Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1. Một số khái niệm 1.1 Nguồn nhân lực Trong thời gian gần đây, nguồn nhân lực được xác định là một trong ba khâu đột phá nhằm làm tăng sức mạnh mềm của quốc gia, tạo ra sức mạnh tổng hợp, ảnh hưởng quyết định đến việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ ngày càng cao trong điều kiện hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng. Giáo trình Nguồn nhân lực, Trường Đại học Lao động - Xã hội, nguồn nhân lực với nghĩa rộng là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội “Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động”[45, tr.7] và theo nghĩa hẹp chỉ là khả năng đảm đương lao động chính của xã hội “Nguồn nhân lực bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động” [45, tr. Trong Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Phạm Minh Hạc cho rằng: “Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hoặc một địa phương, tức nguồn lao động được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những người lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung), bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của cơ chế chuyển đổi cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá” [25, tr.
Tổ chức Lao động quốc tế cho rằng “Nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động” [57, tr10], ở một góc độ khác, “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người của một tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình sản xuất của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia, khu vực, thể giới ”[57, tr. Cùng nói về định nghĩa nguồn nhân lực ở phương diện độ tuổi, tác giả Trần Khánh Đức cho rằng “Nguồn nhân lực hiểu theo nghĩa hẹp và có thể lượng hóa 17 được là một bộ phận của dân số bao gồm những người trong độ tuổi quy định, đủ 15 tuổi trở lên có khả năng lao động hay còn gọi là lực lượng lao động”[21, tr. Ba tác giả người Mỹ D.Dombush cho rằng “Nguồn nhân lực là toàn bộ trình độ chuyên môn của con người tích lũy được có khả năng đem lại thu nhập trong tương lai”[12, tr. Và những người theo lý thuyết phát triển cho rằng “Nguồn nhân lực được hiểu như nguồn lực con người của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, là một bộ phận của các nguồn lực có khả năng huy động, tổ chức quản lý để tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội như nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính” [12, tr.
Liên Hiệp Quốc khẳng định trình độ, kiến thức, tiềm năng của con người gọi chung là năng lực thể lực và trí lực và nhân cách, trong đó: năng lực thể lực là nền tảng và cơ sở để các năng lực về trí tuệ và nhân cách phát triển; năng lực trí lực là trình độ dân trí và trình độ chuyên môn kỹ thuật hiện có cũng như khả năng tiếp thu, phát triển tri thức; năng lực về nhân cách liên quan đến truyền thống lịch sử và nền văn hoá của từng quốc gia được kết tinh trong mỗi người và cộng đồng tạo nên bản lĩnh và tính cách đặc trưng của mỗi người. Khái niệm nguồn nhân lực có nội dụng rộng hơn khái niệm lao động. Tổ chức Lao động quốc tế và Kinh tế học định nghĩa lao động chủ yếu là nguồn lực con người đang và có thể làm việc được tính trong độ tuổi lao động, ở nước ta hiện nay lực lượng lao động được xác định là bộ phận dân số đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và thất nghiệp. Trong khi đó khái niệm nguồn nhân lực bao gồm tất cả các tiềm năng của con người trong tổ chức hay xã hội mà con người sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển, được hiểu là toàn bộ các khả năng về thể lực và trí lực của con người được vận dụng trong quá trình lao động, sản xuất.
Như vậy, nguồn nhân lực được tiếp cận ở những góc độ khác nhau sẽ có những định nghĩa khác nhau, ở góc độ của luận văn, chúng tôi thống nhất rằng: nguồn nhân lực là nói về con người gồm những yếu tố, tiêu chí về vai trò xã hội, trí 18 lực, thể lực và nhân cách nhằm tạo ra của cải vật chất và tinh thần để phát triển kinh tế - xã hội của tổ chức. Phát triển nguồn nhân lực UNESCO cho rằng “phát triển nguồn nhân lực là làm cho toàn bộ sự lành nghề của cư dân luôn luôn phù hợp yêu cầu phát triển của đất nước” Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng số 5 [71. Như vậy UNESCO sử dụng định nghĩa phát triển nguồn nhân lực theo nghĩa hẹp chỉ nói đến sự lành nghề, trình độ của cư dân để phù hợp với trình độ phát triển của quốc gia, đất nước. Tổ chức Lao động thế giới cho rằng phát triển nguồn nhân lực không chỉ là sự lành nghề hoặc bao gồm cả vấn đề đào tạo, mà còn là sự phát triển năng lực của con người để tiến tới có được việc làm và sự thoả mãn nghề nghiệp cũng như cuộc sống cá nhân.
Theo Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (giáo trình Quản trị nhân lực) thì “nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức [22, tr. So với phát triển con người thì phát triển nguồn nhân lực tập trung vào sự biến đổi về số lượng, chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, đồng thời đảm bảo sự phát triển của mỗi cá nhân. Theo quan điểm của Chương trình Phát triển Liên Hiệp quốc phát triển con người là sự mở rộng tự do của con người để sống cuộc sống trường thọ, khỏe mạnh và sáng tạo; nhằm đạt được các mục tiêu khác mà họ cho là có giá trị; và để tham gia tích cực vào việc kiến tạo một sự phát triển công bằng, bền vững trong một hành tinh chung. Con người vừa là người thực hiện, vừa là người hưởng lợi sự phát triển con người, với tư cách cá nhân và cả trong các nhóm.
Như vậy phát triển con người mang ý nghĩa rộng hơn, bao quát hơn và mang nhiều yếu tố xã hội hơn, lấy con người làm trung tâm cho sự phát triển, còn phát triển nguồn nhân lực chỉ tập trung vào nội dung sự biến đổi về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực trên các mặt thể lực, trí lực, kỹ năng, kiến thức và tinh thần cùng với quá trình tạo ra những biến đổi tiến bộ về cơ cấu nguồn nhân lực. Nói một cách khái quát nhất, phát triển nguồn 19 nhân lực chính là quá trình tạo lập và sử dụng năng lực toàn diện con người vì sự tiến bộ kinh tế- xã hội và sự hoàn thiện bản thân mỗi con người. Như vậy ở mỗi cách tiếp cận khác nhau sẽ có cách hiểu khác nhau về phát triển nguồn nhân lực. Có nhiều quan điểm về phát triển nguồn nhân lực nhưng ở góc độ nghiên cứu của luận văn, chúng tôi cho rằng: Phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động đầu tư vào một ngành hay lĩnh vực, nhằm tạo ra nguồn lực con người với số lượng và chất lượng đáp ứng nhu cầu phát triển của ngành hay lĩnh vực, đồng thời đảm bảo sự phát triển của mỗi cá nhân.
Số lượng, chất lượng nguồn nhân lực phải phù hợp với nhu cầu phát triển, xuất phát từ mục tiêu, yêu cầu công việc, yêu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng của nguồn lực. Sự phát triển số lượng, chất lượng, cơ cấu quá nhiều hay quá ít sẽ tạo ra sự dư thừa hay thiếu hụt so với nhu cầu đều là sự phát triển bất hợp lý, gây trở ngại cho sự phát triển nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực quản lý di tích Theo tác giả Nguyễn Như Ý trong Đại Từ điển Tiếng Việt di tích có hai nghĩa: Nghĩa thứ nhất: “Di tích là các loại dấu vết của quá khứ chủ yếu là nơi cư trú và mộ táng của người xưa được khảo cổ học nghiên cứu”; nghĩa thứ hai: “Di tích là di sản văn hóa lịch sử bất động: di sản văn hóa [58, tr. Các tác giả trong Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ thì giải thích rằng: “Di tích là dấu vết xưa còn lại” [56, tr.
Từ điển Bách khoa Việt Nam quan niệm: “Di tích là các loại dấu vết của quá khứ, là đối tượng nghiên cứu của khảo cổ học, sử học. được pháp luật bảo vệ, không ai được tùy tiện dịch chuyển, thay đổi, phá hủy” [56, tr. Pháp lệnh số 14-LCT/HĐNN của Hội đồng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh công bố ngày 04/04/1984 quy định rõ: “Di tích lịch sử - văn hóa là những công trình xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu và tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật cũng như có giá trị văn hóa khác hoặc có liên quan đến những sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hóa, xã hội” [39, tr. 20 Khoản 3, Điều 4, Luật Di sản văn hóa do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành năm 2001 quy định: “Di tích lịch sử - văn hóa là những công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học” [30]; theo Điều 1, Luật số 32/2009/QH12, sửa đổi bổ sung khoản 1 Điều 28 của Luật di sản văn hoá năm 2001 “Di tích lịch sử - văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau đây: Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu của quốc gia hoặc của địa phương; Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của quốc gia hoặc của địa phương trong các thời kỳ lịch sử; Địa điểm khảo cổ có giá trị tiêu biểu; Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật”[31].