phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc cấu trúc thành ba chƣơng và tám tiết. Sự truyền bá của đạo Tin Lành từ tiên khởi đến năm 1975 Chƣơng 2. Sự phát triển của đạo Tin Lành việt nam từ sau năm 1975 Chƣơng 3. Đạo Tin Lành ở Việt Nam trƣớc 1990: nhìn từ góc độ văn hoá và chính trị xã hội.
SỰ TRUYỀN BÁ CỦA ĐẠO TIN LÀNH TỪ TIÊN KHỞI ĐẾN NĂM 1975 1. Từ tiên khởi đến 1954 Năm 1911, theo lời kêu gọi và tuyên thệ của Hội truyền giáo Phúc Âm liên hiệp (CM&A)-một tổ chức truyền giáo đƣợc mục sƣ A.B Simpson thành lập , các mục sƣ và giáo sĩ Tin Lành ngƣời Mỹ, trong đó có nhiều vị gốc Đức và Pháp đã có mặt ở Việt Nam để rao giảng Phúc Âm. Nhƣ vậy, đạo Tin Lành đƣợc truyền vào Việt Nam trong hoàn cảnh đặc biệt đó là khi Việt Nam đang bị thực dân Pháp cai trị và có những thay đổi về văn hoá và xã hội. Vì thế để hiểu rõ hơn quá trình truyền đạo tiên khởi của những giáo sĩ Tin Lành ngƣời Mỹ đầu thế kỷ XX, cần có nhận thức về bối cảnh chính trị cũng nhƣ văn hoá và xã hội của Việt Nam thời thuộc địa.
Về mặt chính trị, từ cuối thế kỷ XIX, Việt Nam là thuộc địa của Pháp. Năm 1897, thực dân Pháp thành lập Liên Bang Đông Dƣơng bao gồm ba nƣớc Việt Nam, Lào và Campuchia để cai trị; trong đó lãnh thổ Việt Nam bị chia là ba kỳ riêng biệt là Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ theo những chế độ khác nhau. Bắc Kỳ là xứ nửa bảo hộ, Trung Kỳ là xứ bảo hộ và Nam Kỳ thì hoàn toàn là thuộc địa Pháp. Triều đình Huế vẫn đƣợc tồn tại nhƣng chỉ là công cụ giúp cho sự cai trị của ngƣời Pháp trên lãnh thổ Bắc và Trung Kỳ1.
Về mặt văn hoá và xã hôi, sự cai trị của ngƣời Pháp dẫn đến những biến đổi lớn đối với xã hội Việt Nam. Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của ngƣời Pháp tạo nên những giai cấp mới là công nhân, trí thức, tiểu tƣ sản, tƣ sản và một tầng lớp thƣơng nhân trung lƣu. Chính thƣơng nhân và học sinh sinh viên sau này là những ngƣời dễ dàng tiếp nhận sứ điệp Phúc Âm khi đạo Tin Lành đƣợc truyền bá. Nền giáo dục thuộc địa hƣớng học sinh đến việc sử dụng tiếng Pháp qua trung gian là chữ Quốc Ngữ, chữ viết 1 Nguyễn Xuân Hùng (2017), Quá trình truyền giáo của đạo Tin Lành ở Việt Nam từ năm 1911 đến năm 1975, Luận án tiến sĩ sử học, Hà Nội, tr.
42 9 Latinh ghi âm tiếng nói của ngƣời Việt. Nhờ sự giản tiện và dễ học, chữ Quốc Ngữ nhanh chóng đƣợc phổ biến. Chính nhờ sự lan truyền của chữ Quốc Ngữ và báo chí viết bằng chữ Quốc Ngữ mà sau này, các giáo sĩ đã dễ dàng dịch trọn vẹn Kinh Thánh sang tiếng Việt, giúp cho quá trình truyền đạo đƣợc thuận lợi hơn. Tuy có những thuận lợi nhất định, nhƣng những chính sách của chính quyền thực dân cũng có những điểm bất lợi gây khó khăn cho các nhà truyền giáo Tin Lành lúc ban đầu.
Khi xâm lƣợc Việt Nam vào giữa thế kỷ XIX, Pháp lấy cớ là để bảo vệ giáo dân Công Giáo lúc đó bị nhà Nguyễn đàn áp và bách hại. Vì vậy, nên trong hai hiệp ƣớc Quý Mùi 1883 và Giáp Tuất 1884, là các hiệp ƣớc quy định về chủ quyền Pháp tại Đông Dƣơng, đều công nhận sự tự do và đặc quyền duy nhất đƣợc truyền đạo của các thừa sai và giáo sĩ Công Giáo. Về sau, khi đạo Tin Lành đƣợc truyền vào Việt Nam, giới chức Pháp đã viện điều khoản này để ngăn cản sự truyền đạo của những giáo sĩ Tin Lành và cũng chính vì lý do này, trong thời Pháp thuộc, Hội thánh Tin Lành không đƣợc hƣởng trọn vẹn quyền của một tổ chức tôn giáo nhƣ Giáo hội Công Giáo Việt Nam đƣợc hƣởng từ năm 1884. Mặc dầu vậy, vào thời điểm đầu thế kỷ XX khi đạo Tin Lành đến Việt Nam, Công Giáo dù có cộng đồng đông giáo dân và thế lực mạnh nhƣng do quá trình truyền giáo lại gắn với chủ nghĩa thực dân nên dù có thế lực mạnh, nhƣng vai trò trong đời sống xã hội và văn hoá Việt Nam vẫn còn mờ nhạt2.
Vì vậy khi các giáo sĩ Tin Lành đến truyền đạo mặc dù vẫn có những xung đột về việc thờ cúng tổ tiên nhƣng sự co cum của giáo dân Công Giáo và thái độ của dân chúng đối với Giáo Hội Công Giáo đã tạo nên những khoảng trống để các giáo sĩ Tin Lành có thể truyền đạo và gây dựng cộng đồng tín hữu trong một xã hội Á Đông. 2 Nguyễn Xuân Hùng (2017), Quá trình truyền giáo của đạo Tin Lành tại Việt Nam từ năm 1911 đến năm 1975, Luận án tiến sĩ sử học, Hà Nội, tr. 45 10 Bên cạnh cộng đồng Công giáo, một nhánh khác của Kitô Giáo, các giáo sĩ Tin Lành khi đến Việt Nam còn phải đối diện với cộng đồng tôn giáo bản địa có truyền thống lâu đời đó là cộng đồng tín đồ của đạo Nho, đạo Phật và đạo Lão. Phật giáo thời kỳ Pháp thuộc tƣơng đối suy tàn nếu so với các thời đại cực thịnh vào thời Lý-Trần.
Tuy nhiên, đầu thế kỷ XX, các phong trào chấn hƣng đạo Phật phát triển mạnh, nổi bật với việc in ấn các kinh sách Phật giáo. Đạo Nho, học thuyết nền tảng gắn liền với chế độ quân chủ vẫn có sức ảnh hƣởng trong dân chúng, dù rằng kể từ năm 1919, khoa cử chữ Hán kết thúc với khoa thi Nho học cuối cùng và với sự lan truyền của chữ Quốc Ngữ, chữ Hán mất dần ảnh hƣởng. Dù vậy, trong cộng đồng xã hội Việt Nam, đặc biệt là làng xã các giá trị văn hoá và đạo đức của Nho giáo vấn tiếp tục bám rễ sâu sắc vào đời sống của ngƣời dân Việt Nam đầu thế kỷ XX. Đạo Lão với những nghi lễ ma chay, thờ cúng, vào thời điểm này đè nặng lên ngƣời dân những khía cạnh bảo thủ, phản tiến bộ3.
Bên cạnh những tôn giáo đã tồn tại từ trƣớc, đạo Tin Lành khi truyền vào Việt Nam còn tiếp xúc với một xã hội làng xã mang các đặc điểm nông thôn châu Á. Một nền văn hoá có truyền thống hàng ngàn năm và có những quan điểm về tâm linh văn hoá, xã hội khác biệt với những giá trị mà các giáo sĩ rao giảng. Mặc dù vậy, nhƣng nếu xét đến các công trƣờng truyền giáo khác tại châu Á thì Việt Nam là địa điểm tƣơng đối lý tƣởng cho các nhà truyền giáo Tin Lành. Khu vực các nƣớc ảnh hƣởng Phật giáo nhƣ Miến Điện, Thái Lan và Lào cùng với quần đảo Indonesia theo Islam khó tiếp cận hơn nhiều so với Việt Nam.
Việt Nam là nơi có đƣờng bờ biển dài và mở rộng, và là trung tâm giao thƣơng của Đông Dƣơng thời điểm bấy giờ. Thông qua các hải cảng, đặc biệt là hải cảng Đà Nẵng, đạo Tin Lành dễ dàng truyền vào Việt Nam. Ngƣời 3 Nguyễn Xuân Hùng (2017), Quá trình truyền giáo của đạo Tin Lành tại Việt Nam từ năm 1911 đến năm 1975, Luận án tiến sĩ sử học, Hà Nội, tr. 45 11 Việt lại dễ tiếp thu những tƣ tƣởng mới bởi trong suốt chiều dài lịch sử, với vị trí lan can hƣớng ra biển Đông, Việt Nam đã tiếp nhận nhiều luồng văn hoá, tƣ tƣởng khác nhau từ nƣớc ngoài truyền vào.
Chinh vì vậy, Việt Nam sẽ là nơi lý tƣởng cho Hội Truyền giáo Phúc âm Liên hiệp thực hiện sứ mạng rao truyền “Nƣớc Chúa” của mình. Hội Truyền Giáo Phúc Âm Liên Hiệp (CMA) từ khi thành lập luôn quan tâm đến việc truyền đạo Tin Lành đến các khu vực trên thế giới, đặc biệt là châu Á, trong đó có khu vực Đông Dƣơng thuộc Pháp. Theo nhận định của mục sƣ Simpson, ngƣời sáng lập CMA thì Việt Nam là một trong những mục tiêu đầu tiên trong phong trào truyền giáo do ông khởi xƣớng. Tháng 2 năm 1887, trong tạp chí Word, Work and World, mục sƣ Simpson đã lƣu ý “Bán đảo Đông Nam Á bị lãng quên” và “Vƣơng Quốc An Nam” là công trƣờng truyền giáo tƣơng lai của hội liên hiệp4.
Mùa Xuân năm 1911, mục sƣ Jaffray, ngƣời đại diện của Hội Truyền Giáo tại Hoa Nam dẫn hai tân giáo sĩ là Hosler và Hughes đến thành phố Đà Nẵng, thành phố lớn nhất Trung Kỳ5. Phái đoàn đƣợc ông Bonnet, đại diện Thánh Thƣ Công Hội tiếp đón. Mục sƣ Jaffray đã khôn khéo thuyết phục ông Bonnet nhƣợng lại cơ sở tại Đà Nẵng cho Hội truyền giáo Phúc Âm Liên hiệp. Ông Bonnet đã nhã nhặn đồng ý lời đề nghị của phái đoàn truyền giáo.
Vui mừng vì thành công lập đƣợc cơ sở tại Việt Nam, mục sƣ Jaffray cùng hai cộng sự lập tức quay về HongKong để chuẩn bị cho một công tác lâu dài tại Việt Nam. Sự kiện này đánh một dấu mốc quan trọng trong quá trình truyền bá đạo Tin Lành vào Đông Dƣơng. Nhận đƣợc tin từ mục sƣ Jaffray, mục sƣ Simpson quyết định kêu gọi sự tham gia từ cộng đồng Tin Lành Bắc Mỹ. Trong những ngƣời hƣởng ứng đầu tiên có 2 ngƣời Mỹ, 2 ngƣời Canada đặc biệt ông kêu gọi đƣợc một ngƣời Anh và 1 ngƣời Na Uy.
Lần lƣợt trong các năm 1912, 1913 và 1914, 4 Lê Hoàng Phu (2010),Lịch sử Hội Thánh Tin Lành Việt Nam (1911-1965), Nxb Tôn giáo, Hà Nội, tr. 5 Lê Hoàng Phu (2010), Lịch sử Hội Thánh Tin Lành Việt Nam (1911-1965), Nxb Tôn giáo, Hà Nội, tr. 97 12 những tín hữu do mục sƣ Simpson kêu gọi đến Đà Nẵng cộng tác với Hosler. Những giáo sĩ này không những duy trì đƣợc cơ sở Đà Nẵng mà còn mở thêm một cơ sở mới tại Hội An.
Trong thời kỳ đầu truyền giáo, các giáo sĩ Mỹ vẫn coi Việt Nam là một chi nhánh của địa hạt truyền giáo Hoa Nam, đƣợc thành lập từ năm 18886. Sau diễn biến chuyến viếng thăm Đà Nẵng của mục sƣ Jaffray, Hội Truyền Giáo đã đi đến quyết định tách Việt Nam thành một địa hạt riêng và cử Issac Hess là chủ nhiệm địa hạt Để mở rộng công tác truyền giáo, trƣớc hết các giáo sĩ phải học tiếng Việt. Đây là điều khó khăn đối với các giáo sĩ ngƣời Mỹ vì tiếng Việt là ngôn ngữ đa âm, đa dấu. Tuy nhiên, nhiệt tình truyền giáo đã thúc đẩy chín vị giáo sĩ đầu tiên hoàn thành công việc khó khăn này.