Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN, TỔNG QUAN NGƯỜI KHMER VÀ CÁC NGÔI CHÙA PHẬT GIÁO CỦA NGƯỜI KHMER Ở VĨNH LONG 1. Các khái niệm * Phật giáo Nam tông Phật giáo là một trong những tôn giáo lớn ở Việt Nam, từng chi phối mọi hoạt động văn hóa, tín ngưỡng, chính trị ở nước ta hàng trăm năm qua các triều đại như: Lý, Trần. Sau này, mặc dù có nhiều thay đổi trên trường chính trị, nhưng Phật giáo vẫn có vai trò quan trọng, chi phối nhiều mặt trong đời sống xã hội của nước ta. Hiện nay, Phật giáo vẫn được xem là tôn giáo có số lượng tín đồ đông nhất ở nước ta.
Không những người Việt tin, tu hành theo các giáo lý của Phật giáo, người Khmer ở Việt Nam nói chung, ở Vĩnh Long nói riêng cũng sùng đạo Phật. Khác với người Việt theo Phật giáo hệ phái Bắc Tông (còn gọi là Phật giáo Bắc truyền, Đại thừa), người Khmer ở Vĩnh Long nói riêng và ở Nam Bộ nói chung chủ yếu theo Phật giáo Nam tông (còn gọi là Phật giáo Nam truyền, Phật giáo nguyên thủy). Trước khi Phật giáo Nam tông thịnh hành và trở thành tôn giáo chính của người Khmer, người Khmer đã ảnh hưởng rất lớn bởi tôn giáo Bà La Môn [32]. Vì vậy, hiện nay trong văn hóa của người Khmer ở Nam Bộ còn rất nhiều tàn tích văn hóa của Bà La Môn, và trở thành nét đặc trưng văn hóa của tộc người này ở nơi đây.
Phật giáo Nam tông hay còn gọi là Phật giáo Nguyên thủy là tông phái của Phật giáo có nguồn gốc từ Ấn Độ, xuất hiện vào thế kỷ thứ VI trước công nguyên. Đến thế kỷ thứ II sau công nguyên, Phật giáo chia thành hai hệ phái lớn là Nam tông và Bắc tông. Bắc tông phát triển sang phía Bắc như: Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam… Nam tông phát triển xuống phía Nam thuộc 18 khu vực Đông Nam Á như: Myanma, Thái Lan, Indonesia, Xri Lanka…Người Khmer Nam bộ tiếp nhận Phật giáo Nam tông chủ yếu bằng con đường truyền giáo từ Ấn Độ qua các quốc gia Nam Á vào vương quốc Chân Lạp, trước khi một bộ phận người Khmer từ phía Tây Bắc vùng đất Nam bộ di chuyển đến châu thổ sông Cửu Long và sông Đồng Nai. Khi những lớp cư dân Khmer đầu tiên đến sinh sống ở vùng đất Nam bộ, Phật giáo đã trở thành tôn giáo chính của họ, là chỗ dựa tinh thần quan trọng trong công cuộc khai khẩn và định cư của người Khmer [1, tr23-25].
Xét về phương diện nhận thức, giáo lý của Phật giáo Nam tông tập trung vào ba chủ thuyết chính gồm: Chư hành vô thường, chư pháp vô ngã và niết bàn tịch tịnh, còn được gọi là “Tam Pháp Ấn”. “Vô thường” là chân hiển nhiên hàng ngày, hàng giờ, hàng phút xảy ra trước mắt ta, không có gì là thường trụ bất biến. Đối với con người, khi đã có sinh thì phải có tử, có thành ắt có hoại, bất cứ hiện tượng nào trên đời đều phải trải qua 4 thời kỳ “sinh, trụ, dị, diệt”, hay là “thành, trụ, hoại, không”. Sinh là nảy sinh ra, trụ là tồn tại phát triển trong một thời gian, dị là biến đổi, diệt là tiêu mất.
Cho nên, sinh, “sinh, trụ, dị, diệt” là luật vô thường. Đối với mọi sự vật, hiện tượng trong trời đất cũng đều phải trải qua 4 thời kỳ biến đổi như thế. Lâu dài hay mau, ngắn…mỗi kiếp sống đều có thủy có chung và làm thành một giai đoạn vô thường, mà nhà Phật gọi là “nhất kỳ vô thường” [13, tr97-98]. “Vô ngã”, theo Phật giáo, chúng ta đều có cái tâm thường trụ bất biến và bao trùm vũ trụ.
Cái tâm ấy đồng với bản thể của vũ trụ, nên có tánh bất nhị, không thấy có sự chia phân nhị ngã, nội ngoại…tức là không thấy có gì là riêng của ta hay của người. Đó là cái tâm đại bình đẳng mà nhà Phật gọi là tâm bát nhã hay tâm chân như, Phật tánh. Tất cả giáo lý của Phật giáo Nam tông đều gồm trong hai chủ thuyết “vô thường và vô ngã”[20, tr100-101]. Còn “Niết bàn”, Phật giáo Nam tông quan niệm Niết bàn là nơi để tách rời sinh tử.
Khi con người chán 19 đường sinh tử, khổ não, thì cầu chứng Niết bàn để thoát vòng luân hồi [13, tr109]. Thuyết “Tam pháp ấn” đã dần thấm sâu vào tư tưởng của người Khmer, tạo thành nếp nghĩ, nếp sinh hoạt tôn giáo chính thống. Những giáo lý của Phật giáo Nam tông cũng từng bước chiếm vị trí quan trọng trong sinh hoạt tôn giáo của người Khmer, tạo ra nguyên tắc chung mà mọi thế hệ người Khmer ở Việt Nam và người Khmer ở tỉnh Vĩnh Long phải tuân theo. * Biểu tượng Nghiên cứu về “biểu tượng”, Phạm Đức Dương (2002) cho rằng, “Nhờ có khả năng biểu trưng hóa (nét khu biệt giữa con người và động vật) nên loài người sống đồng thời với 3 thế giới” [15, tr5].
Ba thế giới đó chính là “thế giới thực tại ngoài con người, thế giới hữu hình, hữu hạn và khả tri; đó là thế giới tự nhiên, có trước con người” [15, tr5]. Thế giới thứ hai là “thế giới ý niệm nằm trong đầu não con người, là thế giới vô hình, vô hạn, vô khả tri, là sự phản ảnh của thế giới thực tại vào bộ não con người theo phương pháp biểu trưng hóa, là cái có sau” [15, tr5]. Thế giới thứ 3 tức là “thế giới biểu tượng do con người sáng tạo ra nhằm thông báo, biểu thị các ý niệm thành những biểu tượng làm cầu nối giữa thế giới thực tại và ý niệm” [15, tr5]. Theo định nghĩa này của Phạm Đức Dương, biểu tượng tức là “dùng hình tả nghĩa”, nói cách khác, thông qua hình ảnh, biểu tượng, hoa văn được chạm khắc trên các công trình kiến trúc, công trình nghệ thuật,…cần giải mã những biểu tượng đó để tìm ra các ý nghĩa thực được ẩn chứa trong các biểu tượng.
Còn UNESCO cho rằng, “Văn hóa là tập hợp hệ thống các biểu tượng, chúng quy định cách ứng xử của con người, giúp cho số đông người có thể giao tiếp được với nhau, đồng thời liên kết họ lại thành một cộng đồng riêng biệt” [15, tr5]. Và, theo định nghĩa này, Phạm Đức Dương (2002) xác định “đối tượng của Văn hóa học là hệ thống biểu tượng” và “nhiệm vụ của Văn hóa học là giải 20 mã tâm thức của người bản ngữ thông qua hệ thống các biểu tượng để phát hiện ra bản sắc văn hóa dân tộc” [15, tr5-6]. Nói cách khác, “biểu tượng bao giờ cũng là một tín hiệu hai mặt: “Cái biểu thị” (signifiant) được các nhà nghệ thuật gọi là “cái hiển”, là những dạng thức tồn tại của ý niệm dưới dạng vật chất, tức là các hình hài nằm trong thế giới thực tại mà chúng ta có thể nhìn thấy, cảm thấy và “cái được biểu thị” (signifie) được gọi là “cái mật”, là những ý nghĩa, những giá trị, những thông điệp vô hình, vô hạn, vô khả tri nằm trong thế giới ý niệm được gửi thân trong biểu tượng”. Chính những cái vô hạn, vô khả tri luôn tồn tại đồng thời với các hình hài vật chất nằm trong thế giới thực tại, nên “chúng ta phải tìm thấy một số quan hệ giữa cái hiển và cái mật để rồi giải mã được ý nghĩa của các biểu tượng” [15, tr6].
Đối với IU. Lotman, ông không dùng từ biểu tượng. Trong công trình nghiên cứu của mình, ông gọi là “Kí hiệu học văn hóa” [11, tr1]. Cho dù sử dụng từ “biểu tượng” hay “ký hiệu”, IU.
Lotman cũng khẳng định “để tạo ra sự tác động mạnh mẽ tới hội hoạ, văn học thế kỷ XIX đã phải đưa vào ngôn ngữ của mình các yếu tố hội hoạ. Những hiện tượng như vậy đã diễn ra trong những mối giao lưu văn hoá rộng lớn…Không có giao tiếp, không thể có nhận thức. Với ý nghĩa như thế có thể nói, đối thoại có trước ngôn ngữ và sinh ra ngôn ngữ. Chính đây là nền tảng của quan niệm về ký hiệu quyển: quần thể các tổ chức ký hiệu học có trước (không phải có tính phát hiện sự kiện, mà về mặt chức năng) các ngôn ngữ biệt lập riêng lẻ và là điều kiện tồn tại của ngôn ngữ biệt lập riêng lẻ ấy.
Không có ký hiệu quyển, ngôn ngữ chẳng những không thể hoạt động, mà còn không thể tồn tại. Các chủ thể khác nhau của ký hiệu quyển gắn bó với nhau trong sự tác động tương hỗ và không thể hoạt động nếu không nương tựa vào nhau. Với ý nghĩa như thế, ký hiệu học của thế giới hiện đại từng không ngừng mở rộng trong không gian suốt nhiều thế kỷ, ngày nay đã mang tính toàn cầu, hiện đang dung nạp vào bản thân cả những tín hiệu phát ra từ các vệ tinh, những 21 câu thơ của các thi sỹ, lẫn tiếng kêu của động vật” [11, tr106]. Không những vậy, trong cuộc sống của chúng ta, biểu tượng luôn song hành với những chuẩn mực giá trị, “buộc các nhà nghiên cứu văn hóa phải giải mã để thức nhận lối sống và lối tư duy, hành động của cư dân sáng tạo ra nó, được tôi luyện bởi nó và cũng vì nó mà đấu tranh, vì nó mà sống, chết” [27, tr106].
Hay nói cách khác, văn hóa hiểu theo một nghĩa nhất định nào đó là một hệ biểu tượng, và K.Jung đã định nghĩa một cách chính xác và giản dị nhất về biểu tượng là một cái gì ngoài ý nghĩa vốn có của nó, còn hàm chứa một ý nghĩa khác, tức là ngoài nghĩa đen còn có nghĩa bóng [27, tr270]. Từ những định nghĩa trên cho thấy, “biểu tượng” là khái niệm được sử dụng nhiều trong thực tế, nhất là trên lĩnh vực văn hóa học, tạo cho con người những nhận thức về hệ giá trị, ý nghĩa biểu đạt mà nó mang lại trong cuộc sống hàng ngày. Những biểu tượng luôn được bắt gặp ở các công trình kiến trúc, ở các lễ hội văn hóa, lễ hội dân gian, trên các vật dụng hàng ngày như: bình, tách, chén, đĩa, ấm trà.và cần được giải mã để tìm ra ý nghĩa của nó. Từ những cơ sở lý luận trên, chúng ta tập trung nghiên cứu các loại biểu tượng có liên quan đến thực vật, động vật, linh vật và các vị nhiên thần của đạo Bà La Môn giáo, cũng như những hình tượng về Phật giáo, nhằm tìm hiểu ý nghĩa của các loại hình tượng ấy được nghệ nhân Khmer xây dựng, điêu khắc trang trí trên các công trình kiến trúc chùa Phật giáo của người Khmer ở Vĩnh Long.
* Kiến trúc Theo “Từ điển Việt Nam” của Ban Tu thư Khai trí, xuất bản năm 1971, trang 450 có định nghĩa “kiến trúc” là “xây đắp, xây cất”.