Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Các khái niệm o Thiết chế và Thiết chế văn hóa Trong tập bài giảng “Quản lý thiết chế văn hóa” tác giả Nguyễn Hữu Thức cho rằng Thiết chế là một tổ chức do con người lập ra có mối ràng buộc chặt chẽ ở bên trong giữa con người với công việc thông qua các quy tắc, quy định và điều kiện để thực hiện công việc theo ý muốn chủ quan của con người. Trong cuộc sống có các thiết chế: Thiết chế kinh tế, thiết chế văn hóa, thiết chế xã hội. Thiết chế xã hội bao gồm: gia đình, xóm làng, trường học, y tế Thiết chế xã hội ra đời đáp ứng nhu cầu sinh tồn: đảm bảo an ninh trật tự an toàn, hướng tới các giá trị chuẩn mực tinh thần [25].
Có thể thiết chế là một tổ chức xã hội có kết cấu bên trong khá chặt chẽ. Nó ra đời đáp ứng nhu cầu thường xuyên của con người cho nên nó tồn tại bền vững trong đời sống xã hội. Trong đó, thiết văn hóa có các dạng hình thức đó là: Nhà văn hóa, câu lạc bộ, bảo tàng, thư viện, cung văn hóa, nhà hát, rạp xiếc, rạp chiếu bóng, công viên. Trong bất kỳ thời đại nào, chế độ nào cũng đều phải cần đến những thiết chế văn hóa để góp phấn truyền tải văn hóa chính thống của Nhà nước đến mọi tầng lớp nhân dân, đồng thời tổ chức những hoạt động văn hóa phù hợp với yêu cầu tư tưởng, với chuẩn mực đạo đức, nếp sống, lối sống của chế độ, thời đại đó.
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: Thiết chế văn hóa là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong ngành văn hóa Việt Nam từ những năm 70 của thế kỷ XX: Thiết chế văn hóa là một chỉnh thể văn hóa hội tụ đầy đủ các yếu tố: cơ sở vật chất, bộ máy tổ chức, nhân sự, 12 quy chế hoạt động, nguồn kinh phí; chỉ riêng một ngôi nhà hoặc công trình văn hóa chưa đủ để gọi là thiết chế văn hóa. Ví dụ: Thiết chế Nhà văn hóa phải bao gồm: ngôi nhà trụ sở, bộ máy tổ chức, bộ máy tổ chức, nhân sự, quy chế hoạt động và nguồn kinh phí [27, tr 230]. Hệ thống thiết chế văn hóa là địa điểm chủ yếu để tổ chức các hoạt động tuyên truyền, phổ biến các nhiệm vụ chính trị - xã hội ở địa phương; giáo dục người dân nâng cao nhận thức về những đường lối, chính sách, chủ trương của đảng, pháp luật của Nhà nước đến người dân biết và hiểu, góp phần cùng các cấp ủy đảng và địa phương chung tay xây dựng Thành phố Vĩnh Long ngày càng văn minh và giàu đẹp. Với phương châm mỗi công dân tốt, mỗi gia đình văn hóa tại địa phương chính là những viên gạch để xây dựng quê hương, tổ quốc ngày càng phát triển thoát khỏi cảnh đói nghèo lạc hậu.
Qua thực tiễn đã chứng minh hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở đặc biệt là vùng sâu, vùng xa nơi người dân chủ yếu tiếp xúc với Trưởng khóm, ấp hay những cán bộ xã, phường, thị trấn,. Thì hệ thống những thiết chế văn hóa là nơi tổ chức các hoạt động văn hóa phù hợp với phong tục, tập quán, lối sống, tín ngưỡng đang phát huy vai trò quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy những bản sắc văn hóa đặc sắc của dân tộc. Các thiết chế văn hóa cơ sở được tăng cường, với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có trình độ năng lực chuyên môn, sẽ tổ chức các hoạt động văn hóa một cách sáng tạo, hiệu quả thiết thực; góp phần quan trọng trong việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc. o Khái niệm về Quản lý Theo Đại Từ điển tiếng Việt, khái niệm quản lý được hiểu là: + Tổ chức, điều khiển hoạt động của một số đơn vị cơ quan.
+ Trông coi, giữ gìn và theo dõi việc gì [27, tr. 13 Có thể xem quản lý là hoạt động đặc biệt, là yếu tố không thể thiếu được trong đời sống xã hội, gắn liền với quá trình phát triển. Quản lý cũng là đối tượng nghiên cứu của khoa học liên ngành. Trong khoa học tự nhiên, quản lý được định nghĩa như sau: quản lý là sự điều khiển, định hướng, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình căn cứ vào những quy luật, định luật hay nguyên tắc, luật tương ứng để cho hệ thống hay quá trình ấy vận động theo ý muốn của người quản lý, nhằm đạt mục đích đã định trước [23].
Dưới góc tiếp độ cận quản lý theo việc thực hiện theo những mục tiêu đề ra thì: Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được những mục đích của nhóm. Mục tiêu của các nhà quản lý nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm, với thời qian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất. Với tư cách thực hành thì cách quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức có tố chất về quản lý là một khoa học [23, tr. Vậy có thể hiểu quản lý là sự điều khiển chiến thuật, là quá trình đi từ chỗ nắm được, nắm đúng cái hiện có, thấy được, thấy đúng cái cần có.
Biết tìm mọi biện pháp khả thi và tối ưu đưa ra từ cái nhìn hiện thực lên cái cần có. Quản lý trong xã hội chính là quản lý con người, ở đây chủ thể và khách thể quản lý là con người. Vì vậy trong quản lý xã hội nói chung và quản lý văn hóa nói riêng, phải quản lý trên nguyên tắc tôn trọng, định hướng tạo điều kiện cho các cá nhân phát triển. o Quản lý văn hóa Quản lý văn hóa là công việc của Nhà nước được thực hiện thông qua việc ban hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hóa, đồng thời phát triển kinh tế - xã hội của tùng địa phương nói riêng và cả nước nói chung.
Quản lý văn 14 hóa bằng nhiều hình thức và phương pháp khác nhau nhằm đạt những mục tiêu mong muốn [31, tr.41] Hoạt động văn hóa là những hoạt động mang tính chất giúp con người lấy lại tinh thần sau những ngày làm việc căng thẳng, là các hoạt động ngoại khóa, sân chơi bổ ích, những hội thi, hội diễn,. Hoạt động văn hóa còn là những hoạt động của con người tác động vào những yếu tố cấu thành nên văn hóa gồm lĩnh vực: vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong suốt chiều dài lịch sử, để lại dấu ấn từng thời đại, từng quốc gia, dân tộc. Các hoạt động văn hóa góp phần làm phong phú đời sống vật chất, tinh thần của con người, duy trì, phát huy và tôn vinh cái đẹp, những giá trị nghệ thuật, đạo đức lối sống của con người. Hoạt động văn hóa tích cực còn ngăn ngừa, hạn chế, bài trừ tệ nạn xã hội, thói hư tật xấu.
Ngoài ra, nó còn là vũ khí sắc bén trên mặt trận tư tưởng văn hóa, tuyên truyền những đường lối, chính sách, chủ trương của Đảng và Pháp luật của Nhà nước đến với người dân. Cuộc đấu tranh trên lĩnh vực văn hóa bao giờ cũng thể hiện tập trung nhất là cuộc đấu tranh về chính trị, tư tưởng và kinh tế. Chính vì vậy, quản lý trên lĩnh vực văn hóa là tất yếu và mang tính khách quan. Do hoạt động văn hóa không những là một hoạt động sáng tạo mang tính tư tưởng mà còn là hoạt động kinh tế nên quản lý văn hóa là hoạt động xã hội mang tính đặc thù.
Việc quản lý văn hóa được thực hiện bằng hệ thống pháp luật và các chính sách liên quan đến sự phát triển văn hóa. Tùy theo mỗi quốc gia, tùy theo truyền thống văn hóa của mỗi nước, mà có những chính sách quản lý khác nhau. Nội dung phương thức, cách thức, biện pháp để quản lý văn hóa cũng có sự thay đổi, bổ sung, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển chung của xã hội. Quản lý hoạt động văn hóa có vai tò quan trọng trong đời sống văn hóa, luôn thu hút động đảo quần chúng nhân dân tham gia, qua đó góp phần giáo dục, định hướng về thẩm mỹ, phong cách, đạo đức, lối sống.
Quản lý hoạt 15 động trong thiết chế văn hóa hướng đến mục tiêu để các thiết chế văn hóa này thực hiện tốt nhiệm vụ của nó, đó là giáo dục Xã hội Chủ nghĩa xây dựng con người mới có đời sống tinh thần phát triển toàn diện. Xuất phát từ nhiệm vụ đó phải quản lý phát huy hết chức năng của nó nhằm đáp ứng các nhu cầu về văn hóa tinh thần phong phú và đa dạng của các tầng lớp nhân dân, nhu cầu về giải trí và sáng tạo của người dân trong thời gian nhàn rỗi. Phải quản lý các Nhà văn hóa ngày càng hoàn thiện về cơ sở vật chất, cơ cấu tổ chức và cán bộ, hệ thống phương pháp chuyên môn thể hiện rõ ràng tính chất giáo dục, tổng hợp, tính đa năng, tính quần chúng và tính xã hội của thiết chế văn hóa này. Quản lý hoạt động trong Nhà văn hóa, nghĩa là đảm bảo cho Nhà văn hóa thực hiện tốt cả hai vai trò xã hội của nó là: giáo dục của nó là giáo dục Nhân dân và sự tự giáo dục của những người tham gia vào những hoạt động văn hóa.
Tuy nhiên, việc quản lý phải mang tính khoa học, chính là để cho toàn bộ hoạt động của nó đi vào kế hoạch đã được ban hành. Những hoạt động của Nhà văn hóa được xây dựng thành kế hoạch cụ thể thiết thực nhằm đem lại kết quả cao nhất từ nội dung, biện pháp tổ chức thực hiện đến việc bố trí sử dụng nguồn kinh phí đúng nguyên tắc tài chính. Việc quản lý nhu cầu văn hóa đòi hỏi thực hiện tốt các khâu trong quá trình kỹ thuật quản lý. o Nhà văn hóa Theo Đại Từ điển Tiếng Việt, Nhà văn hóa là “nơi tổ chức sinh hoạt văn hóa cho đông đảo quần chúng” [27, tr.
Trong Giáo trình “Đại cương Nhà văn hóa” của tập thể tác giả Trần Văn Ánh - Nguyễn Xuân Hồng - Nguyễn Văn Hy, nhóm tác giả cho rằng Nhà văn hóa (Câu lạc bộ, Trung tâm Văn hóa thông tin thể thao) là những cơ quan giáo dục xã hội chủ nghĩa ngoài nhà trường.