phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương, 8 tiết. 10 z CHƢƠNG 1 KHÁI LUẬN VỀ QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ VÀ MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM TRONG VIỆC THỰC THI QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ CỦA NHÂN DÂN 1. Khái niệm quyền lực chính trị của nhân dân 1. Quyền lực chính trị Trong xã hội, có vô vàn quyền lực khác nhau, trong đó quyền lực chính trị chỉ ra đời khi xã hội xuất hiện giai cấp và Nhà nước.
Xã hội ngày càng phát triển, quyền lực chính trị ngày càng phong phú, phức tạp và tác động sâu sắc đến đời sống của mỗi con người và cộng đồng người. Theo chủ nghĩa Mác - Lê nin, sản xuất vật chất là cơ sở của đời sống xã hội, là cội nguồn của quyền lực. Nền sản xuất vật chất và các cội nguồn dự trữ xã hội do nó tạo ra là điều kiện để hình thành quyền lực và quyền lực chính trị. Nhân dân lao động là chủ thể tạo ra các nguồn lực kinh tế, xã hội.
Vì vậy, nhân dân lao động là nguồn gốc xã hội trực tiếp nhất của quyền lực chính trị. Quyền lực chính trị là quyền lực của một giai cấp hay của liên minh giai cấp, tập đoàn xã hội (hoặc của nhân dân - trong điều kiện chủ nghĩa xã hội) nó nói lên khả năng của một giai cấp thực hiện lợi ích của mình. Mác - Ăngghen đã chỉ ra rằng: "Quyền lực chính trị theo nguyên nghĩa của nó, là bạo lực có tổ chức của một giai cấp để trấn áp giai cấp khác" [33, tr. Quyền lực chính trị bao giờ cũng mang tính giai cấp.
Nó luôn mang tính thống nhất về cơ bản trong sự biểu hiện ra bên ngoài của mình: trong quan hệ nội bộ của giai cấp hay liên minh giai cấp, quyền lực chính trị có thể chứa đựng những mâu thuẫn, thậm chí cả những đối kháng. Quyền lực chính trị của giai cấp cầm quyền được tổ chức thành nhà nước. Vì vậy, xét về bản 11 z chất, quyền lực nhà nước là quyền lực của giai cấp thống trị. Nó được thực hiện bằng cả một hệ thống chuyên chính do giai cấp đó lập ra.
Là một bộ phận quan trọng nhất của quyền lực chính trị, sự thay đổi căn bản của quyền lực Nhà nước bằng việc chuyển chính quyền nhà nước từ tay giai cấp này sang giai cấp khác, sẽ trực tiếp dẫn tới thay đổi căn bản tính chất chế độ chính trị. Bất kỳ quyền lực nhà nước nào cũng mang tính chính trị, nhưng không phải mọi quyền lực chính trị đều mang tính nhà nước. Như vậy, Quyền lực chính trị là quyền lực của một giai cấp hay liên minh giai cấp để thực hiện sự thống trị chính trị trên cơ sở thực hiện chức năng công quyền, cơ bản bằng quyền lực nhà nước, là năng lực áp đặt và thực thi các giải pháp phân bổ giá trị xã hội có lợi cho giai cấp mình và đảm bảo mức độ nhất định sự công bằng xã hội. Xuất phát từ điều kiện lịch sử cụ thể ở nước ta và phù hợp với yêu cầu cơ bản của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa: Mọi quyền lực thuộc về nhân dân; cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ được Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII thông qua và Hiến pháp 1992 sửa đổi đã khẳng định sự thống nhất của quyền lực nhà nước đối với sự phân công và phối hợp chặt chẽ các cơ quan nhà nước khác nhau để thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Quyền lực chính trị của nhân dân Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin, nhân dân là cội nguồn của quyền lực chính trị. Lần đầu tiên trong lịch sử, Chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã có quan niệm đúng đắn về nhân dân: Quần chúng nhân dân là số đông bị trị so với thiểu số là giai cấp thống trị. Tất cả các giai cấp thống trị trước đây đều là những nhóm thiểu số nhỏ bé so với quần chúng nhân dân bị thống trị. 12 z Chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã chỉ ra vai trò to lớn của quần chúng nhân dân: Họ là những người sản xuất ra của cải vật chất, sáng tạo ra những giá trị tinh thần, quần chúng nhân dân là lực lượng cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội.
Bản chất của dân chủ xã hội chủ nghĩa là tất cả quyền lực thuộc về nhân dân. Là thành quả của quá trình hoạt động tự giác của quần chúng nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản. Đảng ta khẳng định: Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; nhân dân là chủ, nhân dân làm chủ. "Mọi chủ trương, chính sách của Đảng phải xuất phát từ lợi ích, nguyện vọng và khả năng của nhân dân lao động, phải khơi dậy được sự đồng tình, hưởng ứng của quần chúng".29] Như vậy: Quyền lực chính trị của nhân dân có nghĩa là nhân dân làm chủ và kiểm soát quyền lực kinh tế, chính trị, xã hội và việc sử dụng những quyền lực ấy nhằm đảm bảo lợi ích của mình trong đời sống xã hội.
Quyền lực chính trị của nhân dân là khả năng nhân dân thực hiện lợi ích khách quan của mình, đồng thời đem lại lợi ích cần thiết cho các giai cấp và tầng lớp khác. Quyền lực chính trị của nhân dân lao động là một dạng quyền lực đặc biệt chỉ được xác lập trong xã hội chủ nghĩa, khẳng định vai trò quyết định của nhân dân lao động trong quản lý xã hội, khẳng định nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước và tất cả các quyền lực khác thuộc về nhân dân. Nhân dân là người tổ chức và trực tiếp quản lý Nhà nước. Nhân dân lao động là chủ thể của quyền lực, cũng có nghĩa nhân dân là người thực hiện quyền lực.
Nhưng trên thực tế, quyền lực chính trị của nhân dân lao động rất rộng, nên chính bản thân họ không thể thường xuyên và trực tiếp thực hiện quyền lực của mình. Do vậy quyền lực chính trị của nhân dân phải có hình thức thực hiện đa dạng, thích hợp, phải có những cơ quan nhất định hoạt động thường xuyên, đại diện để nhân dân thực hiện có hiệu quả quyền lực của 13 z mình. Mặt trận Tổ quốc là một trong những cơ quan tổ chức thực hiện quyền dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện để nhân dân thực hiện quyền lực chính trị của mình. Cơ chế thực thi quyền lực chính trị của nhân dân ở nước ta hiện nay 1.
Nội dung quyền lực chính trị của nhân dân Trong chế độ ta, quyền lực nhà nước do khối đại đoàn kết toàn dân quyết định mà nòng cốt là khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nội dung quyền lực chính trị của nhân dân ta hiện nay rất phong phú, có thể xét trên các quyền cơ bản sau: * Quyền tổ chức Nhân dân ta thông qua ý chí chung lập ra Hiến pháp và bầu ra Quốc hội. Hiến pháp quy định những nguyên tắc cơ bản, kết cấu tổ chức, chức năng và nhiệm vụ của quyền lực nhà nước và từng cơ quan quyền lực nhà nước. Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất có quyền lập hiến và lập pháp.
Quốc hội thành lập Chính phủ và các cơ quan tư pháp. Ở từng cấp địa phương, theo luật định, nhân dân cũng lập ra chính quyền nhân dân cùng cấp. Toàn bộ việc tổ chức quyền lực nhà nước từ Trung ương đến địa phương đều do nhân dân lập ra. *Quyền lãnh đạo Nhân dân tổ chức ra quyền lực nhà nước nên phải thực hiện sự lãnh đạo đối với quyền lực đó.
Để lãnh đạo tập trung và thống nhất nhân dân tổ chức ra một đội tiền phong, tổ chức đó là Đảng cộng sản Việt Nam. Điều 4 Hiến pháp 1992 sửa đổi năm 2013 đã quy định: Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao 14 z động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
Nhưng để đảm bảo sự lãnh đạo đó luôn đúng ý nguyện của mình, nhân dânkhông chỉ tham gia vào quá trình hình thành đường lối, chủ trương mà còn phải thực hiện quyền giám sát đối với Đảng và Nhà nước. * Quyền giám sát Để đảm bảo cho mọi tổ chức và hoạt động của Nhà nước luôn xuất phát từ dân và vì lợi ích của dân, nhân dân phải thực hiện quyền kiểm tra, giám sát, kiểm soát cơ quan nhà nước sử dụng quyền do mình ủy thác và kịp thời điều chỉnh, uốn nắn khi phát hiện có những biểu hiện lệch lạc. Việc làm này thông qua các tổ chức đại diện và những đại biểu do chính nhân dân bầu ra, các tổ chức chính trị xã hội, các phương tiện thông tin đại chúng và bằng quyền làm chủ trực tiếp của từng công dân buộc Nhà nước phải phục tùng chủ quyền tối thượng của nhân dân. * Quyền phán quyết và tự quyết Thông qua các đạo luật, các quyết nghị của cơ quan quyền lực của mình, nhân dân ủy nhiệm quyền quản lý, điều hành công việc thường xuyên của đất nước cho các cơ quan nhà nước.
Nhưng đối với những vấn đề lớn có liên quan đến quốc gia, dân tộc thì phải do toàn thể nhân dân trực tiếp phán quyết; những việc liên quan trực tiếp đến nhân dân thì chỉ có họ mới có quyền tự quyết định cho chính mình. Không một ai có thể thay thế quyền phán quyết và quyền tự quyết này của nhân dân khi chưa được nhân dân ủy thác. 15 z * Quyền chấp hành Nhà nước thực thi quyền lực của nhân dân đã trao cho nên mỗi người dân đều có quyền tuân thủ quyền lực nhà nước mà không ai có quyền cản trở. Hơn nữa làm tròn nghĩa vụ với Nhà nước cũng chính là quyền lợi của mỗi người dân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy rằng: Nước ta là nước dân chủ, nghĩa là nhà nước do nhân dân làm chủ.