CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu đói nghèo 1. Các nghiên cứu về đói nghèo và giảm nghèo - Tổng quan các công trình nghiên cứu về vấn đề đói nghèo và giảm đói nghèo: Vấn đề đói nghèo và giảm đói nghèo từ lâu là mối quan tâm của hầu hết các nước trên thế giới. Vì vậy nó được nhiều tổ chức và các nhà nghiên cứu chú ý.
Hàng năm Liên hợp quốc, Ngân hàng Thế giới,. thường công bố các nghiên cứu về tình trạng đói nghèo trên thế giới trong đó có Việt Nam. Năm 2000, WB chính thức công bố "Báo cáo về tình hình phát triển thế giới - tấn công nghèo đói" ở tầm vĩ mô. Ngoài thông tin về số lượng người nghèo trên thế giới, báo cáo thể hiện những luận điểm, cách tiếp cận, đánh giá trên nhiều phương diện của đói nghèo, nâng vấn đề đói nghèo trở thành vấn đề cấp thiết của nhân loại.
Từ những năm đầu của thập niên 90, vấn đề nghèo và giảm nghèo được quan tâm cả trên phương diện nghiên cứu lí luận, nhận thức và triển khai hành động trong thực tiễn. Những cuộc hội thảo khoa học và nghiên cứu thực tế do các cơ quan nghiên cứu thuộc trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Bộ Lao động - Thương binh và xã hội (Bộ BLĐTBXH), các tổ chức quốc tế ở Việt Nam. đã dần phác họa bức tranh toàn cảnh về nghèo đói ở Việt Nam. "Việt Nam đánh giá đói nghèo và chiến lược" của WB vào tháng 1/1995 đã xem xét tình trạng nghèo đói của cả nước ta trong bối cảnh kinh tế - xã hội khi vừa kết thúc chiến tranh và tiến hành đổi mới.
Đánh giá tổng quan và diễn biến đói nghèo của nước ta thể hiện rõ thông qua Hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam "Báo cáo phát triển Việt Nam năm 2000 - Tấn công nghèo đói". Những nghiên cứu cho thấy rõ, 13 z đói nghèo là vấn đề nhức nhối trong xã hội. Báo cáo đặc biệt hữu ích khi đưa cách tiếp cận để giải quyết nghèo khổ bền vững với 3 trụ cột; tạo cơ hội, đảm bảo sự bình đẳng, giảm bớt nguy cơ bị tổn thương. Tài liệu này cung cấp nguồn tư liệu phong phú liên quan đến giảm nghèo rất hữu ích cho người nghiên cứu.
Báo cáo "Nghèo - Báo cáo Phát triển Việt Nam 2004" đã đánh giá chi tiết các giải pháp vĩ mô giảm nghèo ở Việt Nam. Báo cáo đã chỉ ra giảm nghèo ở Việt Nam đứng trước nhiều khó khăn, xuất phát từ chính sách và tăng trưởng kinh tế. Báo cáo khuyến nghị trong giảm nghèo cần chú trọng nhiều hơn đến giảm nghèo có sự tham gia của người dân, trong các chính sách công, đồng thời cũng cho người đọc cái nhìn tổng quan về nghèo đói của Việt Nam so sánh với các nước khác, tính xác thực của số liệu giảm nghèo ở Việt Nam. Trong nghiên cứu "Giảm nghèo và rừng ở Việt Nam" năm 2005, tác giả William D.
Sunderlin và Huỳnh Thu Ba đi tìm mối quan hệ giữa rừng và giảm nghèo, những tác động tích cực của rừng đến giảm nghèo là không phủ nhận, tuy nhiên nghiên cứu chưa đánh giá cụ thể tác động của rừng đến giảm nghèo ở mức độ nào. Nghiên cứu là tài liệu mở để người tìm hiểu có cái nhìn đa chiều về giảm nghèo và rừng ở Việt Nam. Trong khuôn khổ dự án hợp tác Việt Nam - Ca na đa "Một số vấn đề giảm nghèo ở các dân tộc thiểu số Việt Nam" năm 2003. Bùi Minh Đạo phân tích khá chi tiết, hiện trạng đói nghèo ở vùng dân tộc thiểu số.
Đồng thời tác giả đề cập đến những quan điểm, giảm nghèo đối với các vùng dân tộc thiểu số. Cuốn sách sẽ giúp ích nhiều cho người nghiên cứu và cán bộ giảm nghèo với những kinh nghiệm nghiên cứu đói nghèo và giải pháp giảm nghèo hiệu quả ở vùng dân tộc. Giáo trình "Kinh tế phát triển" GS.TS Vũ Thị Ngọc Phùng năm 2006 bàn nhiều về vấn đề mối quan hệ giữa kinh tế và phát triển. Trong cuốn sách chỉ có 2 chương đề cấp đến nghèo khổ, nhưng tác giả đưa ra khá chi tiết về lý 14 z luận, cách tiếp cận, cách đánh giá nghèo khổ, bất bình đẳng trong xã hội dựa vào các chỉ số khác nhau, đề cập phương pháp giảm nghèo hiệu quả.
Năm 2010 nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam công bố "Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ 2010 - Việt Nam 2/3 chặng đường thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, hướng tới năm 2015". Báo cáo đã đánh giá những thành tựu Việt Nam đạt được trong mục tiêu xoá bỏ tình trạng nghèo cùng cực, thiếu đói. Báo cáo cũng chỉ ra thách thức công cuộc xoá đói giảm nghèo thời gian tới. Đây là tài liệu mang tính pháp lý cao, tác giả sử dụng làm tài liệu quan trọng trong luận văn của mình.
Trong luận văn thạc sĩ "Nghèo và vấn đề giảm nghèo ở tỉnh Hoà Bình" năm 2010 tác giả Phạm Thị Thu Hằng đã phân tích cụ thể bức tranh toàn cảnh nghèo khổ tỉnh Hoà Bình, tuy nhiên phần cơ sở lý luận tác giả tìm hiểu còn hạn chế, tính đặc thù trong quan điểm và phương pháp giảm nghèo ở địa phương chưa được làm rõ. - Tổng quan về hoạt động xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam trong những năm qua: Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm xóa đói giảm nghèo, chăm lo đời sống nhân dân, bảo đảm tiến bộ công bằng xã hội. Sau gần 30 năm thực hiện đường lối đổi mới, với nhiều chương trình dự án, đặc biệt là thực hiện Chương trình 135, Nghị quyết 30a của Chính phủ về hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững trong cả nước, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn trong công tác xóa đói, giảm nghèo. Theo Báo cáo đánh giá nghèo Việt Nam năm 2012 của Ngân hàng thế giới (WB), hơn 30 triệu người Việt Nam đã thoát khỏi đói nghèo trong hai thập kỷ qua.
Nghèo đói ở Việt Nam đã giảm nhanh chóng từ 60% hồi đầu những năm 1990 xuống còn 20,7%; tỷ lệ nhập học tiểu học và trung học cơ sở là hơn 90% và 70%. 15 z Theo đánh giá của Tổ chức Nông lương Liên Hợp quốc (FAO), Việt Nam là một trong những nước đạt được thành tích nổi bật trong việc giảm số người bị đói từ 46,9% (32,16 triệu người) giai đoạn 1990-1992 xuống còn 9% (8,01 triệu người) trong giai đoạn 2010-2012, và đã đạt được Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ 1 (MDG1), hướng tới mục tiêu giảm một nửa số người bị đói vào năm 2015. Thực hiện chủ trương giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011-2020, Bộ Lao động - thương binh - xã hội đã phối hợp với các bộ, ngành thực hiện rà soát toàn bộ hệ thống chính sách giảm nghèo hiện hành gồm 153 văn bản, tập trung vào 6 nhóm chính sách chủ yếu: tín dụng ưu đãi; giáo dục - đào tạo; y tế; nhà ở; đào tạo nghề, giải quyết việc làm, xuất khẩu lao động; hỗ trợ sinh kế; trợ giúp pháp lý. Qua rà soát, hiện có 149 văn bản còn hiệu lực, trong đó có 20 văn bản được đề xuất sửa đổi, bổ sung, thay thế và 28 văn bản được đề xuất ban hành mới.
Bên cạnh đó, Ban Chỉ đạo Trung ương còn thực hiện sửa đổi, bổ sung các chính sách và dự kiến ban hành các chính sách mới đồng thời tích hợp các chính sách giảm nghèo như hỗ trợ học sinh bán trú nghèo dân tộc thiểu số, hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo, hỗ trợ tiền điện, đào tạo nghề, hỗ trợ phát triển sản xuất và sinh kế. Tính đến cuối năm 2014, tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm từ 1,8-2%/năm, riêng tỷ lệ hộ nghèo ở các huyện nghèo giảm bình quân 5%/năm. Việc thực hiện các chính sách giảm nghèo chung và chính sách giảm nghèo đặc thù tiếp tục được triển khai. Năm 2014, ngân sách đã chi khoảng gần 13 nghìn tỷ đồng để mua cấp thẻ BHYT cho các đối tượng, trong đó gần 10 triệu người nghèo và cận nghèo được hỗ trợ thẻ BHYT; gần 2 triệu lượt học sinh nghèo, học sinh dân tộc thiểu số được miễn giảm học phí, hỗ trợ học bán trú, hỗ trợ chi phí học tập với số tiền hơn 7 nghìn tỷ đồng; Ngân hàng chính sách xã hội đã cho hơn 400 nghìn lượt hộ nghèo vay vốn sản xuất, xuất khẩu lao động, hơn 60 nghìn học sinh nghèo được vay vốn học tập.
Các chính sách giảm nghèo 16 z đối với các xã trên địa bàn huyện nghèo theo Nghị quyết 30a tiếp tục được thực hiện. Về nguồn lực cho giảm nghèo, Nhà nước ưu tiên tập trung cao nhất từ ngân sách cho các huyện nghèo, xã nghèo và người nghèo nhằm đạt mục tiêu đề ra. Trong năm 2014, tổng nguồn vốn để thực hiện mục tiêu giảm nghèo khoảng 34,7 nghìn tỷ đồng, trong đó, ngân sách trung ương bố trí hơn 6 nghìn tỷ đồng để thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững. Theo báo cáo, tỷ lệ hộ nghèo cả nước đã giảm nhanh ở tất cả các địa phương.
Năm 2014, tỷ lệ hộ nghèo là 5,97%, cuối năm 2015 còn dưới 5%. Đối với các xã nghèo thuộc diện 30a, tỷ lệ hộ nghèo còn khoảng 28%. Như vậy, sau nhiều năm thực hiện mục tiêu giảm nghèo quốc gia, Việt Nam đã đạt được mục tiêu đề ra và được thế giới đánh giá là 1 trong 6 quốc gia hoàn thành mục tiêu trước thời hạn và là điểm sáng về thực hiện mục tiêu giảm nghèo. Các nghiên cứu về sự can thiệp của MTTQ hỗ trợ giảm nghèo ở Việt Nam và ở Quảng Ninh Tại Việt Nam có một số công trình nghiên cứu về can thiệp của MTTQ về hoạt động giảm nghèo như sau: Theo Nguyễn Phương Vân (2014) trong luận văn "Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong thực công tác giảm nghèo ở Lâm Đồng".
Trong luận văn đã nghiên cứu thực trạng nghèo và công tác giảm nghèo của MTTQ và đề ra các biện pháp giảm nghèo đó là song song với việc khuyến khích và tạo điều kiện làm giàu chính đáng thì việc nâng cao mức sống hộ nghèo đã góp phần ngăn chặn sự phân hóa làm cho khoảng cách giàu nghèo hẹp lại để mọi người trong xã hội đều có thể tham gia xây dựng cuộc sống, xây dựng quê hương Lâm Đồng.