Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo là một hiện tượng xã hội tồn tại lâu dài, gắn liền với đời sống tinh thần của một bộ phận nhân dân và có mối liên hệ mật thiết đến các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, an ninh, quốc phòng. Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu chính đáng của nhân dân, đồng thời coi việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết giữa đồng bào theo tôn giáo và không theo tôn giáo là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, Đảng ta đã ban hành nhiều chủ trương, văn bản quan trọng nhằm đổi mới công tác tôn giáo, tiêu biểu như Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 16/10/1990 của Bộ Chính trị, Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 02/07/1998 của Bộ Chính trị về "Công tác tôn giáo trong tình hình mới" và Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX (năm 2003). Các văn kiện này nhấn mạnh tôn giáo là vấn đề còn tồn tại lâu dài, đạo đức tôn giáo có nhiều điểm phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới, đồng thời đặt ra yêu cầu phải cụ thể hóa công tác tôn giáo tại từng địa phương nhằm phát huy các nguồn lực xã hội và ngăn chặn các âm mưu lợi dụng tôn giáo gây mất ổn định an ninh chính trị.
Quận Tân Bình (Thành phố Hồ Chí Minh) là địa bàn đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, có vị trí cửa ngõ giao thông trọng yếu (sở hữu Sân bay Quốc tế Tân Sơn Nhất và trục Quốc lộ 22) cùng quy mô dân số đông nhất thành phố vào thời điểm nghiên cứu (hơn 754.000 người năm 2003, tỷ lệ dân tạm trú chiếm 36,15%). Đây cũng là nơi tập trung đa dạng các thành phần dân tộc và tôn giáo với tỷ lệ người dân theo đạo chiếm tới 43,58% dân số toàn quận. Thực tiễn trên đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nghiên cứu và tổng kết hoạt động của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Quận Tân Bình trong việc vận động quần chúng tín đồ, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân. Từ bối cảnh đó, tác giả Phạm Thị Thu đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp ngành Giáo dục Chính trị với đề tài: "Công tác tôn giáo của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Quận Tân Bình - Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn từ 1998 - 2004".
Mục tiêu nghiên cứu:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về tôn giáo, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về tôn giáo và công tác tôn giáo.
- Khảo sát, phân tích thực trạng công tác tôn giáo của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Quận Tân Bình trong giai đoạn từ năm 1998 đến năm 2004; đánh giá các thành tựu đạt được cũng như chỉ ra những tồn tại, thiếu sót.
- Đề xuất phương hướng và các nhóm giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh hiệu quả công tác tôn giáo của Mặt trận Tổ quốc Quận Tân Bình trong giai đoạn tiếp theo.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Trình bày quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề tôn giáo.
- Phân tích những kết quả đạt được từ thực trạng công tác tôn giáo của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Quận Tân Bình và việc triển khai thực hiện các nghị quyết của Đảng về công tác tôn giáo.
- Xuất phát từ những hạn chế, thiếu sót thực tế, đưa ra hệ thống kiến nghị và giải pháp chủ yếu để tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân trên địa bàn quận.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động và công tác tôn giáo của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Quận Tân Bình.
- Phạm vi không gian: Địa bàn Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ năm 1998 đến năm 2004.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận được xây dựng trên hệ thống lý luận chính trị Mác - Lênin và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Nhà nước Việt Nam về công tác tôn giáo:
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Lý luận chung về tôn giáo và vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với công tác tôn giáo
Chương 1 làm rõ các nội dung nền tảng về bản chất tôn giáo, đặc điểm tôn giáo tại Việt Nam và vị trí pháp lý, chính trị của Mặt trận Tổ quốc:
-
Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và Đảng ta về tôn giáo:
- Chủ nghĩa Mác - Lênin nhìn nhận tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội phản ánh hiện thực một cách hư ảo; tôn giáo ra đời và tồn tại dựa trên các nguồn gốc tự nhiên, kinh tế - xã hội, nhận thức và tâm lý. Tôn giáo mang tính lịch sử, tính quần chúng và tính chính trị. Khi xã hội còn áp bức, nghèo nàn và bất lực trước tự nhiên, con người tìm đến tôn giáo như một sự đền bù hư ảo ("Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân").
- Tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp cận vấn đề tôn giáo mang tính nhân văn và biện chứng thực tiễn sâu sắc: khẳng định quyền tự do tín ngưỡng là quyền cơ bản của con người; chủ trương đoàn kết lương - giáo, đoàn kết toàn dân để phục vụ kháng chiến và kiến quốc ("Công giáo hay không Công giáo, Phật giáo hay không Phật giáo đều phải nên nỗ lực đấu tranh cho nền độc lập của nước nhà").
- Đảng Cộng sản Việt Nam nhất quán chính sách tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc không theo tôn giáo của công dân; các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật; bảo hộ nơi thờ tự hợp pháp; đồng thời kiên quyết xử lý các hành vi lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật và phá hoại khối đại đoàn kết.
-
Đặc điểm tình hình tôn giáo ở Việt Nam:
- Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo với sự đan xen giữa tôn giáo nội sinh và tôn giáo du nhập. Lịch sử Việt Nam không có chiến tranh tôn giáo; các tôn giáo cùng tồn tại hòa bình, mang tính dung hợp và gắn liền với văn hóa bản địa (tính trội của yếu tố nữ/thờ Mẫu, truyền thống thờ cúng tổ tiên).
- Quy mô 6 tôn giáo chính trên phạm vi cả nước được tác giả thống kê:
- Phật giáo: Tôn giáo có số lượng tín đồ đông nhất với trên 10 triệu người, 31.302 nhà tu hành và 13.923 ngôi chùa.
- Công giáo: Trên 5 triệu tín đồ, 9.595 chức sắc, 13.554 chức việc, 34 giám mục, 2.162 linh mục, phân bổ trong 3 giáo tỉnh, 35 giáo phận và 2.030 xứ đạo.
- Tin Lành: Trên 400.000 tín đồ, 159 mục sư, 456 người truyền đạo, gần 500 cơ sở thờ tự (tập trung tại phía Nam và Tây Nguyên).
- Hồi giáo: Khoảng 94.000 tín đồ thuộc tộc người Chăm với 454 chức sắc.
- Hòa Hảo: Tôn giáo nội sinh hình thành năm 1939 tại An Giang, có hơn 1 triệu tín đồ (chủ yếu ở Đồng bằng sông Cửu Long).
- Cao Đài: Tôn giáo nội sinh ra đời năm 1926 tại Nam Bộ, có hơn 2 triệu tín đồ với nhiều hệ phái (Tây Ninh, Minh Chơn Đạo, Tiên Thiên, Chỉnh đạo Bến Tre, Cao Đài truyền giáo Đà Nẵng).
- Tác giả phân tích tác động kép (tích cực và tiêu cực) của các tôn giáo, đặc biệt là Phật giáo và Công giáo, đối với đạo đức, lối sống, tâm lý và các hoạt động xã hội từ thiện, cũng như cảnh báo nguy cơ bị các thế lực thù địch lợi dụng nhằm thực hiện âm mưu "diễn biến hòa bình".
-
Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với công tác tôn giáo:
- Căn cứ Điều 9 Hiến pháp 1992, Mặt trận Tổ quốc là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, là nơi thể hiện ý chí, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân.
- Trách nhiệm của Mặt trận trong công tác tôn giáo bao gồm: tuyên truyền, vận động chức sắc, tín đồ thực hiện chủ trương, pháp luật; phát động phong trào thi đua yêu nước ("Sống tốt đời đẹp đạo", "Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội"); chăm lo đời sống vật chất, văn hóa cho đồng bào có đạo; tham gia giám sát việc thực hiện chính sách tôn giáo; đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.
Chương 2: Công tác tôn giáo của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Quận Tân Bình - Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1998-2004
Chương 2 đi sâu vào khảo sát địa bàn thực địa Quận Tân Bình, phân tích cơ cấu tôn giáo và tiến trình triển khai hoạt động của Mặt trận quận qua các năm:
-
Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội Quận Tân Bình:
- Địa giới và dân cư: Diện tích tự nhiên 22,38 km² (trong đó sân bay Tân Sơn Nhất chiếm 8,447 km²). Tính đến ngày 01/10/2003, dân số toàn quận đạt 754.160 người (127.149 hộ gia đình), mật độ dân số khu dân cư là 30.556 người/km² (mật độ toàn quận 19.024 người/km²). Dân số tạm trú chiếm 36,15%, tăng cơ học bình quân 4–5%/năm. Cơ cấu dân tộc gồm: Kinh (93,33%), Hoa (6,38%), Khmer (0,11%), Tày (0,05%), Nùng (0,03%), Mường (0,02%), Chăm (0,02%), Thái (0,01%).
- Kinh tế: Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 17%/năm. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh từ công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp sang thương mại - dịch vụ. Tân Bình dẫn đầu thành phố về giá trị sản xuất công nghiệp (chiếm tỷ trọng 19,5% toàn thành phố); kim ngạch xuất khẩu năm 2000 đạt 46,25 triệu USD; kim ngạch nhập khẩu năm 2000 đạt 73 triệu USD.
- Văn hóa - xã hội: Giai đoạn 1998–2004, quận thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo với nguồn vốn 6,6 tỷ đồng, hỗ trợ 13.514 hộ vay vốn, giúp 1.744 hộ vượt nghèo; xây dựng 214 nhà tình nghĩa và 225 nhà tình thương. Trình độ học vấn: phổ thông đạt 89,697%, cao đẳng 1,19%, đại học 5,89%, trên đại học 0,235%, mù chữ 4,25%.
-
Tình hình tôn giáo trên địa bàn Quận Tân Bình:
- Toàn quận có 140 cơ sở tôn giáo với tỷ lệ dân số theo tôn giáo là 43,58% (không theo tôn giáo là 56,42%).
- Công giáo: 60 nhà thờ, tín đồ chiếm 22,9% dân số toàn quận.
- Phật giáo: 74 cơ sở (gồm 62 chùa, 4 tịnh thất, 4 tịnh xá, 4 niệm Phật đường), tín đồ chiếm 19,62% dân số.
- Tin Lành: 4 nhà thờ, tín đồ chiếm 0,37% dân số.
- Cao Đài: 3 thánh thất, tín đồ chiếm 0,4% dân số.
- Hồi giáo: Tín đồ chiếm 0,02% dân số.
- Hòa Hảo: Tín đồ chiếm 0,01% dân số.
-
Kết quả công tác tôn giáo của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Quận Tân Bình (1998–2004):
- Giai đoạn 1998–1999: Phối hợp với Ban Tôn giáo tổ chức quán triệt Chỉ thị 37/BCT và Nghị định 26/CP cho chức sắc tôn giáo. Phối hợp tổ chức Lễ Phật Đản Phật lịch 2543 tại chùa Giác Lâm; tổ chức 4 đoàn thăm hỏi 28 giáo xứ, dòng tu nhân dịp Giáng sinh 1999; vận động đồng bào tôn giáo cứu trợ lũ lụt miền Trung (chuyển về Tòa Tổng Giám mục 168 triệu đồng, 5,5 tấn hàng hóa; 5 giáo xứ cứu trợ trực tiếp 110 triệu đồng).
- Giai đoạn 2000–2001: Hướng dẫn tăng ni, phật tử và giáo dân tham gia hoạt động xã hội từ thiện, đền ơn đáp nghĩa; xây dựng nhà tình thương, thăm hỏi trẻ mồ côi và đối tượng chính sách. Tổ chức họp mặt biểu dương các gương điển hình đồng bào Công giáo dịp Giáng sinh.
- Giai đoạn 2002–2003: Xây dựng lực lượng cốt cán trong tôn giáo; vận động chấp hành Nghị định 26/1999/NĐ-CP; triển khai tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX; lồng ghép công tác Mặt trận với việc bảo tồn truyền thống thờ cúng tổ tiên và phong trào hiến máu nhân đạo, nghĩa vụ quân sự, phòng chống HIV/AIDS.
- Năm 2004: Giới thiệu chức sắc tôn giáo tiêu biểu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; phổ biến Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo; vận động đóng góp quỹ vì người nghèo, trao học bổng cho học sinh nghèo có đạo, quyên góp cứu trợ nạn nhân sóng thần; duy trì hoạt động khám chữa bệnh và cấp thuốc miễn phí tại các cơ sở tôn giáo.
- Thành tựu chung giai đoạn 1998–2004: Vận động xây dựng 370 căn nhà tình thương; duy trì tỷ lệ thanh niên có đạo nhập ngũ đạt gần 50% chỉ tiêu hàng năm (trên 200 thanh niên/năm); khoảng 52% khu phố có đông đồng bào tôn giáo đạt danh hiệu khu phố văn hóa và khu phố xuất sắc.
-
Những hạn chế trong công tác tôn giáo tại địa phương:
- Việc phổ biến, quán triệt Nghị định 26/CP và Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo chưa sâu rộng, một bộ phận tín đồ nhận thức chưa đầy đủ, còn xuất hiện hoạt động truyền đạo trái phép và mê tín dị đoan.
- Tổ chức bộ máy Ban Đại diện Phật giáo quận và Ban Đoàn kết Công giáo quận hoạt động chưa thật chặt chẽ, thiếu tính đồng bộ, chưa tạo được sự liên kết mật thiết giữa các tôn giáo.
- Một số tranh chấp, khiếu kiện liên quan đến nhà đất, cơ sở vật chất tôn giáo chưa được giải quyết dứt điểm. Nhiều cơ sở tôn giáo xuống cấp chậm được xem xét cấp phép trùng tu.
- Hoạt động của các tôn giáo ít tín đồ (Cao Đài, Hòa Hảo, Tin Lành) còn mờ nhạt, chưa hòa nhập sâu vào các phong trào chung.
- Một số chức sắc tôn giáo chưa chủ động nắm bắt đường lối, chính sách của Đảng; đội ngũ cán bộ Mặt trận chuyên trách công tác tôn giáo còn mỏng, thiếu kinh nghiệm thực tế trong xử lý các vấn đề phát sinh.
Chương 3: Phương hướng chủ yếu và giải pháp cơ bản để đẩy mạnh công tác tôn giáo của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Quận Tân Bình - Thành phố Hồ Chí Minh
Trên cơ sở đánh giá thực trạng, Chương 3 xác định định hướng và các giải pháp thực thi cho giai đoạn tiếp theo:
-
Phương hướng thực hiện:
- Quán triệt sâu sắc các mục tiêu của Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX: củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức mạnh tôn giáo phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và ổn định chính trị địa phương.
- Nâng cao năng lực hoạt động của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc quận và 15 phường; bố trí cán bộ làm công tác tôn giáo có thâm niên, kinh nghiệm và bản lĩnh chính trị vững vàng.
- Tuyên truyền, phổ biến kịp thời các văn bản pháp luật, trọng tâm là Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo; tạo điều kiện cho các tôn giáo hoạt động thuần túy theo pháp luật; chủ động phòng ngừa, đấu tranh chống việc lợi dụng tôn giáo chống phá chế độ.
- Duy trì nền nếp thăm hỏi, chúc mừng các tổ chức, chức sắc tôn giáo vào các ngày lễ trọng và dịp Tết cổ truyền. Kịp thời biểu dương, nhân rộng các gương điển hình "Người tốt việc tốt" trong đồng bào có đạo.
- Tăng cường vận động chức sắc, tín đồ tích cực tham gia các chương trình xã hội, từ thiện, bảo vệ môi trường, phòng chống tệ nạn xã hội.
- Gắn kết chặt chẽ hoạt động tôn giáo với truyền thống văn hóa dân tộc, đặc biệt là đạo lý thờ cúng tổ tiên, tri ân người có công; hướng dẫn các hoạt động giao lưu quốc tế của các tôn giáo tuân thủ đúng đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ của Đảng và Nhà nước.
- Đẩy mạnh công tác sơ kết, tổng kết việc thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6 khóa VIII nhằm rút ra bài học kinh nghiệm sát thực tiễn.
-
Giải pháp cơ bản:
- Nâng cao nhận thức lý luận và chính trị: Đẩy mạnh công tác bồi dưỡng quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức trong toàn hệ thống chính trị quận.
- Kiện toàn tổ chức và bồi dưỡng cán bộ: Củng cố Ban Đoàn kết Công giáo và Ban Đại diện Phật giáo quận; xây dựng quy chế phối hợp công tác chặt chẽ; tổ chức tập huấn chuyên sâu về kỹ năng vận động quần chúng tín đồ cho cán bộ Mặt trận cơ sở.
- Đổi mới phương thức tuyên truyền, vận động: Đa dạng hóa hình thức phổ biến pháp luật tôn giáo; kết hợp tuyên truyền trên hệ thống thông tin cơ sở với việc lồng ghép qua các buổi sinh hoạt giáo lý, lễ hội tôn giáo.
- Phối hợp giải quyết dứt điểm các vướng mắc cơ sở vật chất: Phối hợp cùng chính quyền rà soát, giải quyết thỏa đáng, đúng pháp luật các vụ việc tranh chấp, khiếu kiện đất đai liên quan đến cơ sở thờ tự; tạo điều kiện cấp phép sửa chữa, xây dựng nơi thờ tự đúng quy định.
- Gắn kết phong trào thi đua yêu nước với nhiệm vụ kinh tế - xã hội: Lồng ghép phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư" với các chương trình xóa đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, chăm lo đời sống vật chất, nâng cao dân trí cho đồng bào tôn giáo.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã hệ thống hóa và lượng hóa thực trạng công tác tôn giáo tại Quận Tân Bình giai đoạn 1998–2004 thông qua các số liệu thống kê cụ thể:
Bảng 1: Cơ cấu tôn giáo và cơ sở thờ tự trên địa bàn Quận Tân Bình (tính đến năm 2003–2004)
| Tôn giáo |
Số lượng cơ sở thờ tự |
Tỷ lệ tín đồ so với dân số toàn quận (%) |
| Phật giáo |
74 (62 chùa, 4 tịnh thất, 4 tịnh xá, 4 niệm Phật đường) |
19,62% |
| Công giáo |
60 nhà thờ |
22,90% |
| Cao Đài |
3 thánh thất |
0,40% |
| Tin Lành |
4 nhà thờ |
0,37% |
| Hồi giáo |
- |
0,02% |
| Hòa Hảo |
- |
0,01% |
| Không theo tôn giáo |
- |
56,42% |
| Tổng cộng cơ sở/tỷ lệ theo đạo |
140 cơ sở thờ tự |
43,58% có theo đạo |
Bảng 2: Kết quả tuyên dương phong trào "Người tốt việc tốt" trong đồng bào tôn giáo Quận Tân Bình
| Năm |
Số lượng tín đồ tôn giáo được khen tặng danh hiệu "Người tốt việc tốt" |
| 1998 |
1.411 tín đồ |
| 1999 |
1.627 tín đồ |
| 2000 |
1.185 tín đồ |
| 2001 |
1.290 tín đồ |
| 2002 |
1.071 tín đồ |
| 2003 |
1.136 tín đồ |
Đóng góp về mặt khoa học và thực tiễn:
- Khẳng định tính đúng đắn và sự cần thiết phải vận dụng sáng tạo chủ trương, đường lối của Đảng về công tác tôn giáo vào điều kiện cụ thể của một quận đô thị hóa nhanh tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Cung cấp bức tranh toàn diện, có số liệu minh chứng cụ thể về thực trạng tổ chức, hoạt động và các phong trào thi đua yêu nước trong đồng bào các tôn giáo tại Quận Tân Bình giai đoạn 1998–2004.
- Đề xuất hệ thống phương hướng và giải pháp đồng bộ, có tính khả thi, phục vụ trực tiếp cho việc nâng cao hiệu quả công tác vận động quần chúng tín đồ của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp cơ sở.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
-
Hạn chế của đề tài:
- Phạm vi thời gian nghiên cứu dừng lại ở mốc năm 2004; do đó chưa đánh giá được tác động toàn diện và lâu dài của việc triển khai Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo (có hiệu lực từ ngày 15/11/2004) trong các giai đoạn tiếp theo.
- Số liệu và thông tin thực chứng chủ yếu dựa trên các báo cáo hành chính của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và Ủy ban nhân dân Quận Tân Bình; các dữ liệu về một số tôn giáo có quy mô nhỏ (Tin Lành, Hồi giáo, Hòa Hảo) còn tương đối tóm lược.
-
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Khảo sát thực trạng công tác tôn giáo tại Quận Tân Bình sau khi thực hiện việc tách quận (thành lập Quận Tân Phú theo Nghị định số 130/2003/NĐ-CP của Chính phủ) và sau khi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo mới được áp dụng.
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu so sánh mô hình công tác tôn giáo của Mặt trận Tổ quốc giữa các quận trung tâm nội thành và các quận/huyện vùng ven tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng tham khảo:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Giáo dục Chính trị, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Tôn giáo học, Công tác xã hội và Quản lý văn hóa.
- Cán bộ Mặt trận Tổ quốc, cán bộ Ban Dân vận, Ban Tôn giáo các cấp tại các đô thị đang trong tiến trình đô thị hóa.
- Nội dung có giá trị tham khảo cao:
- Bảng tổng hợp số liệu khảo sát phân bổ cơ sở thờ tự và tỷ lệ tín đồ các tôn giáo tại Chương 2.
- Mô hình vận động đồng bào tôn giáo tham gia các phong trào xã hội hóa: xây dựng nhà tình thương, phong trào "Người tốt việc tốt", đền ơn đáp nghĩa và cứu trợ thiên tai.
- Hệ thống phương hướng và bài học kinh nghiệm trong việc phối hợp giữa Đảng ủy, Ủy ban nhân dân và Mặt trận Tổ quốc cấp quận đối với việc giải quyết các vấn đề tôn giáo phát sinh tại cơ sở.
Câu hỏi thường gặp
1. Tỷ lệ dân số theo tôn giáo và sự phân bổ các cơ sở thờ tự tại Quận Tân Bình giai đoạn 1998–2004 như thế nào?
Trả lời: Tỷ lệ dân số có theo tôn giáo tại Quận Tân Bình chiếm 43,58% (không theo tôn giáo chiếm 56,42%). Toàn quận có 140 cơ sở thờ tự. Trong đó, Công giáo có 60 nhà thờ (tín đồ chiếm 22,9% dân số); Phật giáo có 74 cơ sở gồm 62 chùa, 4 tịnh thất, 4 tịnh xá, 4 niệm Phật đường (tín đồ chiếm 19,62% dân số); Tin Lành có 4 nhà thờ (0,37% dân số); Cao Đài có 3 thánh thất (0,4% dân số); Hồi giáo chiếm 0,02% và Hòa Hảo chiếm 0,01% dân số.
2. Mặt trận Tổ quốc Quận Tân Bình đã đạt được những kết quả cụ thể nào trong công tác từ thiện xã hội và phong trào thi đua yêu nước giai đoạn 1998–2004?
Trả lời: Mặt trận quận đã vận động xây dựng được 370 căn nhà tình thương cho người nghèo; vận động đồng bào tôn giáo cứu trợ lũ lụt miền Trung (chuyển về Tòa Tổng Giám mục 168 triệu đồng và 5,5 tấn hàng hóa; 5 giáo xứ tự cứu trợ trực tiếp 110 triệu đồng); duy trì tỷ lệ thanh niên tôn giáo tham gia nghĩa vụ quân sự hàng năm đạt gần 50% chỉ tiêu (trên 200 thanh niên/năm); tuyên dương hàng nghìn lượt tín đồ đạt danh hiệu "Người tốt việc tốt" qua các năm (năm 1998: 1.411; năm 1999: 1.627; năm 2000: 1.185; năm 2001: 1.290; năm 2002: 1.071; năm 2003: 1.136 tín đồ).
3. Khóa luận chỉ ra những mặt tồn tại nào trong công tác tôn giáo của Mặt trận Tổ quốc Quận Tân Bình?
Trả lời: Các tồn tại chính gồm: việc tuyên truyền Nghị định 26/CP và Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo chưa thật sâu rộng; một số tín đồ còn vi phạm pháp luật và tham gia mê tín dị đoan; tổ chức Ban Đại diện Phật giáo và Ban Đoàn kết Công giáo quận hoạt động chưa đồng bộ, chưa chặt chẽ; còn vướng mắc khiếu kiện đất đai cơ sở thờ tự chưa giải quyết dứt điểm; hoạt động của các đạo Cao Đài, Hòa Hảo, Tin Lành còn trầm lắng; đội ngũ cán bộ Mặt trận làm công tác tôn giáo còn thiếu về số lượng và kinh nghiệm thực tiễn.
4. Những căn cứ pháp lý và văn kiện Đảng chủ yếu nào được tác giả sử dụng làm cơ sở lý luận cho công tác tôn giáo?
Trả lời: Tác giả căn cứ vào Nghị quyết 24-NQ/TW (1990) của Bộ Chính trị về công tác tôn giáo, Chỉ thị 37-CT/TW (1998) của Bộ Chính trị, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX (2003), Nghị định số 26/1999/NĐ-CP của Chính phủ, Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004, Điều 9 Hiến pháp năm 1992 và các Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VIII, IX của Đảng.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Thị Thu đã hệ thống hóa các quan điểm nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng về tôn giáo, đồng thời phản ánh toàn diện thực trạng công tác tôn giáo của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Quận Tân Bình giai đoạn 1998–2004. Công trình làm nổi bật các thành tựu vận động đồng bào có đạo tham gia phát triển kinh tế, thực hiện các phong trào thi đua "Tốt đời đẹp đạo" và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, đồng thời thẳng thắn chỉ ra những hạn chế trong công tác quản lý và tổ chức thực hiện ở cơ sở. Trên cơ sở đó, khóa luận đã đề xuất hệ thống phương hướng và giải pháp thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả công tác tôn giáo của Mặt trận Tổ quốc trong điều kiện đô thị hóa hiện đại.