phần mở đầu, danh mục và tài liệu tham khảo. Nội dung luận văn được trình bày gồm: Chƣơng 1. Những vấn đề lý luận về vai trò của MTTQ Việt Nam trong thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở. Thực trạng vai trò của MTTQ Việt Nam trong thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở trên địa bàn quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
Một số giải pháp phát huy vai trò của MTTQ Việt Nam trong thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở. 5 Chƣơng 1 Những vấn đề lý luận về vai trò của Mặt trận tổ quốc Việt Nam trong thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở 1.1 Khái niệm dân chủ ở cơ sở, thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở 1.1 Khái niệm dân chủ ở cơ sở "Dân chủ" có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp "demos" nghĩa là Nhân dân và "kratos" nghĩa là quyền lực. "Demokratia" có nghĩa là Nhân dân cai trị, quyền lực thuộc về Nhân dân. "Demokratia" là chỉ một phương thức tổ chức quyền lực – chính quyền do công dân bầu ra và ủy quyền để thực hiện các chức năng quản lý xã hội;[32, tr.65] qua đó cho phép họ có quyền giám sát, bãi miễn nhân sự nếu tổ chức ấy đi ngược lại với lợi ích, quyền lực của chính quyền đó.
Theo tiến trình lịch sử nhân loại, dân chủ bao gồm các kiểu sau: dân chủ chủ nô, dân chủ tư sản, dân chủ XHCN. Trong những kiểu dân chủ này thì dân chủ dân chủ XHCN đóng vai trò to lớn trong cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp, xã hội và con người, khác với nền dân chủ chủ nô và dân chủ tư sản chỉ mang tính hình thức, nền dân chủ XHCN được xem là nền dân chủ thực sự. Trong nền dân chủ XHCN, những giá trị dân chủ, quyền lực của Nhân dân được thể chế hóa thành pháp luật, thành nguyên tắc, mục tiêu của sự phát triển, các giá trị và chuẩn mực của dân chủ thâm nhập, chi phối hoạt động trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Nhận rõ bản chất của dân chủ XHCN, ngay từ khi chính quyền nhân dân mới được thành lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định vai trò làm chủ xã hội là của Nhân dân và quan trọng hơn là làm thế nào để cho dân được hưởng quyền làm chủ thực tế, có điều kiện làm chủ, biết hưởng quyền làm chủ, đồng thời biết dùng quyền làm chủ.
Chủ tịch Hồ Chí Minh giải thích: “Nước ta là nước dân chủ Bao nhiêu lợi ích đều vì dân Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân Chính quyền từ xã đến Chính phủ do dân cử ra Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” 6 Vì vậy, Hồ Chí Minh yêu cầu: "Bất cứ việc gì đều phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân, cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh địa phương" [16, tr. Khi dân được biết, được hiểu, được bàn bạc, họ sẽ dùng chính sức lao động của họ và làm việc một cách tự giác. Hồ Chí Minh nhấn mạnh việc thực thi dân chủ phải được thực hiện ở từng địa phương, từng cơ sở, từng cán bộ, từng người dân, từng công việc cụ thể, “phải tìm mọi cách giải thích cho mỗi một người dân hiểu rõ rằng: Việc đó là lợi ích cho họ và nhiệm vụ của họ, họ phải hăng hái làm cho kỳ được” [16, tr.698] Hiệu quả của dân chủ thể hiện trực tiếp ở cơ sở. Chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước có đi vào cuộc sống hay không tùy thuộc vào sự quán triệt và thực hiện ở cơ sở.
Cơ sở xã, phường, thị trấn, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp. là nơi trực tiếp thực hiện đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước; là địa bàn Nhân dân sinh sống, lao động, sản xuất, học tập và công tác; là nơi diễn ra các mối quan hệ nhiều mặt giữa các tầng lớp Nhân dân với các cấp ủy Đảng và chính quyền, cán bộ, đảng viên, công chức điều hành và xử lý công việc hàng ngày. Nhu cầu làm chủ của Nhân dân là phải biết, được bàn và tham gia giải quyết những vấn đề liên quan đến họ, đồng thời có yêu cầu kiểm tra, giám sát hoạt động hàng ngày của cấp ủy đảng, chính quyền và cán bộ, công chức. Điều đó có nghĩa là Nhân dân là chủ và có quyền làm chủ từ cơ sở, ở cơ sở.
Như vậy: “Dân chủ ở cơ sở là việc Nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình một cách gián tiếp hoặc trực tiếp tại cơ sở (phường, xã, thị trấn, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp…) theo phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.2 Đặc trưng, ý nghĩa của thực hiện dân chủ ở cơ sở a. Các đặc trưng của dân chủ ở cơ sở - Dân chủ ở cơ sở được thực hiện thông qua hình thức dân chủ gián tiếp hoặc trực tiếp (chủ yếu là hình thức dân chủ trực tiếp) để Nhân dân bàn bạc và quyết định những công việc quan trọng, thiết thực gắn với quyền lợi và nghĩa vụ của công dân. - Thực hiện dân chủ ở cơ sở là phát huy quyền làm chủ của Nhân dân. 7 - Có sự tham gia của của các thiết chế đại diện Nhân dân, phi nhà nước để phát huy mạnh mẽ vai trò làm chủ của Nhân dân.
- Thực hiện dân chủ ở cơ sở để phát huy sự sáng tạo, động viên sức mạnh vật chất, tinh thần to lớn của Nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, ổn định chính trị, tăng cường đoàn kết, xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh; ngăn chặn và khắc phục tình trạng suy thoái, tệ quan liêu, nạn tham nhũng và các tệ nạn xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh theo định hướng XHCN. Ý nghĩa của thực hiện dân chủ ở cơ sở Thực hiện dân chủ ở cơ sở là mục tiêu đồng thời là động lực đảm bảo thắng lợi của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, có ý nghĩa như sau: - Chỉ có thực hiện dân chủ, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân mới khơi dây tính tích cực chủ động của Nhân dân tham gia thực hiện những chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước. - Thực hiện dân chủ ở cơ sở là xây dựng nền tảng của chế độ chính trị theo định hướng XHCN. Chế độ chính trị ở nước ta thực chất là chế độ dân chủ của Nhân dân lao động.
Nhân dân lao động làm chủ quyền lực nhà nước, quyền lực xã hội, trước hết và cơ bản là ở cơ sở. - Dân chủ ở cơ sở được thực hiện chủ yếu thông qua hình thức dân chủ trực tiếp mặc dù có cả dân chủ đại diện. Trên cơ sở thực hiện tốt dân chủ trực tiếp mọi người mới có ý thức, thói quen trách nhiệm thực hiện dân chủ đại diện. - Quyền và lợi ích của Nhân dân được thực hiện thông qua những công việc thường xuyên, trực tiếp ở cơ sở.
Do vậy, Nhân dân phải biết, bàn, làm và kiểm tra những công việc ấy mới có thể thực hiện quyền lực của mình. Dân chủ ở cơ sở có ý nghĩa thiết thực cụ thể trong việc thực hiện dân chủ.3 Khái niệm thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở Dân chủ có thực sự đi vào cuộc sống hay không thì phải được cụ thể hóa bằng pháp luật. Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (tháng 6/1997) khẳng định khâu quan trọng và cấp bách trước mắt là phát huy quyền làm chủ 8 của Nhân dân ở cơ sở, vì cơ sở là nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, là nơi cần thực hiện quyền dân chủ của Nhân dân một cách rộng rãi nhất. Theo tinh thần đó, ngày 18/02/1998 Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 30/CT-TW về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, tiếp sau đó Ủy ban thường vụ Quốc hội đã cụ thể hóa Chỉ thị này bằng các Nghị quyết số 45/1998/NQ-UBTVQH10, số 55/1998/NQ-UBQH10 và số 60/1998/NQ-UBTVQH10 về thực hiện dân chủ ở ba loại hình đơn vị cơ sở chủ yếu là đơn vị hành chính cấp cơ sở, các cơ quan nhà nước và các đơn vị kinh tế.
Đối với các đơn vị kinh tế, ngày 13/02/1999, Chính phủ ban hành Nghị định số 07/1999/NĐ-CP ban hành kèm theo Quy chế thực hiện dân chủ ở doanh nghiệp nhà nước. Ngày 28/5/2007 Chính phủ ban hành Nghị định số 87/2007/NĐ-CP ban hành kèm theo Quy chế thực hiện dân chủ ở công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn; Nghị định số 60/2013/NĐ-CP ngày 19/6/2013 của Chính phủ quy định chi tiết khoản 3 Điều 63 Bộ luật Lao động về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc và một số văn bản pháp lý khác quy định về vấn đề dân chủ ở cơ sở. Đối với các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập Chính phủ ban hành Nghị định số 71/1998/NĐ-CP ngày 08 tháng 9 năm 1998 của Chính phủ về ban hành Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan, Nghị định số 04/2015/NĐ-CP ngày 09/01/2015 về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập… Đối với các đơn vị hành chính cơ sở, ngày 15/5/1998 Chính phủ ban hành Nghị định số 29/NĐ-CP ban hành kèm theo Quy chế thực hiện dân chủ ở xã và đã được sửa đổi, bổ sung thay thế bằng Nghị định số 79/NĐ-CP ngày 7/7/2003 (Quy chế này áp dụng cho cả phường và thị trấn); Ngày 18/5/2005 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 80/2005/QĐ-TTg về việc ban hành Quy chế giám sát đầu tư của cộng đồng. Ngày 28/7/2005 Chính phủ ban hành Nghị định số 99/2005/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Thanh tra về tổ chức và hoạt động của Ban TTND.
Ngày 20/4/2007, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh số 34/2007/PL- UBTVQH11 về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Nội dung của các Nghị định 9 và Pháp lệnh quy định cụ thể những việc chính quyền địa phương phải thông tin và công khai để dân biết, những việc dân bàn và quyết định trực tiếp, những việc Nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan nhà nước quyết định, những việc Nhân dân kiểm tra giám sát.