Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học (mã số: 9 22 90 40) của nghiên cứu sinh An Thu Trà, thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Lê Hồng Lý (Hà Nội, 2023), mang tên: "Bản sắc văn hóa tộc người qua hoạt động trình diễn ở Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam".
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Sau dấu mốc Đổi mới năm 1986, bối cảnh mở cửa hội nhập quốc tế đặt ra yêu cầu bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc. Định hướng này được thể chế hóa qua các văn kiện: Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII (1993), Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (1998) về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, và tiếp tục được khẳng định tại Nghị quyết số 33-NQ/TW Hội nghị Trung ương 9 khóa XI (2014). Trong quá trình này, ngành Dân tộc học ở Việt Nam từng bước chuyển đổi sang cách tiếp cận Nhân học, chú trọng tiếng nói của chủ thể văn hóa.
Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (thành lập cuối thập niên 1990) đã triển khai phương thức trưng bày có sự tham gia của cộng đồng và tổ chức trình diễn văn hóa đời thường. Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây chủ yếu nhìn nhận bản sắc từ góc độ tĩnh tại, xem bảo tàng là cơ quan bảo tồn đơn thuần, hoặc tiếp cận từ góc độ du lịch, văn hóa dân gian. Khoảng trống nghiên cứu mà luận án tập trung giải quyết là phân tích quá trình tạo dựng bản sắc văn hóa tộc người thông qua hoạt động trình diễn và trưng bày tại bảo tàng dưới lăng kính cấu trúc quyền lực, tính chính trị và sự thương thảo giữa các bên liên quan.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Luận án nghiên cứu các hoạt động trình diễn ở Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam nhằm chỉ rõ việc tạo dựng bản sắc tộc người là một quá trình phức hợp thông qua những lăng kính khác nhau, từ sự thương thảo của các bên tham gia (Nhà nước, cộng đồng, các bên liên quan) đến tính chính trị của bảo tàng.
- Nhiệm vụ nghiên cứu (7 nhiệm vụ):
- Tổng quan những vấn đề nghiên cứu về bản sắc văn hóa, bản sắc văn hóa tộc người và việc tạo dựng bản sắc.
- Đưa ra các quan điểm học thuật mang tính lý luận về bản sắc, tính chính trị của bản sắc, và quá trình thương thảo giữa các bên liên quan.
- Phân tích quá trình hình thành và phát triển của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam từ chủ trương xây dựng, không gian trưng bày, hoạt động trình diễn, việc tiếp thu kinh nghiệm quốc tế đến phương pháp tiếp cận cộng đồng.
- Phân tích các hoạt động trình diễn văn hóa ở Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam qua các trường hợp nghiên cứu cụ thể về văn hóa của dân tộc Bana, Thái và Kinh.
- Mô tả, nhận diện các hoạt động trình diễn văn hóa của các tộc người Bana, Thái và Kinh tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam từ khi thành lập đến nay.
- Luận giải về quá trình tạo dựng bản sắc ở Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam qua quá trình chọn lọc, thương thảo, tạo ra ý nghĩa và giải nghĩa của việc tái hiện văn hóa.
- Làm rõ quá trình xây dựng trưng bày, trình diễn thể hiện nhiệm vụ và tính chính trị của bảo tàng cùng với sự thương thảo và phản biện xã hội.
Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
- Câu hỏi nghiên cứu:
- Trong quá trình hình thành, phát triển Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, những quan niệm, cách tiếp cận thể hiện bản sắc văn hóa tộc người diễn ra như thế nào?
- Các trình diễn văn hóa ở Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam trải qua những quá trình gì giữa Bảo tàng, cộng đồng và các bên tham gia?
- Việc tạo dựng bản sắc và tái hiện văn hóa của các dân tộc thể hiện nhiệm vụ, tính chính trị của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam như thế nào?
- Giả thuyết nghiên cứu: Hoạt động trình diễn tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam không đơn thuần chỉ là cách trưng bày văn hóa của các dân tộc nhằm thu hút khách tham quan, mà là một quá trình phức hợp, vừa là sự thương thảo, vừa mang tính chính trị, sự nhượng bộ giữa các bên tham gia và sự phản biện xã hội.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các hoạt động trình diễn của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam xoay quanh bối cảnh, quan điểm, phương pháp và sự thương thảo trong việc lựa chọn loại hình, nội dung trình diễn; cụ thể hóa qua ba trường hợp tộc người: Bana, Thái, Kinh.
- Phạm vi không gian: Điền dã thu thập tư liệu tại các địa phương nơi ba dân tộc sinh sống (Sơn La, Kon Tum, Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Bình, Hà Nội) và khảo sát tại các không gian của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (tòa Trống đồng, Vườn kiến trúc).
- Phạm vi thời gian: Khảo sát các hoạt động từ năm 1997 (thời điểm Bảo tàng khánh thành) đến năm 2023.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tổng thuật ba nhóm công trình nghiên cứu chính trong và ngoài nước:
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
[Vấn đề Tộc người & Phân loại] [Bản sắc & Tạo dựng Bản sắc] [Vai trò của Bảo tàng]
- Lã Văn Lô et al. (1959) - Bản sắc cố định: - Quốc tế:
- Viện Dân tộc học (1973) Barker, Phan Ngọc, Hồ Bá Namda (Nam Phi), Adams
- Bế Viết Đẳng, Hoàng Hoa Toàn Thâm, Trần Ngọc Thêm (Indonesia), Luke, Denton,
- Bùi Khánh Thế, Triệu Hữu Lý - Bản sắc kiến tạo/biến đổi: Gray, Anderson, Clifford
- QĐ 121-TCTK/PPCĐ (1979) Stuart Hall, Đỗ Huy & Trường - Việt Nam:
- Vương Xuân Tình & Vũ Đình Lưu, Đoàn Thị Tuyến, Nguyễn Bodemer, Nguyễn Văn Huy,
Mười, Charles Keyes Văn Chính, Ngô Đức Thịnh Đàm Thị Hợp, Lê Tùng Lâm,
Phùng Mai Anh, Phạm Lan Hương
1. Vấn đề tộc người và phân loại tộc người ở Việt Nam
Tác giả điểm lại tiến trình xác định thành phần tộc người từ công trình của Lã Văn Lô, Nguyễn Hữu Thấu, Mạc Đường (1959) ghi nhận 64 dân tộc; các hội thảo năm 1973 của Viện Dân tộc học xác lập 3 tiêu chí (ngôn ngữ, đặc trưng văn hóa, ý thức tự giác dân tộc) với các thảo luận của Bế Viết Đẳng, Nguyễn Dương Bình, Hoàng Hoa Toàn, Lâm Thanh Tòng, Hoàng Thị Châu, Nguyễn Linh, Triệu Hữu Lý, Bùi Khánh Thế. Tiến trình này dẫn đến Quyết định 121-TCTK/PPCĐ (1979) công nhận danh mục 54 dân tộc (gồm 1 dân tộc đa số và 53 dân tộc thiểu số).
Các nghiên cứu giai đoạn sau của Vương Xuân Tình và Vũ Đình Mười (2001–2013) giải thích lý do duy trì danh mục 54 tộc người; Charles Keyes nhấn mạnh nguồn gốc quy gán bẩm sinh; Lê Xuân Trình (2014–2015) nêu các khó khăn thực tiễn trong áp dụng tiêu chí xác định thành phần dân tộc.
2. Nghiên cứu về bản sắc và bản sắc văn hóa tộc người
Luận án phân loại hai khuynh hướng lý thuyết chính:
- Khuynh hướng thực chất luận/cố định: Xem bản sắc là cái bất biến, có sẵn, hình thành trong lịch sử và gắn liền với cội rễ (Barker, Phan Ngọc, Hồ Bá Thâm, Trần Ngọc Thêm).
- Khuynh hướng kiến tạo luận/biến đổi: Xem bản sắc là quá trình tạo dựng mang tính xã hội, biến đổi theo bối cảnh, diễn ngôn và sự thương thảo (Đỗ Huy và Trường Lưu, Stuart Hall, Đoàn Thị Tuyến, Jonathan Friedman, Berry, Nguyễn Văn Chính, Ngô Đức Thịnh, Lê Như Hoa, Nguyễn Chí Bền, Nguyễn Thụy Loan, Trần Bảo Lân, Nguyễn Thu Hằng).
3. Nghiên cứu về vai trò của bảo tàng trong tạo dựng bản sắc
- Nghiên cứu quốc tế: Serena Namda (Nam Phi) phân tích bảo tàng kiến tạo câu chuyện vượt qua quá khứ apartheid; Kathleen M. Adams (Indonesia) nghiên cứu sự đối lập giữa bản sắc quốc gia thống nhất và bản sắc địa phương tại Alor; Timothy W. Luke, Kirk Denton, Clive Gray xem bảo tàng là thiết chế quyền lực thể hiện tư tưởng chính trị; Benedict Anderson phân tích bảo tàng trong việc định hình "cộng đồng tưởng tượng"; James Clifford xem bảo tàng chuyển từ "thuộc địa" sang "hợp tác xã"; Henrietta Riegel, Dicks Bella, Guillermo Gomez-Pena nghiên cứu sự tương tác giữa khách tham quan và diễn giải bản sắc.
- Nghiên cứu tại Việt Nam: Margaret Barnhill Bodemer khảo sát mối quan hệ giữa bảo tàng, dân tộc học và chính trị văn hóa; Nguyễn Văn Huy khẳng định vai trò của trình diễn văn hóa đời thường giúp người dân tự khẳng định bản sắc; Đàm Thị Hợp khảo sát không gian nhà dài Êđê; Lê Tùng Lâm nghiên cứu trình diễn di sản văn hóa phi vật thể; Phùng Mai Anh nghiên cứu trình diễn trong Tết Nguyên đán; Phạm Lan Hương nghiên cứu đời sống dân gian tại Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Luận án đi sâu vào cơ chế vận hành nội tại của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam: phân tích quá trình chọn lọc, thương thảo (sự đồng thuận, thảo luận, nhượng bộ) giữa bảo tàng, chính quyền và cộng đồng chủ thể; đồng thời làm rõ tính chính trị của sự tái hiện và chức năng phản biện xã hội trong hoạt động trình diễn bảo tàng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm công cụ
Luận án sử dụng cách tiếp cận chuyên ngành Văn hóa học kết hợp liên ngành Nhân học/Dân tộc học và Bảo tàng học, vận dụng các khái niệm công cụ:
- Bản sắc (Identity): Nhận thức về bản thân (self-concept, self-identity), tập hợp các niềm tin xác định một cá nhân hoặc nhóm xã hội trong mối quan hệ với tha nhân (Rummen, Jenkins).
- Bản sắc văn hóa (Cultural identity): Hệ thống các đặc trưng và phẩm chất văn hóa được tạo dựng thông qua trải nghiệm lịch sử, xã hội của nhóm; mang tính diễn ngôn và biến đổi theo bối cảnh (Stuart Hall, Friedman, Berry, Đoàn Thị Tuyến).
- Bản sắc tộc người (Ethnic identity): Biểu đạt qua các thành tố cụ thể như trang phục, nhà ở, ngôn ngữ, quan hệ thân tộc, nghi lễ và tri thức dân gian đặc trưng.
- Tạo dựng bản sắc (Construction of identity): Bản sắc không bất biến mà được sản sinh, tái tạo có chủ đích qua các biểu đạt và quan hệ quyền lực (Nguyễn Văn Chính, Stuart Hall).
- Trình diễn (Performance): Định nghĩa theo nghĩa rộng, bao gồm biểu diễn nghệ thuật dân gian (cồng chiêng, múa rối nước, dân ca), thao tác nghề thủ công, nghi lễ, trò chơi dân gian và cả hoạt động trưng bày hiện vật/không gian kiến trúc trước công chúng.
- Tái hiện (Representation): Quá trình sản sinh ý nghĩa văn hóa thông qua phương tiện ngôn ngữ, hiện vật, hình ảnh và không gian vật lý; mang tính chọn lọc và có thẩm quyền định nghĩa (Stuart Hall, Carol Duncan).
- Tính chính trị của bảo tàng (Museum politics): Bảo tàng là thiết chế gắn liền với bộ máy chính trị của Nhà nước, thực hiện nhiệm vụ biểu đạt khối đại đoàn kết dân tộc, đồng thời là không gian thương thảo quyền lực (Timothy W. Luke, Clive Gray, James Clifford).
Phương pháp nghiên cứu
Luận án là công trình nghiên cứu định tính, kết hợp các phương pháp:
| Phương pháp |
Kỹ thuật và công cụ thu thập dữ liệu |
Đối tượng / Nguồn tư liệu |
| Phương pháp điền dã dân tộc học |
- Quan sát tham dự và không tham dự - Phỏng vấn sâu cá nhân và phỏng vấn nhóm - Phỏng vấn hồi cố, phỏng vấn qua điện thoại - Ghi chép, ghi âm, chụp ảnh, quay phim |
- Cán bộ quản lý, giám tuyển Bảo tàng DTHVN - Quản lý văn hóa địa phương (Sở VHTTDL, Phòng VHTT, UBND xã) - Chủ thể văn hóa (già làng, nghệ nhân, người thực hành văn hóa) - Khách tham quan bảo tàng |
| Phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu |
- Tổng thuật tài liệu học thuật - Phân tích văn bản chính sách, nghị quyết - Rà soát hồ sơ lưu trữ trưng bày, báo cáo hoạt động |
- Thư viện Quốc gia, Thư viện Viện Nghiên cứu Văn hóa, Thư viện Học viện KHXH, Thư viện Viện Dân tộc học, Thư viện Bảo tàng DTHVN - Văn kiện Đại hội Đảng (VI đến XIII), NQ TW 5 khóa VIII, NQ 33-NQ/TW |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận
Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu về phân loại tộc người, bản sắc văn hóa và vai trò của bảo tàng ở Việt Nam và thế giới. Tác giả xây dựng khung lý thuyết dựa trên các khái niệm công cụ: bản sắc, bản sắc văn hóa, bản sắc tộc người, tạo dựng bản sắc, trình diễn, tái hiện, tính chính trị của bảo tàng và sự thương thảo. Luận điểm trọng tâm của chương là xác lập cơ sở lý luận khẳng định bản sắc văn hóa tộc người trong bảo tàng là một cấu trúc được tạo dựng thông qua diễn ngôn, sự tương tác và quan hệ quyền lực, chứ không phải một thực thể tự nhiên bất biến.
Chương 2: Sự hình thành và phát triển Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam và tổ chức hoạt động trình diễn văn hóa tộc người
Chương 2 phục dựng tiến trình lịch sử và phương thức hoạt động của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam:
- Chủ trương và quá trình xây dựng: Năm 1981, Nhà nước có chủ trương xây dựng bảo tàng từ phòng nghiệp vụ của Viện Dân tộc học. Ngày 14/12/1987, Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải phê duyệt luận chứng kinh tế kỹ thuật. Quá trình giao đất tại xã Dịch Vọng (Cầu Giấy, Hà Nội) gồm các giai đoạn: cấp 2.500 m² (năm 1987), giao 3,27 ha (năm 1990), nâng tổng diện tích lên 4,4 ha.
- Không gian trưng bày: Tổ chức thành các phân khu chính gồm tòa Trống đồng (trưng bày trong nhà theo nhóm ngôn ngữ và vùng địa lý) và Vườn kiến trúc (trưng bày ngoài trời các công trình kiến trúc dân gian).
- Quan niệm và tổ chức trình diễn: Tiếp thu kinh nghiệm quốc tế, Bảo tàng xác định tôn chỉ trưng bày hướng đến văn hóa đời thường, gắn liền với bối cảnh sống thực tế và huy động sự tham gia trực tiếp của chính chủ thể văn hóa vào quá trình xây dựng, bảo dưỡng và trình diễn.
Chương 3: Hoạt động trình diễn bản sắc văn hóa tộc người Bana, Thái, Kinh ở Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam
Chương 3 khảo sát thực nghiệm ba trường hợp đại diện cho sự đa dạng vùng miền và loại hình văn hóa:
3 TRƯỜNG HỢP KHẢO SÁT THỰC NGHIỆM
[DÂN TỘC BANA] [DÂN TỘC THÁI] [DÂN TỘC KINH]
- Tòa Trống đồng: Hiện vật - Tòa Trống đồng: Tái hiện - Tòa Trống đồng: Nông cụ,
đời sống Tây Nguyên không gian nhà Thái đen nghề truyền thống
- Vườn kiến trúc: Nhà rông - Vườn kiến trúc: Nhà sàn Thái - Vườn kiến trúc: Nhà Việt,
dựng bởi nghệ nhân Kon Tum - Trình diễn: Nghệ thuật xòe, thủy đình múa rối nước
- Trình diễn: Cồng chiêng, dệt thổ cẩm, ẩm thực và - Trình diễn: Múa rối nước,
đan lát, chỉnh chiêng nghi lễ Then nghề dân gian, hội Tết
- Trình diễn bản sắc văn hóa tộc người Bana: Trưng bày hiện vật sinh hoạt tại tòa Trống đồng; phục dựng nhà rông Bana tại Vườn kiến trúc do chính các nghệ nhân dân gian từ Kon Tum ra thi công; tổ chức các đợt trình diễn không gian văn hóa cồng chiêng, kỹ thuật chỉnh chiêng, đan lát thủ công.
- Trình diễn bản sắc văn hóa tộc người Thái: Tái hiện không gian nội thất nhà người Thái đen trong tòa Trống đồng và nhà sàn Thái ngoài trời; tổ chức trình diễn nghệ thuật xòe Thái, kỹ thuật dệt thổ cẩm, ẩm thực dân tộc và các thực hành gắn với nghi lễ Then.
- Trình diễn bản sắc văn hóa tộc người Kinh: Trưng bày nông cụ, đồ gia dụng truyền thống trong tòa Trống đồng; phục dựng nhà trần truyền thống vùng đồng bằng Bắc Bộ và công trình thủy đình tại Vườn kiến trúc; tổ chức các chương trình biểu diễn phường rối nước dân gian, trình diễn nghề làm tranh dân gian, đan lát, đồ gốm và các sinh hoạt văn hóa dịp Tết Nguyên đán.
Chương 4: Hoạt động trình diễn tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam và tính chính trị của tạo dựng bản sắc
Chương 4 phân tích cơ chế tạo dựng bản sắc thông qua hai phương diện:
- Vấn đề chọn lọc: Bản sắc được chọn lọc từ bối cảnh bảo tàng (định hướng chính trị, diện tích, quy chuẩn an toàn, thẩm mỹ trưng bày) và từ bối cảnh cộng đồng (nhu cầu tự khẳng định, tâm lý muốn giới thiệu nét văn hóa tiến bộ, gạt bỏ yếu tố bị xem là lạc hậu).
- Vấn đề thương thảo: Quá trình trao đổi, thảo luận, tìm kiếm sự đồng thuận hoặc nhượng bộ giữa ba bên: Ban lãnh đạo/giám tuyển bảo tàng, chính quyền địa phương và các nghệ nhân/chủ thể di sản (ví dụ: kích thước vật liệu khi dựng nhà rông, cách thức thực hành nghi lễ trong không gian bảo tàng).
- Tính chính trị và phản biện xã hội: Bảo tàng vừa thực hiện nhiệm vụ chính trị của Nhà nước (xây dựng khối đại đoàn kết 54 dân tộc, tôn vinh tính thống nhất trong đa dạng), vừa đóng vai trò diễn đàn phản biện xã hội, bảo vệ quyền văn hóa và trao quyền phát ngôn cho cộng đồng chủ thể.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Luận án chứng minh bản sắc văn hóa tộc người không phải là một tập hợp các thuộc tính cố định, bất biến, mà là một cấu trúc được tạo dựng, biến đổi và định hình thông qua các diễn ngôn và quá trình tương tác xã hội.
- Bổ sung lăng kính tiếp cận về tính chính trị của bảo tàng và lý thuyết thương thảo vào nghiên cứu văn hóa tại Việt Nam; xác định bảo tàng không chỉ là nơi lưu trữ hiện vật mà là một "không gian tiếp xúc" (contact zone) diễn ra sự đàm phán, nhượng bộ và đồng thuận giữa Nhà nước, cơ quan chuyên môn và cộng đồng.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Cung cấp hệ thống tư liệu điền dã thực chứng về các hoạt động trưng bày và trình diễn của ba dân tộc Bana, Thái, Kinh tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam trong giai đoạn 1997–2023.
- Làm rõ mô hình bảo tàng có sự tham gia của cộng đồng: chỉ ra phương thức phối hợp giữa chuyên gia bảo tàng với nghệ nhân địa phương trong việc tái dựng không gian kiến trúc và trình diễn di sản phi vật thể.
Khuyến nghị và giải pháp đề xuất
- Đề xuất các bảo tàng dân tộc học và bảo tàng tổng hợp đổi mới phương pháp trưng bày, chuyển từ giới thiệu bộ sưu tập hiện vật tĩnh sang không gian trình diễn sống động có sự tham gia của chủ thể văn hóa.
- Xây dựng quy trình thương thảo minh bạch, tôn trọng quyền tự quyết và tiếng nói của người dân địa phương trong việc lựa chọn thành tố văn hóa đem ra tái hiện.
- Tư vấn chính sách cho các cơ quan quản lý văn hóa trong việc triển khai chủ trương bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc gắn với quyền văn hóa của các cộng đồng thiểu số.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát chuyên sâu tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam và ba trường hợp tộc người cụ thể (Bana, Thái, Kinh) tại một số địa bàn điền dã (Sơn La, Kon Tum, Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Bình, Hà Nội). Do đó, phạm vi nghiên cứu chưa bao quát toàn bộ 54 thành phần dân tộc cũng như hệ thống các bảo tàng địa phương khác trên cả nước.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh cơ chế tạo dựng bản sắc tại các bảo tàng dân tộc học khu vực Đông Nam Á; khảo sát các nhóm dân tộc thiểu số rất ít người (dưới 10.000 người) trong hoạt động bảo tàng; hoặc nghiên cứu tác động của truyền thông số và không gian ảo đối với việc tái hiện bản sắc văn hóa tộc người.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo cho các đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên, giảng viên: Thuộc các chuyên ngành Văn hóa học, Dân tộc học/Nhân học, Bảo tàng học và Quản lý văn hóa; có giá trị tham khảo chuyên sâu tại Chương 1 (hệ thống hóa lý thuyết về bản sắc và tính chính trị bảo tàng) và Chương 4 (mô hình thương thảo văn hóa).
- Cán bộ quản lý văn hóa và giám tuyển bảo tàng: Sử dụng các bài học thực tiễn từ Chương 2 và Chương 3 để xây dựng phương pháp trưng bày có sự tham gia của cộng đồng, cách xử lý quan hệ giữa chuyên gia và nghệ nhân trong hoạt động trình diễn di sản.
- Cơ quan hoạch định chính sách dân tộc: Cung cấp cơ sở khoa học để đánh giá việc thực thi chính sách văn hóa và bảo vệ quyền văn hóa của các dân tộc thiểu số trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa bản sắc văn hóa tộc người theo hướng cố định hay kiến tạo?
Luận án tiếp cận bản sắc văn hóa tộc người theo khuynh hướng kiến tạo luận (construction of identity). Bản sắc không phải là một thực thể có sẵn, bất biến hay kế thừa nguyên vẹn, mà là một quá trình liên tục được tạo dựng, tái tạo và biến đổi thông qua trải nghiệm, ngôn ngữ, các hoạt động trình diễn và sự tương tác giữa các nhóm xã hội trong những bối cảnh cụ thể.
2. Sự thương thảo trong hoạt động trình diễn tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam diễn ra giữa những chủ thể nào?
Quá trình thương thảo diễn ra đa chiều giữa ba nhóm chủ thể chính:
- Bảo tàng: Ban lãnh đạo, giám tuyển, cán bộ chuyên môn (đại diện cho định hướng chính trị, chuẩn mực khoa học và không gian kỹ thuật của bảo tàng).
- Chính quyền địa phương: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Phòng Văn hóa - Thông tin, chính quyền cấp xã (đại diện cho công tác quản lý nhà nước tại địa bàn).
- Chủ thể văn hóa: Già làng, trưởng thôn, nghệ nhân dân gian, người thực hành văn hóa (đại diện cho tiếng nói, nguyện vọng và kỹ năng truyền thống của cộng đồng).
3. Ba trường hợp tộc người được lựa chọn nghiên cứu trong luận án là những tộc người nào và khảo sát ở đâu?
Ba tộc người được lựa chọn là Bana, Thái và Kinh. Địa bàn khảo sát điền dã thực tế gồm: tỉnh Kon Tum (đối với dân tộc Bana); tỉnh Sơn La (đối với dân tộc Thái); các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Bình, Hà Nội (đối với dân tộc Kinh); cùng các không gian trưng bày tại tòa Trống đồng và Vườn kiến trúc của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam tại Hà Nội.
4. Tính chính trị của bảo tàng được luận án làm rõ qua những khía cạnh nào?
Tính chính trị thể hiện ở việc bảo tàng là thiết chế văn hóa của Nhà nước thực hiện nhiệm vụ truyền tải thông điệp về khối đại đoàn kết toàn dân và sự thống nhất trong đa dạng của 54 dân tộc. Đồng thời, tính chính trị biểu hiện qua thẩm quyền lựa chọn hiện vật, quyết định ai là người lên tiếng tái hiện văn hóa, cũng như việc bảo tàng trở thành diễn đàn trao quyền cho các nhóm cộng đồng cất lên tiếng nói tự khẳng định bản sắc.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của An Thu Trà đã luận giải toàn diện quá trình tạo dựng bản sắc văn hóa tộc người thông qua hoạt động trình diễn và trưng bày tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam từ năm 1997 đến 2023. Bằng việc kết hợp khung lý thuyết văn hóa học về kiến tạo bản sắc, tính chính trị và phương pháp điền dã nhân học thực chứng trên ba trường hợp Bana, Thái, Kinh, công trình chứng minh bản sắc bảo tàng là kết quả của sự chọn lọc và thương thảo đa chiều giữa Nhà nước, cơ quan bảo tồn và cộng đồng chủ thể. Luận án khẳng định vai trò của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam như một thiết chế vừa thực thi chính sách văn hóa quốc gia, vừa là không gian tương tác thúc đẩy sự tôn trọng đa dạng văn hóa và phản biện xã hội.