyển tải nội dung. Bản sắc văn hóa Việt Nam là những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. 15 Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc, lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động, sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống… đậm nét trong các hình thức biểu hiện mang tính dân tộc.4 Thời điểm từ Đổi mới, vấn đề bản sắc văn hoá trở thành một chủ đề thảo luận trên nhiều diễn đàn của cả các nhà quản lý cũng như các nhà thực hành văn hoá.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Bản Sắc Văn Hóa Tộc Người Qua Hoạt Động Trình Diễn Tại Bảo Tàng Dân Tộc Học Việt Nam" khám phá sự đa dạng và phong phú của văn hóa các tộc người Việt Nam thông qua các hoạt động trình diễn tại bảo tàng. Bài viết nhấn mạnh vai trò của các hoạt động này trong việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa, đồng thời tạo cơ hội cho du khách hiểu rõ hơn về truyền thống và phong tục tập quán của các dân tộc. Độc giả sẽ nhận thấy rằng việc tham gia vào các hoạt động này không chỉ giúp họ trải nghiệm văn hóa một cách sống động mà còn góp phần vào việc gìn giữ di sản văn hóa của đất nước.

Để mở rộng thêm kiến thức về văn hóa và lịch sử, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Khóa luận tốt nghiệp bước đầu tìm hiểu giá trị lịch sử văn hóa của văn miếu mao điền cẩm giàng hải dương, nơi khám phá giá trị văn hóa của một di tích lịch sử quan trọng. Ngoài ra, tài liệu Luận án tiến sĩ biến đổi văn hóa làng ở bắc ninh hiện nay sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự thay đổi trong văn hóa làng quê. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ tôn giáo học vai trò lễ hội đền đô đối với đời sống của người dân từ sơn tỉnh bắc ninh hiện nay, để thấy được tầm quan trọng của lễ hội trong đời sống văn hóa của người dân. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về văn hóa và di sản của các tộc người Việt Nam.