Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ THIẾT CHẾ VĂN HÓA VĂN MIẾU TRẤN BIÊN Trong chương này, tác giả đưa ra một số khái niệm giúp người đọc hiểu thế nào là thiết chế văn hóa, doanh nghiệp quản lý văn hóa, quản lý nhà nước về văn hóa và doanh nghiệp quản lý văn hóa, trên cơ sở đó làm nền tảng cho việc nghiên cứu công tác quản lý thiết chế văn hóa. Đồng thời, tác giả cũng giới thiệu khái quát về thiết chế văn hóa VMTB, tổng quan giá trị vật thể và phi vật thể của Văn miếu. 11 Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VĂN MIẾU TRẤN BIÊN Trong chương này, tác giả tập trung nghiên cứu về thực trạng công tác quản lý VMTB. Từ thực tiễn hiệu quả hoạt động, phân tích những mặt đạt được và những hạn chế trong công tác quản lý; so sánh với một số Văn miếu khác.
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ VĂN MIẾU TRẤN BIÊN Trong chương này, tác giả xác định những điều kiện để bảo tồn và phát huy các giá trị của Văn miếu Trấn Biên hiện nay, từ đó đưa ra những giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, bảo tồn Văn miếu. 12 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ THIẾT CHẾ VĂN HÓA VĂN MIẾU TRẤN BIÊN 1. Một số khái niệm - Thiết chế văn hóa Thiết chế văn hóa là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong ngành văn hóa Việt Nam từ những năm 70 thế kỷ XX. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn có nhiều cách hiểu khác nhau về thiết chế văn hóa, nhiều người chỉ đơn giản nghĩ đó là cơ sở vật chất.
Sự nhầm lẫn này đã dẫn đến sự phiến diện trong việc đầu tư hoặc tổ chức các hoạt động. Vậy thiết chế văn hóa là gì? Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Thiết chế văn hóa là chỉnh thể văn hóa hội tụ đầy đủ các yếu tố: Cơ sở vật chất, bộ máy tổ chức, nhân sự, quy chế hoạt động, nguồn kinh phí; chỉ riêng ngôi nhà hoặc công trình văn hóa chƣa đủ để gọi là thiết chế văn hóa” [34, tập 4, tr. Trong đó, cơ sở vật chất là những cơ sở, điều kiện cần có tối thiểu cho các hoạt động văn hóa, các sinh hoạt cộng đồng diễn ra và quan trọng nhất là không gian sinh hoạt cộng đồng. Bộ máy tổ chức nhân sự là tổ chức gồm những người tham gia điều hành và tổ chức các hoạt động của thiết chế.
Quy chế hoạt động là những quy định được xây dựng để làm cơ sở cho thiết chế hoạt động. Và kinh phí hoạt động do ngân sách của Nhà nước cấp hoặc nhân dân đóng góp một cách tự nguyện và các nguồn tài trợ, hỗ trợ hợp pháp khác. - Quản lý thiết chế văn hóa Thuật ngữ “Quản lý” thường được hiểu theo những cách khác nhau tùy góc độ khoa học cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu. Từ thế kỷ 13 XXI, các quan niệm về quản lý ngày càng phong phú.
Các trường phái quản lý đã đưa ra những định nghĩa về quản lý như sau: Fayel: “Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: Kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát. Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát ấy” [18, tr. Hard Koont: “Quản lý là xây dựng và duy trì một môi trƣờng tốt giúp con ngƣời hoàn thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định” [43, tr. Nguyễn Minh Đạo: “Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hƣớng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của con ngƣời nhằm đạt tới mục tiêu đã đề ra” [24].
Từ những định nghĩa về quản lý nêu trên cho thấy, để hình thành nên hoạt động quản lý trước tiên cần có chủ thể quản lý: nói rõ ai là người quản lý? Sau đó xác định đối tượng quản lý: quản lý cái gì? Cách thức quản lý: quản lý như thế nào? Và cuối cùng xác định mục đích quản lý: quản lý vì cái gì? Còn quản lý thiết chế văn hóa là gì? Nhìn chung, chúng ta thường hiểu, quản lý thiết chế văn hóa là công việc của Nhà nước được thực hiện thông qua việc ban hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hóa, quản lý thiết chế văn hóa. Trong đề tài, tác giả xác định quản lý thiết chế văn hóa là sự tác động của chủ thể quản lý (Nhà nước, doanh nghiệp, cá nhân.) lên thiết chế văn hóa về cơ sở vật chất, bộ máy tổ chức, nhân sự, quy chế hoạt động, nguồn kinh phí bằng nhiều hình thức, phương pháp khác nhau nhằm đạt được mục tiêu quản lý, nâng cao hiệu quả hoạt động của thiết chế văn hóa. Như vậy về bản chất, quản lý thiết chế văn hóa là quản lý các hoạt động của con người hay cộng đồng xã hội có thể tác động ở cả hai chiều đến thiết chế. 14 - Doanh nghiệp quản lý thiết chế văn hóa Để hiểu được định nghĩa “Doanh nghiệp quản lý thiết chế văn hóa”, trước hết chúng ta tìm hiểu về định nghĩa “Doanh nghiệp nhà nước”.
Theo Luật doanh nghiệp nhà nƣớc năm 2014: Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nước giao. Doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động, kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý [48]. Thông thường, chỉ thấy quản lý của doanh nghiệp đối với hoạt động kinh doanh, ít thấy nói đến quản lý của doanh nghiệp nhà nước đối với thiết chế văn hóa, vì chủ yếu các doanh nghiệp nhà nước được giao nhiệm vụ kinh doanh, ít khi được giao nhiệm vụ quản lý đối với thiết chế văn hóa. Theo đó, có thể hiểu doanh nghiệp quản lý thiết chế văn hóa là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân tham gia đầu tư nguồn kinh phí, điều hành, thực hiện các hoạt động đối với thiết chế văn hóa trong sự quản lý của cơ quan quản lý Nhà nước, nhằm hài hòa mục đích phục vụ cộng đồng và lợi nhuận.
Thời gian gần đây, doanh nghiệp quản lý thiết chế văn hóa được thành lập ở nhiều địa phương trong cả nước và hoạt động tương đối hiệu quả. Tại Đồng Nai, có thể kể đến các doanh nghiệp như: Tổng Công ty Cao su Đồng Nai (quản lý Trung tâm Văn hóa Suối Tre), Công ty TNHH 1TV Đầu tư - Phát triển Bửu Long (quản lý Danh thắng Bửu Long), Công ty TNHH Khu du lịch sinh thái Vườn Xoài, Công ty cổ phần Du lịch Giang Điền… - Xã hội hóa hoạt động văn hóa XHH là một quá trình thông qua đó con người hình thành nên tính cách của mình, học được cách ứng xử trong một xã hội hay một nhóm. Nói cách khác, chính là quá trình con người sinh vật học hỏi để trở thành con người xã 15 hội. Như vậy, xã hội hóa bắt đầu từ khi con người ta sinh ra và chỉ kết thúc khi con người không còn tồn tại.
Thuật ngữ xã hội hóa trong khoa học xã hội nói chung, xã hội học nói riêng không đồng nhất với khái niệm xã hội hóa đang được sử dụng phổ biến ở Việt Nam hiện nay như: xã hội hóa các hoạt động văn hóa, giáo dục, y tế, hay thể thao. Theo đó, XHH hoạt động văn hóa là sự huy động các nguồn lực, sự tham gia của các tầng lớp xã hội trong lĩnh vực hoạt động văn hóa, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ và sáng tạo ngày càng cao của nhân dân, đồng hành cùng sự phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập của đất nước và được hưởng lợi bằng chính sự tham gia của mình. Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn những nhìn nhận chưa đúng về xã hội hóa. Có nhiều người cho rằng, mục đích chính của xã hội hóa là giảm nhẹ ngân sách đầu tư từ Nhà nước.
Đây là một vấn đề cần phải làm rõ, vì nếu không nhận thức đúng, rất dễ biến xã hội hóa thành thương mại hóa hoặc tư nhân hóa. Xã hội hóa hoạt động văn hóa nhưng vẫn phải đảm bảo mục tiêu, định hướng của Đảng về văn hóa. Vì vậy, Nhà nước cần tiếp tục đổi mới cơ chế và tăng cường quản lý văn hóa bằng cách hoàn thiện cơ chế chính sách, tăng nguồn lực đầu tư, tăng cường lực đầu tư cho các mục tiêu ưu tiên, chương trình quốc gia về phát triển văn hóa. - Chính sách văn hóa UNESCO định nghĩa: “Chính sách văn hóa là một tổng thể các nguyên t c hoạt động, các cách thực hành, các phƣơng pháp quản lý hành chính và phƣơng pháp ngân sách của Nhà nƣớc dùng làm cơ sở cho các hoạt động văn hóa nghệ thuật”.
Với thực tiễn của Việt Nam, chính sách văn hóa được hiểu là tổng thể những nguyên tắc thể hiện tư tưởng chủ đạo của Nhà nước về đường lối, phương hướng xây dựng và phát triển nền văn hóa. Chính sách văn hóa đặt ra 16 các nguyên tắc chung của sự nghiệp phát triển văn hóa phù hợp với mục tiêu phát triển văn hóa chung của đất nước [31]. Các chính sách về quản lý và phát triển văn hóa hiện nay có thể kể đến: sáng tạo các giá trị văn hóa; bảo tồn, phát huy tài sản văn hóa; phát triển văn hóa cơ sở; giao lưu văn hóa quốc tế; hiện đại hóa kỹ thuật và phương thức sản xuất, phân phối sản phẩm văn hóa; đào tạo, phát triển đội ngũ trí thức, văn nghệ sỹ; đảm bảo ngân sách, điều kiện pháp lý cho phát triển văn hóa; nâng cao tính tự quản và phân cấp quản lý văn hóa… Chính sách văn hóa có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về văn hóa nhưng chính sách văn hóa không thể thay thế pháp luật. Nhà nước ban hành các văn bản pháp luật về văn hóa nhằm phát huy tác dụng của văn hóa tới sự hình thành nhân cách, nâng cao chất lượng cuộc sống tinh thần của con người.
Quản lý Nhà nước về văn hóa và doanh nghiệp quản lý văn hóa - Đường lối, chủ trương về xây dựng và phát triển văn hóa Trong suốt quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định phát triển kinh tế phải luôn gắn liền với phát triển văn hóa, giáo dục.