Chương 1 LY LUAN CHUNG VE TON GIAO VA VAI TRO CUA MAT TRAN TO QUỐC VIỆT NAM ĐỐI VỚI CÔNG TAC TON GIAO 1. Quan điểm của chủ nghĩa Mac-Lénin và Dang ta về công tác tôn giáo của Mặt trận tổ quốc 1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về tôn giáo: Tôn giáo theo học thuyết Mác là thuật ngữ có nhiều sự biến đổi, nó được sain sinh trong quá trình phát triển của xã hội loài người. Mác xem xét vấn để tôn giáo như một hình thái ý thức xã hội, trên quan điểm lịch sử cụ thể và có liên hệ với các giai đoạn phát triển của xã hội loài người.
Như vậy theo Mác tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội, một mặt nó phan ánh tốn tại xã hoi mặt khác nó lại có xu hưởng phan kháng lại xã hội đã sản sinh ra nó, Vĩ tôn giáo là mot thuật ngữ có nhiều sự biến đổi cho nên khó có thể đưa ra mot định nghĩa chung về tôn giáo nhưng về cử bản tôn giáo là niém tin vào các lực lượng siêu nhiên và được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách siêu thực nhằm lý giải những vấn để trên trần thế cũng như thế giới bên kia, niễm tin đó được biểu hiện rất đa dụng tùy thuộc vào những thời kỳ lịch sử vào hoàn cảnh địa lý khác nhau. Cho nên xét về mặt chất thì theo Mác tôn giáo là sản phẩm của lịch sử, tức là tôn giáo là sự tự ý thức và sự tự cảm giác của con người. Tôn giáo là tình cảm tự thân của con người khi họ chưa làm chủ được bản thân, hoặc nếu đã làm chủ được bản thân thì đã đánh mình cho nên Mác khẳng định: “Con người sang tạo ra tôn giáo chứ tan giáo không sáng tạo ra con người”, Tôn giáo là một thực thể khách quan của loài người. Trang 6 Khéa Luận Tét Nghiệp SVTH: Phạm Thị Thu Chỉnh vì vậy ma vấn dé tôn giáo được đặt ra với chủ nghĩa Mác như một yếu tủ của triết học xã hội và của hoe thuyết và chủ nghĩa xã hội khoa học.
Những ý kiến quan điểm của Mác-Lênin déu xuất phát từ những ý tưởng có tính phương nháp luận. Về nội dung của tôn giáo đó là niém tin có tác động mạnh mẽ lên các cá nhân, lên cả cộng đẳng, tôn giáo thường đưa ra các giá trị có tính tuyệt đối làm mục đích cho con người, Cho nên nói đến tôn giáo là nói đến mỗi quan hệ giữa hai thể giđi thực và hư, tức là giữa con người với cái siêu nhiễn, cái trần tục với cái thiêng liêng, cái trần gian với cái siêu tran gian. Như vậy theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin thì tôn giáo là một loại hình thái ý thức xã hội phản ánh một cách hoang đường, hư ao hiện thực khách quan, va qua hình thức phản ánh của tôn giao, những hiện tượng tự nhiên trở thành siêu nhiên. Điểu này đã được Mac-Angghen khẳng định: “Tat cả mui tin giáu chẳng qua là sự phản ánh hư ảo vào trong đầu óc của con người, của những lực luiing đ bên ngoài chỉ phối cuộc sống hang ngày của họ, chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở tran thé đã mang hình thức những lực lượng siêu nhiên trần thể” [5,437].
Qua đó ta thấy Mác-Lẻnin đã xem xét vấn để ton giáo như là một hiện tượng xã hội đa chiều. Tôn giáo là hạnh phúc hư do, là thuốc phiện của nhân dẫn 1. Quan điểm của Hỗ Chi Minh và Dang ta về tôn giáo và công tác tôn giáo: Vấn để quyền tự do tin ngưỡng, tự do tôn giáo của nhân dân ta được Dang và Nhà nước rất quan tâm và đã trở thành chính sách nhất quán xuyên suốt trong moi thời kỳ do Đảng lãnh đạo. Và trong mọi thời kỳ Đẳng ta đều khẳng định: "Đảng lấy chủ nghĩa Mac-Lénin và tư tưởng Hỗ Chi Minh làm nền tang tư tưởng và kim chỉ nam chủ hành động” chỉnh vì vậy ma tư tưởng Hỗ Chi Minh là cơ sd củu Đăng ta trong việc để ra các chính sách về tự do tín ngưỡng tn giáo.
Trang 7 Khóa Luận Tốt Nghiệp SVTH: Phạm Thi Thu Theo Hỗ Chi Minh thì tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một quyển rất tiêu hiểu của mọi người dân, De dé theo người phải bảo đản mọi diéu kiện cho quyền đó được thực thi trong thực tế Hỗ Chi Minh đã xem xét vấn để tốn giáo với tinh than biện chứng Macxit và một cách sáng tạu. Người nhấn mạnh: “Tôn giáo là duy tâm, cộng sản là duy vật nhưng trong điểu kiện hiện tại, người theo đạo vẫn vàu Dang được ” 13, 115]. Người khẳng định tự do tin ngưỡng, tôn giáo là như cầu tinh than của một bộ phan dan cư vì thé người nói người dân đi theo cách mạng nhưng vẫn đồng thời theo các ton giáu, tín ngưỡng khác nhau được xem là bình thường, Cho nén người rất đúng khi nhận thấy được sự hòa hợp giữa đạo và đời. Không những thế chính sách tự do tín ngưỡng tôn giáo của người đã góp phan làm nên thắng lợi của cuộc cách mạng hang 08/1945.
Bên cạnh đó người còn chú trọng đến việc khẳng định tính pháp lý của quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Người thấy được rằng bon thực dân phong kiến dang thực hiện chính sách chia rẻ tốn giáo cho nên người đã cho rằng dưới chế độ thực dân phong kiến đẳng bào các tôn giáo đều bị áp bức, bóc lột nặng nể, Khi Tổ quốc bị ngoại bang đô hộ thì các tôn giáo cũng không được tự do, chủ nên người nói rằng đẳng bao các tôn giáo cẩn đoàn kết lại và đoàn kết tuàn dẫn đấu tranh chống lại kẻ thù để giành lại độc lập cho Tổ quốc và tự do cho tôn giáo. Ở đây, theo Người không chỉ có đoàn kết đẳng bào có tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau mà còn đoàn kết toàn dân, thấy được sức mạnh của nó góp phan đem đến thắng lựi cho cách mạng không những thế Hỗ Chí Minh còn chỉ rõ: “Công giáo hay không công giáo, Phật giáo hay không Phật giáo déu phải nên nỗ lực đấu tranh chủ nên độc lập của nước nha” |4]. Bên cạnh đó, Người đã quan tâm đến việc giải quyết những vấn để liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo và Người cho rằng cẩn phải bảo vệ và tôn trọng tất cả những nơi thử ty của tín ngưỡng, tôn giáo và các ngày lẻ lớn của ton giáo.
Trang R Khúa Luận Tất Nghiệp SVTH: Pham Thị Thu Ho Chi Minh đã thể hiện tư tưởng nhất quán của người trong việc tn trọng và hảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo, Người cho rằng cần phải tôn trong đức tin của mỗi người cho nên Người nhấn mạnh rằng: “Tín để Phat giáo tin ở Phật, tín để Gia tô tin ở Đức chúa trời, cũng như chúng ta tin i đạo Khong. Đó là những vị chi tôn nên chúng ta tin tưởng” [14,148]. Cho nên sau ngày đọc "Tuyên ngôn độc lập” tại phiên hop đầu tiên của Hội đồng Chính phủ. Người đã tuyên bố: “Tin ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết”.
Cho nén ngay trong hiến pháp đầu tiên của nước ta đã ghi nhận: “Nhân dân có quyền tự do tin ngưỡng” và các chính cương sau này cũng đã phi nhận “Ton trọng và baw dam quyền tự de tín ngưỡng của mọi người dân” Tự do tín ngưỡng, tin giáo trong tư tưởng của Người đó là quyền tự do tín ngưỡng, tự do thờ cúng, quyền được theo huậc không theo một tôn giáo nào không ai có quyển xâm phạm cả. Đẳng thời kiện quyết đấu tranh trừng trị những kẻ lợi dụng tôn giáo để phá hoại sự nghiệp cách mạng của nhân dan, tuyên truyền chiến tranh, phá hoại đoàn kết. Ngoài ra Người rất chú trọng đến tín ngưỡng truyền thống. đó là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên.
Người cho rằng né phù hop với truyền thống "uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trắng cảy”, Như vậy, Người đã khẳng định được tính pháp lý của quyền tự do tin ngưỡng tần giáo. Đó là một trong những việc làm phù hợp với đặc điểm của tình hình tin ngưỡng lon giáo ở nước ta thời kỳ đó. Như vậy, Hỗ Chi Minh đã không đưa ra một định nghĩa nào về tín ngưỡng, ton giáo nhưng Người đã đi sâu giải quyết những vấn để thuộc quyền tự do tin nuưỡng, tôn giáo của nhân dan ta và ngay từ đầu Người đã nhìn thấy được con đường phát triển của tôn giáo và người cũng vạch ra được những nội dung cốt lỗi trong công tác tôn giáo đó là: Thứ nhất phải quan tâm chăm lo đến phan đời và nhắn dao của quan chúng tín đỏ các tôn giáo. Thứ hai là ton trọng quyền tự do tín nưưỡng tôn giáo nhưng cương quyết xử lý những phan tử lựi dụng tin ngưỡng, tần gián, vi nhạm pháp luật.
Thứ ba là quan tâm đổi với tín đồ tôn giáo và chân thành đổi với chức sắc tôn giáo động viên họ tham gia vào sự nghiệp cách mang chung Trang 9 Ahéa Luận Tất Nghiện SVTH: Phạm Thị Thu của din tộc, Thứ tự là cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quan chúng có tín ngưỡng. Và theo người muốn thực hiện tốt công tác tôn giáo phải nghiên cứu sau sắc tinh hình thực tế và phải biết đoàn kết, thu hút mọi người dù cú đạo hay không có đạo để phấn đấu cho mục tiêu chung của dẫn tộc. Quán triệt tư tưởng đó của Hỗ Chi Minh, Đảng và Nhà nước ta tiếp tục củng cổ, vận dụng sáng tạo nó vào trong công cuộc đổi mới đất nước. Điều đó đã được thể hiện trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng cộng sản Việt Nam lan thứ VI và VIIL Đó là: “Cong dan Việt Nam có quyền tự do tín ngưỡng ton giáo.
theo hoặc không theo một tồn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách hiện hành của Nhà nước”.
Như vậy qua dé ta thấy dược rằng quan điểm về tôn giáo và công tác tôn giáo của Dang và Nhà nước ta là dựa trên nên tang của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hệ Chí Minh và sự vận dụng sáng tạo vào trong tình hình mới. Từ đó có thể nói tôn giáo là hệ thống các quan niệm tin ngưỡng sing bái một hay nhiều vị than linh nào đó. Và nó là một hình thái ý thức xã hội, nó mang tính lịch sử và tính quần chúng rộng rãi.