CHƯƠNG I PHẬT GIÁO ÁN ĐỘ VÀ TRUNG QUOC 1. ÁN ĐỘ - MỘT TRONG NHỮNG TRUNG TÂM VĂN MINH LỚN CUA NHÂN LOẠI 1. Cơ sở hình thành nền văn minh An Độ 1. Điều kiện tự nhiên Bán đảo An Độ thuộc Nam A gan như hình tam giác.
Ở phía bắc, bán đảo bị chắn bởi dãy núi Hymalaya. Từ bên ngoài vào Ấn Độ rất khó khăn, chỉ có thể qua các con đèo nhỏ ở Tây-Bắc Ấn. Đông nam và Tây Nam Ấn Độ giáp Ấn Độ đương. Hàng năm tới mùa tuyết tan, nước từ dãy Hymalaya theo hai con sông Ấn (Indus) và sông Hằng (Ganges) lại đem phù sa tới bồi đắp cho những cánh đồng ở Bắc Ấn.
Nền văn minh ở lưu vực sông Indus (3.800 TCN) đã thấm đượm những tư tưởng và hình thức nghệ thuật mà về sau người ta xem như bản sắc tiêu biểu cho Ấn Độ. Dân cư Người dân xây dựng nên nền văn minh cô xưa nhất ở Ấn Độ ven bờ sông An là những người Dravida. Ngày nay những người Dravida chủ yếu cư trú ở miền nam bán đảo Ấn Độ. Khoảng 2000 năm TCN đến 1500 năm TCN có nhiều tộc người Aria tràn vào xâm nhập và ở lại bán đảo Ấn.
Sau này, trong quá trình lịch sử còn có nhiều tộc người khác như người Hy Lạp, Hung Nô, A Rap, Mông Cổ xâm nhập An Độ do đó cu dân ở đây có sự pha trộn khá nhiều dòng máu, nhiều chủng tộc, tôn giáo, ngôn ngữ và văn hóa phong phú đã tạo nên nên văn minh Ấn Độ 1. Các giai đoạn lịch sử chính 18 1. Nền văn minh cỗ xưa trên lưu vực sông Án (3.800 TCN) Các nhà khảo cô đã tìm ra cái nôi đầu tiên của Ấn Độ tại lưu vực sông Ấn. Tại đây người ta tìm thấy những pho tượng một người đàn ông trong tư thế suy tưởng gợi đến môn phái Yoga.
Rất nhiều hiện vật được tìm thấy ở khu vực Harappa và Mohenjo có niên đại từ 3. Những tìm tòi gần đây hé mở phần nào về sự lan tỏa của nền văn minh lưu vực sông Ấn rộng lớn về miền Bắc và miền Tây xa xôi cùng với cư dân lưu vực sông Ấn lại có quan hệ gần gũi với văn hóa Dravidia, từng phon thịnh từ rất lâu ở miền Nam Ấn Độ trước khi người Aryan đặt chân đến. Nền văn minh Véda (1.600-thé kỷ I TCN) Ở vào khoảng thời gian 100 đến 1.600 TCN, một chi của dòng ho Aryan rộng lớn, thường được gọi là người Indo-Aryan, di cư đến An Độ. Họ dem theo cùng với họ là tiếng Phạn và một tôn giáo dựa trên nghỉ lễ hiến tế các vị thần tượng trưng cho các thé lực của thiên nhiên như Indra, thần mưa và sắm, than Agni (lừa) va Varuma, chúa tế của các sông biển và mùa màng.
Những bài ngợi ca vị thần ấy được tập hợp lại thành bốn tập Kinh Veda. Lâu đời nhất là tập Rigveda (1.200 TCN) Đặc điểm của Kinh Veda là hướng con người đến tư tưởng cao cả, văn phong đẹp dé và bước chuyên những nghỉ thức từ bên ngoài vào kinh nghiệm nội tại. Thời ky này chính là thời ky có thuyết nói rằng cùng với nó là sự ra đời Đức Phật Vào năm 326 TCN Alexandros người Macedonia vượt sông Indus và đánh thắng một trận quyết định và rút về. Cuộc xâm lăng của ông đã để lại dau ấn của thế giới Hy Lạp, nâng văn hóa An Độ lên mới.
Chandragup-ta Maurya (hoàng dé Maurya) thống nhất trở lại toàn bộ các bộ lạc rời rạc và thành lập chế độ tập quyền, kinh đô được đặt tai Pataliputra (bang Bihar là một bang ở Tây Bắc Ấn Độ). Dé chế Gupta 19 Thời kỳ hoàng kim của nền văn minh An Độ thuộc vào thời kỳ dé chế Gupta. Thời kỳ này có nhiều thành tựu nổi bật về văn hóa trồng trọt. Thời kỳ này nền văn minh Án độ đã để lại cho nhân loại một khối lượng các di sản khổng 16.
Thành tựu chính của Văn minh Ấn Độ 1.1 Chữ viết, văn học Thời đại Harappa-MôhenJô Đarô, ở miền Bắc Án đã xuất hiện một loại chữ cổ mà ngày nay người ta còn lưu giữ được khoảng 3.000 con dấu có khắc những kí hiệu đồ họa. Thế ki VII TCN, ở đây đã xuất hiện chữ Brami, ngày nay còn khoảng 30 bang đá có khắc loại chữ này. Trên cơ sở chữ Brami, thế ki V TCN ở An Độ lại xuất hiện chữ Sanscrit, đây là cơ sở của nhiều loại chữ viết ở An Độ và Đông NamÁ sau này. Hai tác phẩm văn học nỗi bật thời cổ đại là Mahabharata và Ramayana.
Mahabharata là bản trường ca gồm 220. Bản trường ca này nói về một cuộc chiến tranh giữa các con cháu Bharata. Bản trường ca này có thé coi là một bộ “bách khoa toàn thư” phản ánh mọi mặt về đời sống xã hội An Độ thời đó. Ramayana là một bộ sử thi dài 48.000 câu thơ, mô tả cuộc tình giữa chàng hoàng tử Rama và công chúa Xita (con của nữ thần mẹ đất).
Thiên tình sử này ảnh hưởng tới văn học dân gian một số nước Đông Nam Á. Riêmkê ở Campuchia, Ramakiên ở Thái Lan chắc chắn có ảnh hưởng từ Ramayana. Thời cô đại ở An Độ còn có tập ngụ ngôn Năm phương pháp chứa đựng rất nhiều tư tưởng được gặp lại trong ngụ ngôn của một số dân tộc A-Au. Nghệ thuật Ấn Độ là nơi có nền nghệ thuật tạo hình phát triển rực rỡ, ảnh hưởng tới nhiều nước Đông Nam Á.
Nghệ thuật An Độ cổ đại hầu hết đều phục vụ một 20 tôn giáo nhất định, do yêu cầu của tôn giáo đó mà thể hiện. Có thé chia ra ba dòng nghệ thuật: Hinđu giáo, Phật giáo, Hồi giáo. Có rất nhiều chùa tháp Phật giáo, nhưng đáng kể đầu tiên là dãy chùa hang Ajanta ở miền trung An Độ. Đây là dãy chùa được đục vào vách núi, có tới 29 gian chùa, các gian chùa thường hình vuông và nhiều gian mỗi cạnh tới 20m.
Trên vách hang có những bức tượng Phật và nhiều bích hoạ rất đẹp. Các công trình kiến trúc Hinđu giáo được xây dựng nhiều nơi trên đất An Độ với mau sắc nghệ thuật tỷ mi và được xây dựng nhiều vào khoảng thé ki VII - XI. Tiêu biểu cho các công trình Hindu giáo là cụm đền tháp Khajuraho ở Trung Ấn, gồm tat cả 85 đền xen giữa những hồ nước và những cánh đồng. Những công trình kiến trúc Hồi giáo nồi bật ở An Độ là tháp Mina, được xây dựng vào khoảng thế ki XIII và lăng Taj Mahan được xây dựng vào khoảng thé ki XVII.
Khoa học tự nhiên a. Về Thiên văn: Người Ấn Độ cô đại đã làm ra lịch, họ chia một năm ra làm 12 tháng, mỗi tháng có 30 ngày. Cứ sau 5 năm thi họ lại thêm vào một tháng nhuận. Về Toán học: Người An Độ thời cé đại chính là chủ nhân của hệ thống chữ số mà ngày nay ta quen gọi là số Arập.
Đóng góp lớn nhất của họ là đặt ra số không, nhờ vậy mọi biến đổi toán học trở thành đơn giản, ngắn gọn hăn lên. (Người Tây Âu vì vậy mà từ bỏ số La Mã mà sử dụng số Arập trong toán học.) Họ đã tính được căn bậc 2 và căn bậc 3; đã có hiểu biết về cấp số, đã biết về quan hệ giữa 3 cạnh trong một tam giác Pi = 3,1416. Về Vật lí: Người An Độ cô đại cũng đã có thuyết nguyên tử. Thế ki V TCN, có một nhà thông thái ở An Độ đã viết “.Trái Dat, do trong lực của bản thân đã hút tat cả các vật về phía nó”[43,751].
Y học: Cũng khá phát triển. Người An Độ cổ dai đã mô tả các dây gân, cách chắp ghép xương sọ, cắt màng mắt, theo dõi quá trình phát triển của thai nhi. Họ để lại hai quyên sách là “Y học toát yếu” và “Luận khảo về trị lệu” [42,751]. Tư tưởng, tôn giáo An Độ là nơi sản sinh ra nhiêu tôn giáo như đạo Balamôn, đạo Phật, đạo Jain và dao Sikh.
Đạo Balamôn Đạo Balamôn ra đời trong hoàn cảnh đang có sự bat bình dang rất sâu sắc về đăng cấp và đạo này chứng minh cho sự hợp lí của tình trạng bất bình đăng đó [44,7]. Đạo Phật Dao Phật ra đời vào khoảng giữa thiên niên ki I TCN do thai tử Xitdacta Gôtama, hiệu là Sakya Muni (Thích Ca Mau Ni) khởi xướng [47,17]. Các tín đồ Phật giáo lay năm 544 TCN là năm thứ nhất theo Lịch Phat, ho cho là đây là năm Đức Phật nhập Niết bàn. Giáo lí cơ bản của đạo Phật là Tứ diệu dé (bốn điều)'.
Đạo Jain-Ky Na Đạo Jain-Ky Na cũng xuất hiện vào khoảng thế ki VI TCN. Dao này chủ trương không sát sinh một cách cực đoan và nhấn mạnh sự tu hành khổ hạnh [43,17]. 3 Tự diệu dé, còn gọi là tứ thánh dé, là bốn chân lý cao cả, là gốc cơ ban của Phật giáo. Tứ điệu dé là nội dung của kinh nghiệm giác ngộ của Phật Thích Ca Mâu Ni và cũng là nội dung chính của bài kinh đầu tiên, kinh chuyển pháp luân.
Tứ diệu dé gồm: Khổ dé, Tập khổ dé, Diệu dé và Dao dé 22 1. Đạo Sikh Dao Sikh xuất hiện ở An Độ vào khoảng thế ki XV. Giáo lí của đạo Xích có sự kết hợp giáo lí của đạo Hinđu và giáo lí của đạo Islam. Tín đồ đạo Xích tập trung rất đông ở bang Punjap và ngôi đền thiêng liêng của họ là ngôi đền Vàng ở Punjapd.
Đạo Balamôn là đạo sinh ra cuối cùng [48,81]. THỜI DIEM, DIEU KIỆN VA CAC BƯỚC DU NHAP CUA PHẬT GIAO ÁN ĐỘ VÀO TRUNG QUOC 1. Thời điểm Phật giáo An Độ du nhập vào Trung Quốc Có nhiều cách nói khác nhau, các sách cũng có sự ghi chép khá lộn xộn và mâu thuẫn về thời gian Phật giáo được truyền vào Trung Quốc. Phổ biến có thê kế đến những quan điểm sau: Có người nói Phật giáo được truyền vào Trung Quốc từ thời Yến Chiêu Vương thuộc thời kì Chiến Quốc, có người nói được truyền vào từ thời Tần Thủy Hoàng, có người nói được truyền vào từ thời Hán Vũ Đế, có nguoi nói được truyền vào từ những năm cuối thời triều Tây Hán, cũng có người nói được truyền vào từ thời Minh Dé thuộc triều Đông Hán.
Cách nói khá phổ biến trước đây cho răng, Phật giáo được truyền vào từ Trung Quốc từ năm Hán Vũ Đề thủy Binh thứ 10. Cách nói nay được phát hiện trong cuốn “Mau Tử lý hoặc luận” và “Tứ Thập Nhị chương kinh” vào những năm cuối triều Đông Han, sau đó lại được đăng trong sách sử “Hậu Hán thư” [6,143]. Cách nói này rất phô biến vào thời Ngụy Tấn Nam Bắc Triều.