Tổng quan nghiên cứu

Lễ hội truyền thống là thành tố cốt lõi trong kho tàng di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc, phản ánh sinh động đời sống tâm linh, phong tục tập quán và sức mạnh gắn kết cộng đồng. Tại tỉnh Long An, địa bàn cửa ngõ kết nối Thành phố Hồ Chí Minh với vùng Đồng bằng sông Cửu Long, hiện có hơn 400 lễ hội, tế lễ quy mô lớn nhỏ được duy trì thường niên. Tiêu biểu như Lễ hội Vía Bà Ngũ Hành Long Thượng thu hút hơn 200.000 lượt khách mỗi dịp xuân về, hay Lễ hội Làm Chay tại thị trấn Tầm Vu quy tụ hàng chục ngàn người tham dự.

Sự phát triển kinh tế nhanh chóng với tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân đạt 10,28% trong giai đoạn 2014-2017 vừa tạo điều kiện thuận lợi phục hồi các sinh hoạt văn hóa, vừa đặt ra nhiều thách thức lớn trong công tác quản lý hành chính nhà nước. Tình trạng thương mại hóa, mê tín dị đoan, quá tải hạ tầng, ô nhiễm môi trường và nguy cơ mất an ninh trật tự luôn tiềm ẩn tại các không gian lễ hội.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá khách quan thực trạng quản lý nhà nước đối với lễ hội truyền thống trên địa bàn 15 đơn vị hành chính cấp huyện của Long An giai đoạn 2014-2017, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý công. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp luận cứ khoa học định hướng cho việc chuẩn hóa 100% quy trình cấp phép, phân cấp trách nhiệm và nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ văn hóa địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng Lý thuyết Quản lý hành chính nhà nước của chủ nghĩa Mác - Lênin và khoa học hành chính hiện đại, kết hợp với Lý thuyết Tiếp cận dựa trên quyền văn hóa của Liên Hiệp Quốc. Khung phân tích tập trung vào bốn trụ cột chính: thể chế chính sách, bộ máy nhân sự, quy trình vận hành và cơ chế giám sát thanh tra.

Luận văn làm rõ năm khái niệm cốt lõi:

  1. Lễ hội truyền thống: hình thức sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng dân gian cộng đồng gồm hai thành tố không tách rời là phần lễ trang nghiêm và phần hội lành mạnh;
  2. Quản lý nhà nước về lễ hội: quá trình cơ quan công quyền sử dụng quyền lực nhà nước, pháp luật và chính sách để điều chỉnh hành vi của các chủ thể xã hội;
  3. Phân cấp quản lý văn hóa: sự phân định thẩm quyền rõ ràng giữa cấp tỉnh, huyện và xã;
  4. Di sản văn hóa phi vật thể: các tập quán, biểu đạt tri thức được cộng đồng thừa nhận;
  5. Xã hội hóa hoạt động lễ hội: huy động nguồn lực cộng đồng gắn liền với minh bạch tài chính.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ các báo cáo hành chính chính thức của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Long An, Sở Nội vụ, Sở Y tế và Ủy ban nhân dân 15 huyện, thị xã, thành phố trong giai đoạn 2014-2017. Phương pháp chọn mẫu là tổng điều tra toàn diện đối với toàn bộ 681 cán bộ, công chức, viên chức phụ trách công tác văn hóa trên địa bàn tỉnh (gồm 331 cán bộ cấp tỉnh, 103 cán bộ cấp huyện và 247 cán bộ cấp xã).

Nghiên cứu kết hợp phương pháp phân tích định tính văn bản quy phạm pháp luật với phương pháp thống kê mô tả, so sánh liên tỉnh nhằm nhận diện khoảng trống chính sách. Việc lựa chọn phương pháp phân tích thể chế kết hợp dữ liệu thống kê nhân sự giúp phản ánh chính xác cấu trúc bộ máy, tránh nhận định cảm tính và chỉ rõ sự mất cân đối về trình độ chuyên môn giữa các cấp hành chính.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, Long An đã xây dựng được kho tàng di sản phong phú với 3 lễ hội truyền thống được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, bao gồm Lễ hội Vía Bà Ngũ Hành Long Thượng (năm 2014), Đại lễ Kỳ Yên đình Tân Phước Tây (năm 2014) và Lễ hội Làm Chay (năm 2015). Toàn tỉnh quản lý 186 di tích lịch sử - văn hóa gắn liền với không gian diễn xướng dân gian.

Thứ hai, cơ cấu nhân lực quản lý văn hóa bộc lộ sự chênh lệch lớn về trình độ chuyên môn giữa các tuyến. Trong tổng số 681 cán bộ toàn ngành, trình độ sau đại học chỉ có 6 người (chiếm 0,88%) và toàn bộ 100% nhân sự này đều tập trung ở cấp tỉnh. Tuyến huyện (103 cán bộ) và tuyến xã (247 cán bộ) hoàn toàn không có nhân sự trình độ sau đại học. Đặc biệt, tỷ lệ cán bộ chưa qua đào tạo chuyên môn còn ở mức 14,39% (98 người), tập trung chủ yếu ở cấp xã (34 người) và cấp tỉnh (61 người).

Thứ ba, công tác thanh tra liên ngành về vệ sinh an toàn thực phẩm và trật tự môi trường đạt kết quả tích cực nhưng vẫn còn điểm nghẽn. Giai đoạn 2014-2017, đoàn thanh tra liên ngành đã xử lý 13 vụ việc vi phạm hành chính (gồm 5 vụ vi phạm an toàn thực phẩm, 8 vụ vi phạm quy định khám sức khỏe chế biến thực phẩm) với tổng số tiền phạt trên 65 triệu đồng, ngăn chặn kịp thời các nguy cơ ngộ độc tập thể.

Thứ tư, công tác quản lý tài chính lễ hội có bước tiến rõ nét thông qua cơ chế hòm công đức hai chìa khóa (do lãnh đạo Ủy ban nhân dân xã và Trưởng Ban quản lý di tích đồng nắm giữ), đảm bảo 100% nguồn thu công đức tại các lễ hội lớn được lập biên bản và kiểm toán minh bạch.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của những thành tựu trên xuất phát từ sự chỉ đạo quyết liệt của Ủy ban nhân dân tỉnh Long An qua việc ban hành Chỉ thị số 13/CT-UBND và Chỉ thị số 15/CT-UBND năm 2014, cụ thể hóa Thông tư số 15/2015/TT-BVHTTDL của Trung ương. Tuy nhiên, sự mất cân đối nhân lực cấp cơ sở bắt nguồn từ việc tinh giản biên chế và chế độ đãi ngộ đối với công chức văn hóa - xã hội cấp xã còn hạn chế, dẫn đến tỷ lệ cán bộ có trình độ đại học đúng chuyên ngành văn hóa ở cấp xã chỉ đạt 6,88% (17/247 người).

Khi đối chiếu với các nghiên cứu tại tỉnh Sóc Trăng hay Nam Định, mô hình tự quản cộng đồng tại Long An phát huy tốt tính dân chủ nhưng việc ứng dụng công nghệ thông tin trong kiểm soát du khách và giám sát hạ tầng lễ hội còn chậm. Dữ liệu khảo sát nhân sự có thể được mô hình hóa qua biểu đồ cột phân bổ trình độ ba cấp hành chính nhằm làm nổi bật sự thiếu hụt chuyên gia văn hóa ở tuyến cơ sở.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Chuẩn hóa thể chế và phân định trách nhiệm liên ngành: Ủy ban nhân dân tỉnh Long An phối hợp Sở Tư pháp rà soát, hoàn thiện 100% văn bản chỉ đạo điều hành về quản lý lễ hội, ban hành quy chế phối hợp cụ thể giữa ngành Văn hóa, Công an, Y tế và Tài nguyên Môi trường trước quý IV/2019.
  2. Nâng chuẩn đào tạo chuyên môn cho cán bộ cơ sở: Sở Nội vụ chủ trì phối hợp Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức các khóa bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý nhà nước về di sản cho 100% cán bộ văn hóa cấp xã (247 người); đặt mục tiêu nâng tỷ lệ công chức văn hóa xã có bằng đại học chuyên ngành lên tối thiểu 50% trong giai đoạn 2019-2022.
  3. Minh bạch hóa quản lý tài chính và xã hội hóa di sản: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch hướng dẫn 15/15 huyện áp dụng quy chuẩn kiểm kê tài chính hòm công đức định kỳ, ban hành cơ chế tái đầu tư tối thiểu 30% nguồn thu từ lễ hội cho công tác bảo tồn, trùng tu 186 di tích trên địa bàn đến năm 2023.
  4. Tăng cường kiểm tra thực địa và bảo vệ cảnh quan môi trường: Đội kiểm tra liên ngành duy trì tần suất kiểm tra 100% cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống xung quanh lễ hội, phấn đấu giảm 50% số vụ vi phạm an toàn thực phẩm và xử lý triệt để tình trạng xả rác bừa bãi tại các lễ hội lớn giai đoạn 2019-2021.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cán bộ quản lý hành chính và công chức ngành văn hóa: Tiếp cận mô hình phân cấp quản lý thực tế, quy trình tổ chức kiểm tra liên ngành và phương thức điều hành lễ hội an toàn, văn minh.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Luật, Quản lý công, Văn hóa học: Sử dụng nguồn dữ liệu khảo sát thực chứng về 681 cán bộ và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật làm tài liệu học tập, nghiên cứu chuyên sâu.
  • Ban Quản lý di tích và Ban Hội hương cơ sở: Áp dụng quy trình kiểm soát nguồn thu tài chính, kỹ năng bảo vệ hiện vật gốc và phương án bảo vệ môi trường theo quy định của Thông tư liên tịch số 19/2013/TTLT-BVHTTDL-BTNMT.
  • Doanh nghiệp lữ hành và nhà hoạch định chiến lược du lịch: Khai thác dữ liệu lịch sử, không gian văn hóa của hơn 400 lễ hội tại Long An để xây dựng các sản phẩm du lịch tâm linh, du lịch sinh thái bền vững.

Câu hỏi thường gặp

Quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống tại Long An có điểm gì đặc thù so với các tỉnh khác?
Long An là vùng đất cộng cư lâu đời, sở hữu hơn 400 lễ hội với sự giao thoa sâu sắc giữa tín ngưỡng dân gian Nam Bộ và truyền thống yêu nước. Công tác quản lý đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa chính quyền hành chính và các thiết chế tự quản truyền thống như Ban Quý tế đình làng hay Ban Hội hương.

Đội ngũ cán bộ quản lý văn hóa cấp cơ sở tại Long An gặp phải những hạn chế nào lớn nhất?
Dữ liệu nghiên cứu cho thấy 100% cán bộ có trình độ sau đại học đều ở cấp tỉnh. Tuyến xã có tới 34 người chưa qua đào tạo chuyên môn và chỉ có 17/247 người có bằng đại học chuyên ngành văn hóa, tạo ra rào cản lớn khi xử lý các vấn đề bảo tồn di sản phức tạp.

Mô hình quản lý hòm công đức hai chìa khóa tại Long An được triển khai như thế nào?
Hòm công đức được niêm phong và đặt tại chính điện. Hai chìa khóa do đại diện Ủy ban nhân dân xã và đại diện Ban Quản lý di tích giữ riêng biệt. Hòm chỉ được mở khi có sự hiện diện của cả hai bên cùng Ban Thư ký để lập biên bản công khai.

Những lễ hội nào tại Long An đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia?
Tính đến giai đoạn khảo sát của luận văn, tỉnh Long An có 3 lễ hội tiêu biểu được công nhận gồm Lễ hội Vía Bà Ngũ Hành Long Thượng, Đại lễ Kỳ Yên đình Tân Phước Tây (cùng năm 2014) và Lễ hội Làm Chay (năm 2015).

Biện pháp nào đã giúp Long An kiểm soát tốt vệ sinh an toàn thực phẩm trong các mùa lễ hội?
Ủy ban nhân dân tỉnh đã thành lập đoàn kiểm tra liên ngành y tế - văn hóa, tiến hành kiểm tra đột xuất các điểm kinh doanh thực phẩm tạm thời quanh khu vực lễ hội, xử phạt nghiêm 13 trường hợp vi phạm với số tiền phạt hơn 65 triệu đồng giai đoạn 2014-2017.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và pháp lý về quản lý nhà nước đối với lễ hội truyền thống cấp tỉnh.
  • Công trình cung cấp bức tranh thực trạng sinh động với số liệu điều tra đầy đủ từ 681 cán bộ văn hóa và hơn 400 lễ hội trên địa bàn Long An.
  • Nghiên cứu chỉ rõ điểm nghẽn về trình độ chuyên môn của nhân lực văn hóa tuyến xã, đề xuất giải pháp đào tạo trọng tâm giai đoạn 2019-2022.
  • Mô hình quản lý tài chính minh bạch và phương án thanh tra liên ngành được đúc kết thành bài học thực tiễn giá trị cho các địa phương lân cận.
  • Đề tài mở ra hướng tiếp cận mới trong việc gắn kết bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể với mục tiêu phát triển kinh tế - du lịch bền vững.

Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý văn hóa quan tâm có thể khai thác toàn văn công trình để ứng dụng các mô hình giải pháp vào thực tiễn quản lý tại địa phương.