Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh 1. Khái niệm quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống 1. Lễ hội truyền thống Lễ hội là một sự kiện văn hóa được tổ chức mang tính cộng đồng.
"Lễ" là hệ thống những hành vi, động tác nhằm biểu hiện sự tôn kính của con người với thần linh, người linh thiêng, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện. "Hội" là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống. Điều 3, Thông tư số 15/2015/TT-BVHTTDL, ngày 22/12/2015 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định về tổ chức lễ hội ghi nhận có 4 loại hình lễ hội sau: 1. Lễ hội truyền thống là lễ hội được tổ chức nhằm tôn vinh người có công với nước, với cộng đồng; thờ cúng thần thánh, biểu tượng có tính truyền thống và các hoạt động tín ngưỡng dân gian khác tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp về truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội.
Lễ hội lịch sử, cách mạng là lễ hội được tổ chức nhằm tôn vinh những danh nhân, sự kiện lịch sử, cách mạng. Lễ hội văn hóa, thể thao, du lịch là lễ hội được tổ chức để quảng bá về văn hóa, thể thao, du lịch bao gồm: festival, liên hoan văn hóa, thể thao, du lịch; tuần văn hóa, thể thao, du lịch; tuần văn hóa - du lịch; tháng văn hóa - du lịch; năm văn hóa - du lịch và các lễ hội văn hóa, thể thao và du lịch khác. Lễ hội có nguồn gốc từ nước ngoài tổ chức tại Việt Nam là lễ hội do tổ chức của Việt Nam hoặc tổ chức nước ngoài đang hoạt động hợp pháp tại Việt Nam tổ 7 chức nhằm giới thiệu giá trị văn hóa tốt đẹp của nước ngoài với công chúng Việt Nam. Theo đó, Lễ hội truyền thống là loại hình sinh hoạt văn hóa – tín ngưỡng dân gian; là một hiện tượng văn hóa được hình thành và phát triển trong những điều kiện địa lý, lịch sử, văn hóa và kinh tế nhất định gắn với những đặc điểm văn hóa cộng đồng.
Lễ hội truyền thống bao gồm hai thành tố lễ và hội. Trong đó lễ là những nghi thức thiêng liêng gắn với nhân vật, biểu tượng thờ phụng còn hội là những trò diễn, trò chơi dân gian, các hoạt động văn hóa văn nghệ gắn liền với hệ thống lễ. Lễ hội truyền thống là di sản văn hóa quý báu của quốc gia, dân tộc. Lễ hội truyền thống có các đặc trưng sau: - Gắn với đời sống tâm linh, tôn giáo tín ngưỡng, nó mang tính thiêng, do vậy nó thuộc thế giới thần linh, thiêng liêng, đối lập với đời sống trần gian, trần tục.
- Là một sinh hoạt văn hóa mang tính hệ thống tính phức hợp, một hiện tượng văn hóa dân gian tổng thể, bao gồm gần như tất cả các phương diện khác nhau của đời sống xã hội: sinh hoạt tín ngưỡng, nghi lễ, phong tục, giao tiếp và gắn kết xã hội, các sinh hoạt diễn xướng dân gian (hát, múa, trò chơi, sân khấu…), các cuộc thi tài, vui chơi, giải trí, ẩm thực, mua bán… - Chủ thể là cộng đồng, đó là cộng đồng làng, cộng đồng nghề nghiệp, cộng đồng tôn giáo tín ngưỡng, cộng đồng quốc gia dân tộc. Lễ hội truyền thống nào cũng thuộc về một cộng đồng người nhất định, đó có thể là cộng đồng làng xã (hội làng), cộng đồng nghề nghiệp (hội nghề), cộng đồng tôn giáo (hội chùa, hội đền, hội nhà thờ), cộng đồng dân tộc (hội Đền Hùng), đến cộng đồng nhỏ hẹp hơn như gia tộc, dòng họ. Cộng đồng chính là chủ thể sáng tạo, hoạt động và hưởng thụ các giá trị văn hóa của lễ hội truyền thống. Ba đặc trưng trên nó quy định tính chất, sắc thái văn hóa, cách thức tổ chức, thái độ, hành vi, tình cảm của những người tham gia lễ hội truyền thống, phân biệt với các loại hình lễ hội khác.
Đó là bản chất, là yếu tố bất biến. Việc làm mất đi các đặc trưng trên sẽ là làm biến dạng và phá hoại lễ hội truyền thống. 8 Lễ hội truyền thống có vai trò rất quan trọng, thể hiện trên phương diện sau: - Cố kết và biểu dương sức mạnh cộng đồng: Lễ hội truyền thống là dịp biểu dương sức mạnh của cộng đồng và là chất kết dính tạo nên sự cố kết cộng đồng. Mỗi cộng đồng hình thành và tồn tại trên cơ sở của những nền tảng gắn kết như: gắn kết do cùng cư trú trên một lãnh thổ (cộng cư), gắn kết về sở hữu tài nguyên và lợi ích kinh tế (cộng hữu), gắn kết bởi số mệnh chịu sự chi phối của một lực lượng siêu nhiên nào đó (cộng mệnh), gắn kết bởi nhu cầu sự đồng cảm trong các hoạt động sáng tạo và hưởng thụ văn hóa (cộng cảm)… Lễ hội truyền thống là môi trường góp phần quan trọng tạo nên sự cộng mệnh và cộng cảm của sức mạnh cộng đồng.
Ngày nay, trong điều kiện xã hội hiện đại, con người càng ngày càng khẳng định bản thân, cá tính của mình nhưng không vì thế mà tính cộng đồng bị phá vỡ.Con người vẫn phải nương tựa vào cộng đồng, có nhu cầu cố kết cộng đồng. Trong điều kiện như vậy, lễ hội truyền thống có giá trị biểu tượng của sức mạnh cộng đồng và tạo nên sự cố kết cộng đồng ấy. - Hướng về cội nguồn: Tất cả mọi lễ hội truyền thống đều hướng về nguồn cội, đó là nguồn cội tự nhiên mà con người từ đó sinh ra, nguồn cội cộng đồng như dân tộc, đất nước, xóm làng, tổ tiên, nguồn cội văn hóa. Và hơn nữa, hướng về nguồn cội đã trở thành tâm thức, là truyền thống của con người Việt Nam “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ người trồng cây”.
Trong thời đại cách mạng khoa học kỹ thuật, tin học hóa, toàn cầu hóa như hiện nay, con người ngày càng tách rời giữa bản thân mình với tự nhiên, với môi trường, với lịch sử xa xưa, với truyền thống văn hóa độc đáo đang dần bị mai một. Vì vậy, hơn bao giờ hết con người càng có nhu cầu hướng về, tìm lại cái nguồn cội tự nhiên của mình, hòa mình vào với môi trường thiên nhiên, khẳng định cái nguồn gốc cộng đồng và bản sắc văn hóa của mình trong cái chung của văn hóa nhân loại. Chính nền văn hóa truyền thống, trong đó có lễ hội truyền thống là một biểu tượng có thể đáp ứng nhu cầu bức xúc ấy. Đó cũng chính là tính nhân bản bền vững và sâu sắc của lễ hội truyền thống.
9 - Giá trị cân bằng đời sống tâm linh: Bên cạnh đời sống vật chất, đời sống tinh thần, tư tưởng còn hiện hữu đời sống tâm linh. Đó là đời sống của con người hướng về cái cao cả thiêng liêng , chân-thiện- mỹ, cái mà con người ngưỡng mộ, ước vọng, tôn thờ. Chính tôn giáo tín ngưỡng, các nghi lễ, lễ hội góp phần làm thoả mãn nhu cầu về đời sống tâm linh của con người. - Giá trị sáng tạo và hưởng thụ văn hóa: Trong các lễ hội truyền thống, Nhân dân tự đứng ra tổ chức, sáng tạo và tái hiện các sinh hoạt văn hóa cộng đồng và hưởng thụ các giá trị văn hóa, tâm linh.
Do vậy, lễ hội bao giờ cũng thấm đượm tinh thần dân chủ và nhân bản sâu sắc. Trong thời điểm cao trào của lễ hội, khi mà tất cả mọi người chan hòa trong không khí thiêng liêng, hứng khởi thì các cách biệt xã hội giữa cá nhân dường như được xoá nhòa, con người cùng sáng tạo và hưởng thụ những giá trị văn hóa của mình. Chính nền văn hóa truyền thống, trong đó có lễ hội truyền thống là môi trường tiềm ẩn những nhân tố dân chủ trong sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hóa ấy. - Giá trị bảo tồn và trao truyền văn hóa: Trong chu kỳ một năm, sau bao ngày tháng nhọc nhằn, vất vả, lo âu, người dân lại tụ hội nơi đình chùa mở hội.
Nơi đó, con người hóa thân thành văn hóa văn hóa làm biến đổi con người, một “bảo tàng sống” về văn hóa dân tộc được hồi sinh, sáng tạo và trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Qua các nghi lễ và hội hè, các làn điệu dân ca, các điệu múa, các hình thức sân khấu như chèo, hát bội, rối nước, cải lương, các trò chơi, trò diễn như chọi gà, chơi đu, đánh vật. đã ra đời và duy trì trong dân gian suốt hàng nghìn năm qua. - Giá trị đối với việc phát triển kinh tế-xã hội: Lễ hội truyền thống góp phần tích cực vào việc xây dựng đời sống văn hóa và đặc biệt là thúc đẩy sự phát triển kinh tế của các địa phương thông qua các hoạt động dịch vụ.
Hầu hết lễ hội có quy mô, đầu tư càng lớn thì nguồn thu càng nhiều. Tuy nhiên, cần tránh tình trạng coi lễ hội như là một nguồn lợi kinh tế làm giảm đi giá trị văn hóa tâm linh, tránh tổ chức lễ hội xa rời mục đích bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc. Quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh 10 Quản lý là tác động của chủ thể lên đối tượng theo mục tiêu nhất định. Trong đời sống xã hội, quản lý xuất hiện khi có hoạt động chung của con người.
Quản lý điều khiển, chỉ đạo hoạt động chung của con người, phối hợp riêng lẻ của từng cá nhân tạo thành hoạt động thống nhất của tập thể hướng tới mục tiêu đã định trước. Để thực hiện quản lý cần phải có tổ chức và quyền uy. Tổ chức phân định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ của những người tham gia hoạt động chung; quyền uy mang lại khả năng áp đặt ý chí của chủ thể quản lý đối với các đối tượng quản lý, đảm bảo sự phục tùng của cá nhân đối với tổ chức. Quyền uy là phương tiện quan trọng để chủ thể quản lý điều khiển, chỉ đạo cũng như bắt buộc các đối tượng quản lý thực hiện các yêu cầu, mệnh lệnh của mình.
Sự quản lý được thực hiện bởi chủ thể là các cơ quan và nhân viên nhà nước trên cơ sở pháp luật gọi là quản lý nhà nước. Quản lý nhà nước được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm toàn bộ hoạt động của cả bộ máy nhà nước từ lập pháp, hành pháp đến tư pháp vận hành như một thực thể thống nhất.