Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN, TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1.1 Một số khái niệm Một đất nước mà không có lãnh đạo nước đó sẽ rối loạn; Một gia đình mà không có người chủ chốt thì gia đình đó không nề nếp. Cũng như thế, một ngôi chùa mà không có vị trụ trì, ngôi Chùa đó sẽ không thể thực hiện được vai trò hoằng dương chánh pháp. Chính vì vậy, ngôi chùa cần có vị trụ trì lãnh đạo, điều hành mọi công việc. Ngôi chùa hưng thịnh là nhờ trụ trì thực hành sứ mạng hoằng dương chánh pháp.
Khái niệm “Chùa” Chùa: từ này đã xuất hiện trong tạng kinh, hay trong bộ kinh Pháp Cú, có hai cách gọi gắn liền với chức năng của nó.Khái niệm này là cổ xưa và trong các văn bản tiếng Phạn và tiếng Pali đầu tiên, nó có nghĩa là bất kỳ sự sắp xếp không gian hoặc phương tiện cho niềm vui và giải trí.Thuật ngữ này đã phát triển thành một khái niệm kiến trúc,trong đó nó dùng để chỉ khu nhà ở dành cho các nhà sư có không gian chung đặc biệt là trong Phật giáo. Khái niệm Trụ trì Trụ trì:Trong tiếng Pali (Phạn ngữ) gọi là Adhikāra (ph. A-Thik-ka- răc), là người giữ trách nhiệm trong Chùa, người bố thí cao thượng, quyền lực, người quản lý, luật lệ, điều hành, người chịu trách nhiệm. Ở góc độ khác, trụ trì được hiểu là “Trụ pháp vương gia, trì Như Lai Tạng”.
Trụ trì là trưởng tử của Đức Như Lai, thì phải biết làm tròn trọng trách của mình trong xã hội. Bởi trụ trì nương người mà giữ pháp, khiến cho Phật pháp trụ vững chắc không bị hoại. Giới, định, tuệ là công cụ trì Pháp (giữ pháp), còn tăng chúng, ruộng vườn các vật dụng…. là tứ tài để trì pháp” [77, tr.
Như vậy, trụ trì Chùa là người thực hiện vai trò chức năng của mình; thực hiện vai trò chức năng của Chùa; đồng thời thực hiện các thiết 18 chế tôn giáo, văn hóa, xã hội mà mình được tiếp nhận. Cho nên, các vị trụ trì mang yếu tố khác nhau, tùy theo giai đoạn diễn biến của lịch sử. Quan niệm vai trò Trụ trì Chùa Khmer Nam Bộ 1.1 Khái niệm “Chùa” đối với người Khmer Nam Bộ Ngôi chùa đối với người Khmer mang một tình cảm sâu sắc vì Chùa là nơi thờ Phật, nơi lưu giữ hài cốt của tổ tiên và điều mong ước của con người đang sống là khi mất đi được gia nhập vào Chùa để hòa cùng với đời sống Phật pháp, cho nên người Khmer có câu “Sống gửi thân, chết gửi cốt”. Mỗi ngôi Chùa là một công trình kiến trúc độc đáo, tiêu biểu trong khuôn viên, ẩn mình dưới tán lá của những cây cổ thụ như: cây dầu, cây sao hay cây thốt nốt.
Vì thế, ngôi Chùa trở thành trung tâm sinh hoạt văn hóa, cộng đồng, lưu giữ những giá trị văn hóa của người Khmer và là nơi các Sư sãi sinh sống. Vì vậy, người Khmer gọi Chùa là “Woat”: Woat từ này có nhiều nghĩa khác nhau, nhưng người Khmer mang ý nghĩa là thực hành, là nơi thực hành việc tu tập. Ngoài ra, “Chùa” còn được gọi là Āvāsa: (Pali Ph.a: a va săc, Khmer:អាវាស: Ph.a: avas): nơi ở, nhà, Tịnh xá … Mặt khác, đối với một số nhà nghiên cứu thường cho rằng: “ Chùa Khmer là nơi tu hành của các Sư sãi, là nơi thực hành các nghi lễ tôn giáo và các lễ hội có liên quan đến tôn giáo của bà con người Khmer trong sóc” [66, tr. “ Chùa là ngôi nhà lớn, nơi diễn ra mọi sinh hoạt của đời sống cá nhân mỗi người và cộng đồng phum sóc” [90, tr.
Theo chúng tôi, vấn đề cốt lõi của Chùa mang tính Phật giáo, từ quá khứ cho đến tương lai, Chùa phải mang tính giáo dục, trong đó giáo dục con người hướng thiện là điều cốt yếu, nếu không thực hiện chức năng giáo dục thì không phải là “Chùa”. Tầm quan trọng của vị Trụ trì đối với người Khmer Nam Bộ Đối với người Khmer: “Chùa” là nơi tôn nghiêm, đồng thời là nơi dạy chữ Pali và giáo lý của đạo Phật cho thanh thiếu niên Khmer tu học, để trở 19 thành những người “tốt đạo đẹp đời”, có tri thức và đức hạnh phục vụ cộng đồng xã hội. Chùa Khmer được coi như một thiết chế văn hóa trong phum sóc, là nơi sinh hoạt văn hóa Phật giáo; văn nghệ; thể thao và các trò chơi dân gian cho bà con Phật tử vào các dịp lễ tết. Đại bộ phận người Khmer theo Phật giáo Nam Tông, lấy Chùa làm nơi sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng, đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần và tâm linh.
Phật giáo Nam Tông từ lâu đã trở thành báu vật tinh thần vô giá của dân tộc Khmer. Chúng ta dễ dàng nhận thấy các giá trị tinh thần, những tinh hoa của đạo Phật luôn gắn chặt với bản sắc văn hóa dân tộc Khmer trong cộng đồng phum sóc. Chùa là sợi dây vô hình nối kết với đồng bào và tương tác cho nhau trong quá trình tồn tại và phát triển. Trước xu thế tác động của nền văn hóa ngoại lai thời hội nhập, thì Chùa là nơi giữ gìn ngôn ngữ, chữ viết, phong tục và lễ hội truyền thống của cộng đồng dân tộc Khmer.
Đối với người Khmer mỗi Chùa đều có vị trụ trì được xem như là người đại diện cho cộng đồng, được mọi người đặc niềm tin khá quan trọng. Với sự quan trọng đó, được thể hiện qua cách gọi truyền thống của người Khmer: Chau A-Thik-ka (ចៅអធិកា): người bố thí cao thượng, quyền lực, nội dung, người quản lý, luật lệ, điều hành, người chịu trách nhiệm; Chau A vas (ចៅអាវាស): chủ Chùa; Săng-krech (សង្គ្រាជ): từ này được biến thể của từ Săng-khắc- rech (សង្ឃរាជ): vua sãi, là người lớn nhất trong chùa, có khả năng thực hiện nhiều công việc; Mê-Woat (ចេវត្ត): chủ Chùa; Lôk-Kru (ចោកគ្រូ): thầy, vì sư trụ trì là người thầy hướng dẫn các đệ tử tu và học; Pres- têch-chăc-kun (គ្រះចត្ជៈគ្រះរុណ): là người lớn, người có quyền năng, người có đức tính cao thượng. Đức tính 20 này thường xuất phát từ việc tu tập; hành trì nghiêm mật về giới luật, thường sử dụng để gọi các vị Hòa Thượng; Lôk-thum (ចោកធំ): Sãi cả, Sư cả. Chính vì thế các học giả cho rằng: “Vị Sãi cả là người có tuổi, có đức độ, thời gian tu hành tại Chùa lâu năm và có sự hiểu biết về Phật học cũng như văn hóa truyền thống của người Khmer.
Ông cũng là người có khả năng giao tiếp, ứng xử nhanh nhẹn” [65, tr. “Vị Sãi cả - có tầm quan trọng to lớn, ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống, hoạt động của cộng đồng Khmer ở một phạm vi không gian nhất định”. Như vậy, sư trụ trì Chùa Khmer là người thực hiện vai trò chức năng của mình; thực hiện vai trò chức năng của Chùa; đồng thời thực hiện các thiết chế tôn giáo; văn hóa; xã hội. mà mình được tiếp nhận.3 Đặc điểm Phật Giáo Nam Tông Khmer Như chúng ta đã biết giáo lý căn bản nhất của đạo Phật không ngoài tư tưởng diệt khổ, tu đạo để đến Niết Bàn, mặc dù hai hệ phái Bắc tông và Nam tông có sự khác nhau về tư tưởng nhưng giáo lý căn bản dường như đồng nhau bởi vì Bắc Tông thực chất là sự phát triển trên nền của Phật giáo Nguyên thủy.
Điều này dẫn đến nguyên do như trên. Phật giáo Nam tông nói chung hay Phật giáo Nam tông Khmer nói riêng đều dựa vào giáo lý Tứ Thánh đế làm nồng cốt, vì thế chúng ta thấy một vài đặc trưng nổi bật. Về mặt giáo lý Đức Phật Thích Ca sau khi giác ngộ, bài pháp đầu tiên mà Ngài giảng dạy không phải với tư cách các lý thuyết siêu hình hay là những bài luận về đức tin, mà là các phạm trù theo đó chúng ta phải thể nghiệm trực tiếp đi đến sự giác ngộ. Bài pháp đầu tiên mà Ngài thuyết giảng: Khổ đế: khổ, sự không hài lòng, không thoả mãn, sự căng thẳng về tâm lý… nói lên sự khổ của cuộc đời mà con người phải gánh chịu.
21 Tập đế: nói lên cái nguyên nhân của sự khổ, sự không thỏa mãn của lòng ham muốn nên bị khổ… Diệt đế: ta đã thấy được nguyên do vì sao khổ nên từ bỏ lòng ham muốn đó… đấy chính là diệt đế. Đạo đế :là con đường tu hành chắc chắn diệt trừ các kết sử tập nhân của luân hồi ,để chứng quả giải thoát ra khỏi tam giới. Cuối cùng là bát chánh đạo: chánh kiến; chánh tư duy;chánh ngữ; chánh nghiệp; chánh mạng; chánh tinh tấn ;chánh niệm;và chánh định.2 Kiến trúc thẩm mỹ Mỗi sóc hay phum của người Khmer dù lớn hay nhỏ thì cũng đều có một ngôi Chùa. Toàn cảnh Chùa là một “không gian tâm linh”, mà vào những ngày thường bao giờ cũng yên tĩnh, trầm lắng.
Mỗi ngôi Chùa bao gồm nhiều khu vực kiến trúc như: cổng; chánh điện; sa- la, các dãy nhà tăng, nhà thờ cốt, tháp để cốt. Trong đó toàn bộ giá trị của nghệ thuật kiến trúc tập trung chủ yếu nhất là ở ngôi chánh điện. - Kiến trúc bên ngoài Hình ảnh đầu tiên mà chúng ta bắt gặp khi bước vào một ngôi Chùa đó chính là cổng Chùa. Hầu hết những cổng chùa Khmer thường được trang trí, điêu khắc tỉ mỉ và được xem là những công trình nghệ thuật nổi tiếng.
Trên cổng Chùa thường có hình của Raehu, hai bên thường có hình ảnh của rắn thần Naga. Tuy nhiên, những kiểu dáng của các Chùa không theo một khuôn mẫu nào nhất định. Chẳng hạn như cổng Chùa Phướn được xây dựng rất đồ sộ; phần trên là ba ngọn tháp theo kiểu cổng đền Angkor, trang trí bằng những hoa văn rất đẹp; phần dưới cổng có hình con rắn 7 đầu, nằm trên bờ lang can. Những cổng Chùa theo mô thức Chămpa thường chạm khắc hình những người đua ghe Ngo.
22 Chánh điện là phần quan trọng nhất của Chùa, dùng để thờ phụng Đức Phật, nằm ở chính giữa khuôn viên Chùa, và nền được xây cao hơn mặt đất. Nét đặc biệt trong kiến trúc của Chùa Khmer là luôn tuân thủ theo những qui định về kích thước, qui cách như sau: chiều dài bằng hai lần chiều rộng, chiều cao bằng chiều dài, mái và thân là hai phần bằng nhau. Các diện tích khung cửa, nhà ở và điện thờ cũng phải tuân theo quy định đó, chóp nóc thường là một tam giác cân, nhọn, chiều đứng dài hơn 1/4. Chùa nào cũng phải có hành lang bao quanh chánh điện.
Ở mỗi ngôi Chùa, chánh điện nằm ở trung tâm khuôn viên Chùa và được trải dọc theo hướng đông – tây. Chánh điện bao giờ cũng quay mặt về hướng Đông, vì người Khmer quan niệm rằng khi còn tại thế thì Đức Phật ở hướng tây quay mặt về hướng đông để cứu độ chúng sanh.