Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm 1.1 Di sản văn hóa Khái niệm Di sản văn hóa là một khái niệm rất rộng, để hiểu về khái niệm này, chúng ta trước hết cần hiểu thế nào là văn hóa? Năm 1940, chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [39, tr.
Kế thừa quan điểm của Người, Nghị quyết Hội nghị lần thứ IX Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về “xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” (Nghị quyết 33-NQ/TW) đã khẳng định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước. Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội” [16, tr. Các học giả hiện nay cho rằng văn hóa là tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử. Dẫn giải từ quan điểm này, chúng ta có thể hiểu rằng văn hóa chính là những sản phẩm được sáng tạo ra từ đó.
Mặc dù vậy, không phải sản phẩm nào do con người tạo ra cũng được xem là Di sản văn hóa. Luật Di sản văn hóa đã được kỳ họp thứ IX Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X, thông qua ngày 29/6/2001, khẳng định: "Di 14 sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của Di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta". "Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam" [37, tr. "Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác" [38, tr.
"Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia" [37, tr.2 Di tích Theo tác giả Nguyễn Như Ý trong quyển Đại từ điển tiếng Việt xuất bản năm 2013 cho rằng di tích có hai nghĩa: Nghĩa thứ nhất: “ Di tích là các loại dấu vết của quá khứ chủ yếu là nơi cư trú và mộ táng của người xưa được khảo cổ học nghiên cứu”; nghĩa thứ hai: “ Di tích là di sản văn hóa lịch sử bất động: di sản văn hóa [62, tr. Bên cạnh định nghĩa của tác giả Nguyễn Như ý về di tích, các tác giả trong cuốn Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ lại cho rằng: “Di tích là dấu vết xưa còn lại” [61, tr.3 Di tích lịch sử - văn hóa Di tích lịch sử - văn hóa là một thành tố quan trọng cấu thành di sản văn hóa, là tài sản vô giá của mỗi quốc gia. Gọi là di tích lịch sử văn hóa bởi 15 vì chúng được tạo ra từ con người (tập thể hoặc cá nhân), là kết quả của hoạt động sáng tạo lịch sử, văn hoá của con người. Mỗi quốc gia trên thế giới đều đưa ra những khái niệm, quy định về di tích lịch sử văn hóa của dân tộc mình.
Tại Điều I, Hiến chương Vernice - Italia quy định: “Di tích lịch sử văn hóa bao gồm những công trình xây dựng đơn lẻ, những khu di tích ở đô thị hay nông thôn, là bằng chứng của một nền văn minh riêng biệt, của một sự tiến hóa có ý nghĩa hay là một biến cố về lịch sử” [23, tr. Ở Việt Nam cũng có nhiều khái niệm về di tích lịch sử văn hóa, theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Di tích là các loại dấu vết của quá khứ, là đối tượng nghiên cứu của khảo cổ học, sử học. được pháp luật bảo vệ, không ai được tùy tiện dịch chuyển, thay đổi, phá hủy” [59, tr. Pháp lệnh số 14-LCT/HĐNN của Hội đồng Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam về bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh quy định rõ: “Di tích lịch sử văn hóa là những công trình xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu và tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật cũng như có giá trị văn hóa khác hoặc có liên quan đến những sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hóa, xã hội” [46, tr.
Luật Di sản văn hóa do Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ban hành năm 2001 và sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định: “Di tích lịch sử văn hóa là những công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học” [38, tr. Như vậy, có nhiều khái niệm khác nhau về di tích lịch sử văn hóa, nhưng các khái niệm đó đều có chung một nội dung: Di tích lịch sử văn hóa là công trình những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó có chứa đựng các giá trị điển hình của lịch sử, do tập thể hoặc cá nhân sáng tạo ra trong lịch sử để lại.4 Quản lý và quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa * Khái niệm quản lý Quản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện từ rất sớm, là một phạm trù tồn tại khách quan, được ra đời từ nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia và ở mọi thời đại. "Quản lý" là một khái niệm khá rộng và mang tính bao trùm tất cả mọi mặt của đời sống xã hội, thuật ngữ “Quản lý” có nhiều cách diễn đạt, nhiều quan điểm khác nhau. “Quản lý” trong từ Hán Việt được ghép giữa từ “quản” và từ “lý”.
“Quản” là sự trông coi, chăm sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái ổn định; “lý” là sự sửa sang, sắp xếp, làm cho nó phát triển. Vậy “quản lý” là trông coi, chăm sóc, sửa sang làm cho nó phát triển. Theo Các Mác “Quản lý” là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao động [9, tr. Ăngghen cho rằng “Quản lý” là một động thái tất yếu phải có khi nhiều người cùng hoạt động chung với nhau khi có sự hiệp tác của một số đông người, khi có hoạt động phối hợp của nhiều người [8, tr.
Theo Đại Từ điển Tiếng Việt: "Quản lý là trông coi, giữ gìn theo những yêu cầu nhất định. Là tổ chức và điều hành các hoạt động theo những yêu cầu nhất định" [13, tr. Trong giáo trình Quản lý hành chính Nhà nước của Học viện Hành chính Quốc gia chỉ rõ: “Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đã đề ra và đúng ý chí của người quản lý” [26, tr. Tóm lại, các quan niệm trên đây, đều có điểm chung thống nhất xác định “Quản lý” là quá trình tác động có định hướng, có tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý, thông qua các cơ chế quản lý, nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong điều kiện môi trường biến động để hệ thống ổn định, 17 phát triển, đạt được những mục tiêu đã định.
Bản chất của quản lý và hoạt động quản lý bắt nguồn tự sự phân công, hợp tác lao động. Quản lý là một hoạt động khách quan nảy sinh khi cần có nỗ lực tập thể để thực hiện mục tiêu chung. Quản lý diễn ra ở mọi tổ chức từ phạm vi nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp. Trình độ xã hội càng cao, yêu cầu quản lý càng lớn và vai trò của quản lý càng tăng.
Hoạt động quản lý bao gồm các yếu tố sau: Chủ thể quản lý: Là tác nhân tạo ra các tác động quản lý, chủ thể luôn là con người hoặc tổ chức. Chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý bằng các công cụ với những phương pháp thích hợp theo những nguyên tắc nhất định. Đối tượng quản lý: Tiếp nhận trực tiếp sự tác động của chủ thể quản lý. Tùy từng loại đối tượng khác nhau mà người ta chia thành các dạng quản lý khác nhau.
Khách thể quản lý: Chịu sự tác động hay sự điều chỉnh của chủ thể quản lý, đó là hành vi của con người, các quá trình xã hội. Mục tiêu của quản lý: Là cái đích phải đạt tới tại một thời điểm nhất định, do chủ thể quản lý định trước. Đây là căn cứ để chủ thể quản lý thực hiện các động tác quản lý cũng như lựa chọn các phương pháp quản lý thích hợp. Quản lý ra đời chính là nhằm nâng cao hiệu quả và năng suất công việc.