Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm * Di sản văn hóa Di sản văn hóa là những sản phẩm do con người sáng tạo ra trong quá trình sinh sống và tương tác với môi trường, sản phẩm để lại mang giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, chứa đựng yếu tố tích cực góp phần giải thích những hoài nghi của con người ở cuộc sống hiện tại đối với quá khứ. Di sản văn hóa có thể chấm dứt ở thời điểm hiện tại và chỉ là minh chứng cho một thời kỳ trong quá khứ, hoặc cũng có thể là sự nối tiếp gắn liền giữa quá khứ và hiện tại để tiếp bước làm nền tảng cho sự phát triển trong tương lai hướng cho cộng đồng có tính đặc trưng mà cộng đồng khác không thể nào có được. Trong Luật di sản văn hoá năm 2001 được sửa đổi bổ sung năm 2009 ghi rõ: "Di sản văn hoá Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là bộ phận của cộng đồng văn hoá nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta”; “Di sản có thể thuộc quyền sở hữu của cá nhân, tổ chức, nhà nước".
Tại Điều 1, Luật Di sản văn hóa định nghĩa:“Di sản văn hoá bao gồm di sản văn hoá phi vật thể và di sản văn hoá vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Di sản văn hoá vật thể là dạng di sản văn hoá được bảo tồn và lưu giữ dưới dạng vật thể hữu hình mà ta có thể nhận biết được bằng xúc giác như các sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia. Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền 16 miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác. [1] Di sản văn hóa phi vật thể khác với di sản văn hóa vật thể ở chỗ, phương thức lưu truyền và truyền dạy các di sản này đều thông qua ký ức, truyền miệng, truyền nghề, thực hành qua ngôn ngữ và hành vi của con người cụ thể.
Những con người đó trước hết và quan trọng nhất là các nghệ nhân dân gian. Mở rộng phạm vi khái niệm, theo UNESCO di sản văn hóa “cultural heritage” là những tài sản mang tính thừa kế của người đời trước để lại có giá trị văn hóa bao hàm những văn hóa vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra. Những sản phẩm được để lại trong quá khứ là di sản, nhưng không phải bất cứ cái gì để lại trong quá khứ cũng là di sản mà phải có sự chọn lọc từ quá khứ. Điều 1, Công ước bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới năm 1972 định nghĩa di sản văn hóa như sau: “các di tích: các công trình kiến trúc, điêu khắc hoặc hội họa hoành tráng, các yếu tố hay kết cấu có tính chất khảo cổ, các văn bản, các hang động và các nhóm yếu tố có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, nghệ thuật hay khoa học.
Các quần thể: các nhóm công trình xây dựng đứng một mình hoặc quần tụ có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, nghệ thuật hay khoa học, do kiến trúc, sự thống nhất của chúng hoặc sự nhất thể hóa của chúng vào cảnh quan. Các thắng cảnh: các công trình của con người hoặc những công trình của con người kết hợp với các công trình của tự nhiên, cũng như các khu vực, kể cả các di chỉ khảo cổ học, có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học hoặc nhân chủng học.[2] Theo hướng phân loại của UNESCO thì di sản có ba loại chính: di sản thiên nhiên, di sản văn hóa và di sản hỗn hợp, trong đó di sản văn hóa được hiểu như sau: là các di tích (các tác phẩm kiến trúc, tác phẩm điêu khắc và hội 17 họa, các yếu tố hay các cấu trúc có tính chất khảo cổ học, ký tự, nhà ở trong hang đá và các công trình có sự liên kết giữa nhiều đặc điểm, có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật và khoa học); các quần thể các công trình xây dựng (các quần thể các công trình xây dựng tách biệt hay liên kết lại với nhau mà do kiến trúc của chúng, do tính đồng nhất hoặc vị trí của chúng trong cảnh quan, có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật và khoa học.); các di chỉ (các tác phẩm do con người tạo nên hoặc các tác phẩm có sự kết hợp giữa thiên nhiên và nhân tạo và các khu vực trong đó có các di chỉ khảo cổ có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học hoặc nhân chủng học.[2] Như vậy, qua tìm hiểu các khái niệm giúp cho việc định hình các nội dung, đối tượng thuộc lĩnh vực di sản có các giá trị về khoa học, lịch sử, văn hóa. Trên cơ sở đó xác định các nhiệm vụ cần thiết trong quy hoạch, bảo vệ và phát huy di sản văn hóa nhất là đối với lĩnh vực nghiên cứu khoa học và quản lý nhà nước. * Di sản văn hóa dưới nước Điều 1, Công ước bảo vệ di sản văn hóa dưới nước của UNESCO năm 2001, định nghĩa: “Di sản văn hóa dưới nước có nghĩa là tất cả các dấu vết của sự tồn tại của nhân loại mang tính văn hoá, lịch sử hoặc khảo cổ nằm một phần hoặc hoàn toàn dưới nước, theo chu kỳ hoặc liên tục, trong ít nhất 100 năm”.
Theo đó, di sản dưới nước gồm các địa điểm, cấu trúc, nhà cửa, đồ tạo tác và hài cốt con người, cùng với bối cảnh khảo cổ và tự nhiên của chúng; tàu thuyền, máy bay, các phương tiện vận tải hoặc bộ phận đi kèm, hàng hóa và các đồ đạc khác, cùng với bối cảnh khảo cổ và tự nhiên của chúng và các hiện vật mang các đặc tính thời tiền sử. [3] Trong sự phát triển của xã hội ngày nay, nhiều người cho rằng di sản văn hóa là những sản phẩm do con người sáng tạo ra, có vai trò đóng góp cho xã hội được con người ghi nhận và xác định chúng tồn tại trong môi trường tự nhiên và xã hội, những sản phẩm này phải được hiện hữu và phải được xếp 18 hạng thành các loại hình di sản theo quy định. Tuy nhiên, ít ai nghĩ rằng trong các sản phẩm của con người và thiên nhiên để lại, ngoài việc xuất lộ, vẫn còn nhiều di tích, hiện vật còn chìm sâu trong lòng đất, dưới nước chưa được khám phá. Trong mối tương quan giữa đối tượng khảo cổ này và những di tích gọi là di sản văn hóa, chúng vẫn là một phần của nhau vì xét cho cùng bản chất vẫn là những tài sản được truyền từ giai đoạn này sang giai đoạn khác và lưu giữ lại những ký ức của một cộng đồng, dân tộc hay một quá trình biến đổi của tự nhiên, được góp vào hành trình di sản với tên gọi di sản khảo cổ học.
Như vậy, di sản văn hóa dưới nước là một phạm vi của di sản văn hóa, được tồn tại bên dưới lòng nước có giá trị về văn hóa, khoa học, lịch sử được con người phát hiện. Những giá trị từ di chỉ tàu đắm Phú Quốc được xem là di sản văn hóa dưới nước góp phần vào di sản khảo cổ học của Việt Nam cần được làm sáng tỏ. Đối chiếu với đề tài nghiên cứu, có thể thấy di sản văn hóa dưới nước là một bộ phận của di sản văn hóa mang yếu tố, loại hình văn hóa vật thể. Việc xác định các khái niệm loại hình giúp người viết định hình được nội dung, phạm vi đối tượng nghiên cứu.
Xét thấy cần tìm hiểu các khái niệm của di sản văn hóa dưới nước và di sản khảo cổ học dưới nước để đặt trong mối liên hệ tương tác mà thấy rõ định hướng khai thác nội dung cho các phần nghiên cứu trong đề tài này. * Di sản khảo cổ học và khảo cổ học dưới nước Khái niệm di sản khảo cổ học (archaeological heritage) bắt đầu được sử dụng rộng rãi vào thập niên 80 của thế kỷ trước, “di sản khảo cổ học” chính thức có tên trong Hiến chương Lausanne về Bảo vệ và quản lý di sản khảo cổ học do Uỷ ban Quốc tế về Quản lý Di sản Khảo cổ học (ICAHM) đề xuất, được Đại Hội đồng ICOMOS thông qua trong cuộc họp ở Lausanne, Thụy Sĩ, vào tháng 10 năm 1990. 19 Trước đó, nền móng của khái niệm này đã được đề cập từ những năm 1931 trong Hiến chương Athens về Trùng tu di tích lịch sử và trong Khuyến nghị New Delhi của UNESCO về các nguyên tắc quốc tế áp dụng cho khai quật khảo cổ năm 1956. Tên gọi “di sản khảo cổ học” được nhắc đến thường xuyên hơn trong Hiến chương Quốc tế về Bảo tồn và Trùng tu Di tích và Di chỉ tại Đại hội Quốc tế lần thứ hai, Venice, năm 1964, Hiến chương này đã được ICOMOS chấp nhận năm 1965.