Tổng quan luận án
Công trình "Tang thức của người Việt Bắc bộ là tín đồ Phật giáo và Công giáo" do tác giả Lê Thị Cúc thực hiện là luận án tiến sĩ chuyên ngành Tôn giáo học (Mã số: 62.09), được bảo vệ tại Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam năm 2014, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Hồng Dương và TS. Lê Hồng Lý.
Luận án xuất phát từ tính cấp thiết về mặt nhận thức luận và thực tiễn đời sống tâm linh: bàn về cái chết và sự tồn tại sau khi chết là vấn đề cốt lõi của mọi tôn giáo. Xuất phát từ niềm tin vào cái Thiêng, các tôn giáo đã quy phạm hóa nhận thức về cái chết thành hệ thống nghi thức tang ma. Tại khu vực đồng bằng Bắc Bộ, nơi tập trung đông đảo người Việt cùng số lượng tín đồ Phật giáo và Công giáo lớn nhất cả nước, sự đan xen giữa văn hóa bản địa và giáo lý tôn giáo đã định hình nên các dạng thức sinh hoạt tang lễ mang nhiều nét đặc thù. Tuy nhiên, trước thời điểm công trình được công bố, giới học thuật chưa có công trình tôn giáo học chuyên sâu nào nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống và so sánh trực tiếp tang thức của tín đồ Phật giáo và Công giáo người Việt tại địa bàn này.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ các quan niệm và nghi thức trong lễ tang hiện nay của tín đồ Phật giáo và Công giáo người Việt ở Bắc Bộ, đối chiếu với tang thức truyền thống, so sánh sự tương đồng và dị biệt giữa hai tôn giáo, từ đó đưa ra các khuyến nghị khoa học nhằm điều chỉnh việc cử hành tang lễ vừa phù hợp với truyền thống dân tộc vừa đáp ứng yêu cầu văn minh hiện đại.
Để đạt được mục đích trên, tác giả xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Khảo cứu quan niệm của Phật giáo và Công giáo về cái chết trên cơ sở đối chiếu với quan niệm truyền thống của người Việt.
- Hệ thống hóa các nghi thức trong tang lễ hiện nay của tín đồ Phật giáo và Công giáo trên cơ sở đối chiếu với các nghi thức lễ tang truyền thống của người Việt.
- Chỉ ra điểm giống và khác nhau trong tang thức hiện nay của người Việt theo Phật giáo và Công giáo; so sánh với tang thức truyền thống của người Việt.
- Đưa ra một số khuyến nghị liên quan đến vấn đề tang thức nói chung hiện nay của người Việt Bắc Bộ, đặc biệt là tang thức của tín đồ Phật giáo và Công giáo.
Luận án đặt ra 3 câu hỏi nghiên cứu:
- Các nghi thức trong lễ tang Phật giáo và Công giáo có nguồn gốc từ đâu? Bản chất của việc tin và thực hành các nghi thức trong lễ tang của tín đồ Phật giáo và Công giáo là thế nào?
- Nội dung và hình thức cử hành các nghi thức tang ma hiện nay của người Việt theo Phật giáo so sánh với Công giáo và so sánh với nghi thức tang ma truyền thống của người Việt như thế nào?
- Trong xã hội hiện đại, tang thức của người Việt ở Bắc Bộ, đặc biệt tang thức của tín đồ Phật giáo và tín đồ Công giáo nên hay không nên thống nhất về nội dung và hình thức, và nếu cần thống nhất thì theo xu hướng nào?
Tương ứng với các câu hỏi nghiên cứu, 3 giả thuyết khoa học được kiểm chứng gồm:
- Giả thuyết 1: Xuất phát từ niềm tin vào cái Thiêng, các tôn giáo đã quy phạm hóa thành các nghi lễ tôn giáo. Các nghi thức tang ma của tín đồ Phật giáo và Công giáo người Việt ở Bắc Bộ có nguồn gốc từ nhận thức về cái chết và thế giới sau khi chết của Phật giáo và Công giáo.
- Giả thuyết 2: Trong nội dung và hình thức tổ chức tang ma hiện nay của người Việt ở Bắc Bộ có sự khác nhau rõ nét giữa tang thức Phật giáo và Công giáo. So với tang thức truyền thống của người Việt, tang thức Phật giáo có điểm tương đồng rõ nét hơn so với tang thức Công giáo.
- Giả thuyết 3: Hiện nay, các nội dung tang thức của người Việt ở Bắc Bộ như hình thức táng, cúng giỗ, xây lăng mộ vẫn chưa có sự thống nhất theo một xu hướng chung.
Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Tang thức của tín đồ Phật giáo và Công giáo người Việt, bao gồm nhận thức luận về cái chết và các nghi thức thực hành tang lễ.
- Phạm vi không gian: Vùng đồng bằng Bắc Bộ (gồm 10 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Dương, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình, Hà Nam, Hưng Yên, Hải Phòng, Vĩnh Phúc), tập trung khảo sát điền dã trọng điểm tại 5 tỉnh, thành phố: Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Bắc Ninh và Hà Nội.
- Phạm vi thời gian: Khảo sát và đánh giá thực trạng tang thức từ mốc khởi đầu công cuộc Đổi mới năm 1986 đến thời điểm hoàn thành luận án (năm 2014).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã phân loại và điểm luận một khối lượng tư liệu và công trình nghiên cứu phong phú liên quan trực tiếp và gián tiếp đến đề tài:
Nhóm nguồn tài liệu gốc:
- Kinh sách Phật giáo và Công giáo: Kinh Thánh (Cựu ước và Tân ước), Bộ Giáo luật 1983, Phụng - Vụ học - khoa (F. Vuillard - Cố Huy, 1923), Các giờ Kinh Phụng Vụ, văn kiện Công đồng Vatican II, Kinh Dược sư, Kinh A Di Đà, Kinh Chú thường tụng, Kinh nhân quả ba đời, Kinh Quán Vô lượng thọ, Phật thuyết Đại thừa Vô lượng thọ trang nghiêm thanh tịnh bình đẳng giác kinh.
- Chính sử triều đại phong kiến: Đại Việt sử ký toàn thư, Lịch triều hiến chương loại chí (Phan Huy Chú), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (Nội các triều Nguyễn).
- Văn kiện, văn bản quy phạm pháp luật: Chỉ thị số 27-CT/TW (1998) của Bộ Chính trị về nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội; Nghị quyết số 25-NQ/TW (2003) về công tác tôn giáo; Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo (2004) và Nghị định hướng dẫn thi hành (2005); Nghị định số 105/2012/NĐ-CP về tổ chức lễ tang cán bộ, công chức, viên chức.
Nhóm các công trình nghiên cứu về cái chết và thế giới sau khi chết:
- Góc độ Phật giáo: Thích Nhật Từ (Chết đi về đâu, 2010), Thích Nguyên Tạng (Chết và tái sinh, 2007), Liên Hoa Sinh - Tề Hân (Tây Tạng sinh tử kỳ thư, 2009), Thích Như Điển (Sống và chết theo quan niệm Phật giáo, 2009), Nayaka Thera Piyadassi (Học thuyết Phật giáo về đời sống sau khi chết), Thích Điền Tâm (Phật giáo sinh tử kỳ thư, 2011).
- Góc độ Công giáo và Thần học: Trần Hữu Thành (Điều rất cần cho chúng ta), F. Vuillard (Phụng - Vụ học - Khoa), Vinh Sơn Nguyễn Thế Thủ (Những vấn đề căn bản trong thần học bí tích Công giáo), Phạm Văn Tú (Thực hành y khoa về vấn đề an tử - trợ tử dưới nhãn quan luân lý Công giáo, 2008).
- Góc độ triết học, tâm lý và thực nghiệm cận tử: Deepak Chopra (Sự sống sau cái chết – gánh nặng chứng minh, 2009), Raymond A. Moody Jr (Sự sống sau khi chết), Ian Stevenson (Hiện tượng đầu thai, 2009), Jim B. Tucker (Tiền kiếp có hay không?, 2010), Đoàn Văn Thông (Bí ẩn về tiền kiếp và hậu kiếp, 1993), Nguyễn Duy Hinh (Thần và Quỷ, Phàm và Thiêng, Tâm linh Việt Nam).
Nhóm công trình về nghi thức tang ma Phật giáo và Công giáo:
- Về Phật giáo: Thích Giải An (Nghi thức lâm chung), Thích Tố Liên (Nghi thức cúng Phật và tổ tiên, 1948), Gyalwang Drukpa (Bardo – Bí mật nghệ thuật sinh tử), Nghi thức Hộ niệm (Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử), Đức Quang (Tang sự xưa và nay, 2001).
- Về Công giáo: Nguyễn Hồng Dương (Nghi lễ và lối sống Công giáo trong văn hóa Việt Nam, 2001; Tổ chức xứ, họ đạo Công giáo Việt Nam - Lịch sử và hiện tại), Ủy ban Giám mục về Phụng vụ (Nghi thức an táng và thánh lễ cầu hồn, 1971), Nguyễn Văn Hiếu (Niềm tin và hy vọng – nghi thức viếng xác và cầu hồn, 2011), cùng các công trình nghiên cứu trường hợp của Nguyễn Thị Đậm (2012) tại giáo xứ Hoàng Xá (Thái Bình), Trần Thị Huế (2012) tại giáo họ Sen Hồ (Bắc Ninh), Nguyễn Thị Phong (2008) tại giáo họ Tử Nê.
Nhóm công trình về phong tục tập quán và tín ngưỡng truyền thống của người Việt:
- Đào Duy Anh (Việt Nam văn hóa sử cương), Phan Kế Bính (Việt Nam phong tục), Toan Ánh (Phong tục thờ cúng trong gia đình người Việt, Nếp cũ – tín ngưỡng Việt Nam), Hồ Gia Tân (Thọ mai gia lễ, 2009), Trương Thìn (Việc tang lễ, Nghi lễ mộ phần người Việt), Leopold Cadiere (Văn hóa, tín ngưỡng và thực hành tôn giáo người Việt), Lê Thị Cúc (Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt xưa và nay, 2009), Lê Thị Chiêng (Tìm hiểu các điện thờ tư gia ở Hà Nội, 2010), Trần Đăng Sinh (Những khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt ở đồng bằng Bắc bộ hiện nay), Nguyễn Hữu Thụ (Khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt vùng đồng bằng Bắc bộ).
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết:
Tổng quan tài liệu cho thấy các tài liệu tôn giáo trước đây chủ yếu dừng lại ở việc biên soạn kinh bản, hướng dẫn nghi thức phụng vụ nội bộ hoặc khảo cứu riêng rẽ từng phong tục làng xã mang tính mô tả dân tộc học. Chưa có công trình nào tích hợp khung lý thuyết tôn giáo học để phân tích có hệ thống nhận thức luận về cái chết, giải mã cấu trúc biểu tượng nghi lễ, và đặt tang thức Phật giáo cạnh tang thức Công giáo trong mối tương quan so sánh với tang thức bản địa truyền thống của người Việt tại đồng bằng Bắc Bộ.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng khung phân tích liên ngành của Tôn giáo học, vận dụng các hệ thống lý thuyết chuyên ngành sau:
- Lý thuyết xung đột trong Tâm lý học tôn giáo: Vận dụng quan điểm của Sigmund Freud về nguồn gốc xung đột, chức năng giải tỏa âu lo, an ủi nội tâm và kiềm chế bản năng của tôn giáo; kết hợp với luận điểm của Anton Boisen (1920) giải thích cái chết như một biến cố gây khủng hoảng tinh thần và việc cử hành nghi lễ tang ma là sự điều chỉnh xung đột tâm lý, thể hiện trách nhiệm đạo đức nhằm vượt qua khủng hoảng.
- Lý thuyết chức năng trong Xã hội học tôn giáo: Vận dụng lý thuyết của Émile Durkheim (Những hình thức sơ khai của đời sống tôn giáo, 1912) về vai trò của nghi lễ trong việc củng cố tính đoàn kết xã hội và quy phạm hóa quyền lực tôn giáo trước tín đồ; kết hợp quan điểm của Georg Simmel về sự quy hướng các lực lượng xã hội qua niềm tin vào Đấng tối cao.
- Lý thuyết nhân học biểu tượng trong Nhân học tôn giáo: Ứng dụng quan điểm của Victor Turner (Biểu tượng trong nghi lễ của người Ndembu) coi biểu tượng là đơn vị cơ bản của nghi lễ, phân định biểu tượng chính và biểu tượng phương tiện để giải mã ý nghĩa các hành vi nghi thức trong đám tang.
- Lý thuyết Văn hóa học tôn giáo: Áp dụng lý thuyết vùng văn hóa để nhận diện sắc thái đặc thù của đồng bằng Bắc Bộ và lý thuyết giao lưu - tiếp biến văn hóa để phân tích sự tương tác, hòa nhập giữa giáo lý ngoại lai (Phật giáo, Công giáo) với tín ngưỡng bản địa (thờ cúng tổ tiên).
- Quan điểm Tôn giáo học tại Việt Nam: Kế thừa luận điểm của Đặng Nghiêm Vạn về tính Thiêng và bản chất siêu lý của niềm tin tôn giáo; khung phạm trù Thần - Quỷ - Ma và Phàm - Thiêng của Nguyễn Duy Hinh.
Hệ thống khái niệm công cụ được xác định rõ: Cái chết, Tang thức (gồm mặt nhận thức luận và quy trình tổ chức chôn cất), Nghi thức, Nghi lễ, Lễ tang, Tín đồ Phật giáo (xét theo nghĩa rộng gồm cả người quy y và chưa quy y), Tín đồ Công giáo (giáo dân/Kitô hữu), Xác/thân xác, Hồn/linh hồn, Vong linh/hương linh, Phạn hàm, Thần thức, Thân tâm, Cầu siêu, Cầu hồn, Ngày tận thế, Cõi (cảnh giới).
Về phương pháp nghiên cứu thực tế, luận án kết hợp:
- Phương pháp văn bản học: Thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh các nguồn giáo lý, giáo luật, kinh sách và tài liệu lịch sử.
- Phương pháp dân tộc học: Điền dã thực địa, quan sát tham dự trực tiếp tại các lễ tang, lễ cầu siêu, lễ cầu hồn tại Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Bắc Ninh, Hà Nội.
- Phương pháp xã hội học (định tính và định lượng): Điều tra bằng bảng hỏi cấu trúc trên 3 mẫu khảo sát độc lập tại đồng bằng Bắc Bộ:
- Mẫu 1: 216 phiếu về lễ tang truyền thống của người Việt.
- Mẫu 2: 234 phiếu về lễ tang của tín đồ Phật giáo.
- Mẫu 3: 233 phiếu về lễ tang của tín đồ Công giáo.
- Kết hợp phỏng vấn sâu các nhóm đối tượng: linh mục, nhà sư, ông trùm giáo xứ, tín đồ và người dân không theo tôn giáo.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Tổng quan các nguồn tư liệu, tài liệu
Chương 1 trình bày lịch sử nghiên cứu vấn đề, khung phân tích lý thuyết, hệ khái niệm công cụ và phác thảo diện mạo địa lý - hành chính, dân cư cùng hiện trạng hai tôn giáo tại đồng bằng Bắc Bộ.
Về mặt xã hội học tôn giáo, đồng bằng Bắc Bộ gồm 10 tỉnh, thành phố, có tỷ lệ người Việt chiếm trên 99% (dân tộc thiểu số dưới 1%). Đây là cái nôi lịch sử tiếp nhận Phật giáo từ thế kỷ II tại Luy Lâu (Bắc Ninh) mang đặc trưng Đại thừa hữu thần luận và Phật giáo dân gian ("cứu khổ cứu nạn", thờ Quán Thế Âm, gắn với chùa làng); đồng thời là nơi tiếp nhận Công giáo từ thế kỷ XVI (dấu ấn giáo sĩ Inêkhu năm 1533 tại Nam Định và Alexandre de Rhodes năm 1627), từng bước hội nhập mô hình xứ họ đạo vào cơ cấu làng xã Việt Nam.
Dưới đây là bảng tổng hợp số liệu về hiện trạng tổ chức của Phật giáo và Công giáo tại địa bàn nghiên cứu được luận án trích xuất từ các nguồn dữ liệu chính thức:
| Chỉ số thống kê |
Phật giáo vùng đồng bằng Bắc Bộ (Dữ liệu GHPGVN, 12/2007) |
Công giáo vùng đồng bằng Bắc Bộ (Dữ liệu GHCGVN, 06/2010 - 7 giáo phận) |
| Số lượng cơ sở thờ tự |
6.988 cơ sở (chiếm 42,51% cả nước) |
2.418 cơ sở thờ tự |
| Số lượng chức sắc, chức việc, tu sĩ |
4.592 tăng ni (chiếm 12,39% cả nước; riêng Hà Nội chiếm 1.897 tăng ni) |
2 Tổng giám mục, 15 Giám mục, 454 Linh mục, 1.412 Tu sĩ |
| Số lượng đơn vị cơ sở (Xứ/Họ/Tự) |
Tập trung tại hệ thống chùa làng xã |
736 giáo xứ |
| Số lượng tín đồ |
Nằm trong nhóm đông nhất cả nước (Toàn quốc có 9,34 triệu tín đồ năm 2008) |
1.387.000 giáo dân |
Chương 2. Quan niệm về tang thức của tín đồ Phật giáo và Công giáo người Việt ở Bắc Bộ
Chương này tập trung phân tích nhận thức luận về cái chết, sự tồn tại của con người sau khi chết và quan niệm về thế giới bên kia của ba hệ quy chiếu: người Việt truyền thống, Phật giáo và Công giáo.
Chương 3. Tang thức hiện nay của tín đồ Phật giáo và Công giáo người Việt ở Bắc Bộ
Chương 3 tái hiện toàn diện và hệ thống hóa tiến trình thực hành nghi lễ tang ma qua 3 giai đoạn: trước lễ tang, trong lễ tang và sau lễ tang.
-
Tang thức truyền thống của người Việt:
- Giai đoạn trước: Nghi thức lúc lâm chung (đặt nơi chính tẩm, trối trăng), kiểm tra tắt thở (đặt dán nhơ/nhờ bằng bông), tắm gội (mộc dục), thay quần áo, ngậm hàm (phạn hàm - bỏ gạo và tiền vào miệng), lập bàn thờ vong (linh vị).
- Giai đoạn trong tang lễ: Phát tang (phục phao), khâm liệm, nhập quan, lễ thành phục, tổ chức phúng viếng, lễ tế triêu tịch, lễ khiển điện (chuyển cữu), lễ tống táng (hạ huyệt), lễ tế ngu (an táng xong rước linh vị về nhà).
- Giai đoạn sau tang lễ: Lễ tam chiêu (mở cửa mả sau 3 ngày), lễ thất nhật (cúng tuần 7 ngày đến 49 ngày), lễ bách nhật (100 ngày), lễ tiểu tường (giỗ đầu sau 1 năm), lễ đại tường (giỗ hết sau 2 năm), lễ trừ phục (cất khăn tang sau 27 tháng hoặc 3 năm), và phong tục cải táng (sang cát sau 3-5 năm).
-
Tang thức của tín đồ Phật giáo:
- Thể hiện sự kết hợp giữa nghi lễ truyền thống và kinh điển Phật giáo. Điểm nhấn là nghi thức hộ niệm lúc lâm chung (trợ niệm danh hiệu Phật A Di Đà), nghi thức khai thị cho thần thức buông xả trần duyên.
- Trong lễ tang: Ban Trị sự/Hội đồng hương linh cử hành tụng kinh cầu siêu (Kinh Dược sư, Kinh A Di Đà, tụng chú Vãng sinh). Gia đình thiết lập bàn thờ Phật bên cạnh hoặc phía trên bàn thờ vong; đồ cúng tế tuyệt đối dùng đồ chay để tránh tạo thêm sát nghiệp cho người quá cố.
- Sau tang lễ: Cử hành nghi thức cúng thất thất trai tuần (tụng kinh cầu siêu đều đặn mỗi 7 ngày cho đến ngày thứ 49), tổ chức lễ trai đàn chẩn tế, phóng sinh tu phúc, hồi hướng công đức giúp thần thức chuyển sinh về cõi lành.
-
Tang thức của tín đồ Công giáo:
- Mang tính cộng đồng phụng vụ giáo xứ chặt chẽ dưới sự điều hành của Ban hành giáo và Hội đồng hương tử.
- Giai đoạn trước: Khi người bệnh hấp hối, gia đình mời linh mục ban Bí tích Xức dầu bệnh nhân và Bí tích Thánh Thể (Của Ăn Đàng); cộng đoàn giáo dân quây quần đọc kinh phó linh hồn; kéo chuông nhà thờ báo tử (chuông sầu).
- Giai đoạn trong tang lễ: Nghi thức khâm liệm, tẩm liệm dưới sự hướng dẫn của linh mục hoặc Ban hành giáo; đặt thi hài cạnh cây Thánh giá và nến Phục sinh; các đoàn thể luân phiên đến viếng xác và đọc kinh cầu hồn. Cử hành Nghi thức đưa thi hài vào nhà thờ làm Thánh lễ an táng (Thánh lễ cầu cho người qua đời); linh mục cử hành nghi thức phó dâng và từ biệt (rảy nước thánh và xông hương thi hài); đưa thi hài ra nghĩa trang giáo xứ (Đất thánh) cử hành nghi thức làm phép huyệt và hạ huyệt.
- Sau tang lễ: Cử hành Thánh lễ cầu hồn vào ngày thứ 3, ngày thứ 7, ngày thứ 30 (lễ giỗ tháng), lễ giỗ năm, và đặc biệt tham gia toàn bộ các thánh lễ trong Tháng cầu cho các linh hồn (tháng 11 Dương lịch hàng năm).
Chương 4. Nhận định và khuyến nghị rút ra từ tang thức hiện nay của tín đồ Phật giáo và Công giáo người Việt ở Bắc Bộ
Chương 4 đúc kết các nhận định khoa học qua so sánh đối chiếu và đề xuất các giải pháp quản lý xã hội:
- So sánh tương đồng và khác biệt:
- Điểm tương đồng: Cả hai tôn giáo đều khẳng định sự tồn tại của linh hồn/thần thức sau cái chết; đề cao chữ Hiếu và bổn phận của người còn sống đối với người đã mất; nghi lễ tang ma đều có chức năng an ủi tâm lý thân nhân và củng cố tính gắn kết cộng đồng.
- Điểm khác biệt: Tang thức Phật giáo mang tính cá nhân/gia đình kết hợp nhà chùa, dung hợp sâu sắc với phong tục tập quán bản địa (bàn thờ gia tiên, cúng cơm, giỗ chạp); tang thức Công giáo mang tính cộng đồng giáo hội cao độ, tổ chức chặt chẽ theo sách Phụng vụ, loại bỏ các yếu tố ma thuật dân gian (như xem bói ngày giờ, yểm bùa, bỏ vàng mã vào quan tài).
- Thực trạng và các bất cập nảy sinh: Luận án chỉ ra các biểu hiện lệch chuẩn trong thực hành tang lễ hiện nay như: tục đốt vàng mã tràn lan (ở người không theo đạo và một bộ phận tín đồ Phật giáo), tình trạng tổ chức ăn uống linh đình tốn kém gây gánh nặng kinh tế ("nợ miệng"), việc xây cất lăng mộ bê tông hóa quy mô lớn chiếm dụng đất canh tác, sự chậm chuyển biến sang hình thức hỏa táng.
- Khuyến nghị giải pháp:
- Đối với cơ quan quản lý nhà nước: Cần hoàn thiện cơ chế, chính sách quy hoạch đất nghĩa trang hợp lý; đẩy mạnh tuyên truyền vận động chuyển đổi từ địa táng sang hỏa táng văn minh; rà soát, đưa việc thực hiện tang lễ văn minh vào quy ước, hương ước làng xã.
- Đối với Giáo hội Phật giáo: Ban hành các văn bản hướng dẫn chuẩn hóa nghi thức tang lễ Phật giáo thuần túy; giải thích cho phật tử hiểu rõ giáo lý vô ngã để triệt để bài trừ hủ tục đốt vàng mã và các yếu tố mê tín dị đoan.
- Đối với Giáo hội Công giáo: Tiếp tục phát huy tinh thần tương trợ cộng đồng, nếp sống tiết kiệm trong tang lễ; hướng dẫn giáo dân tiếp tục dung hợp hài hòa nghi lễ Công giáo với việc hiếu kính tổ tiên truyền thống theo tinh thần Thông cáo của Hội đồng Giám mục Việt Nam.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án đạt được những kết quả và đóng góp mới sau:
- Về mặt lý luận: Luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên thuộc chuyên ngành Tôn giáo học nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống và so sánh chuyên sâu về tang thức của tín đồ Phật giáo và Công giáo người Việt tại đồng bằng Bắc Bộ; chứng minh sự cần thiết tất yếu của việc vận dụng liên ngành các lý thuyết Xã hội học tôn giáo, Tâm lý học tôn giáo, Nhân học tôn giáo và Văn hóa học vào giải mã một hiện tượng tôn giáo - văn hóa cụ thể.
- Về mặt thực tiễn: Luận án hệ thống hóa chi tiết tiến trình nghi lễ tang ma của hai tôn giáo lớn đặt trong sự đối sánh với tang ma truyền thống; cung cấp bộ dữ liệu điền dã và điều tra xã hội học định lượng đáng tin cậy về hành vi và thái độ của cư dân Bắc Bộ đối với cái chết, tục đốt vàng mã, tập quán ăn uống trong tang lễ và sự lựa chọn các hình thức táng.
- Về mặt chính sách và ứng dụng: Đề xuất hệ thống khuyến nghị khoa học, có tính khả thi cho các cơ quan hoạch định chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, chính quyền địa phương trong việc quản lý nếp sống văn minh và quy hoạch đất đai nghĩa trang, đồng thời định hướng cho các tổ chức giáo hội điều chỉnh hành vi nghi lễ của tín đồ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung phạm vi nghiên cứu chủ yếu tại vùng đồng bằng châu thổ Bắc Bộ với địa bàn khảo sát trọng điểm ở 5 tỉnh/thành phố (Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Bắc Ninh, Hà Nội) trong giai đoạn từ 1986 đến 2014; chưa mở rộng so sánh với tang thức của tín đồ Phật giáo và Công giáo người Việt ở các vùng văn hóa khác như Bắc Trung Bộ hay Nam Bộ.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh đối chiếu tang thức của các tôn giáo khác (như Tin Lành, Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo) hoặc khảo sát sự biến chuyển của tang thức người Việt ở các vùng đô thị hóa nhanh và cộng đồng người Việt tại hải ngoại.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao đối với:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên: Thuộc các chuyên ngành Tôn giáo học, Văn hóa học, Nhân học, Dân tộc học, Xã hội học và Triết học.
- Các nhà quản lý nhà nước: Ban Tôn giáo Chính phủ, Sở Nội vụ, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch các địa phương trong việc tham mưu xây dựng chính sách văn hóa, tôn giáo và quy hoạch nghĩa trang.
- Cộng đồng dân cư và tổ chức tôn giáo: Cung cấp luận cứ để xây dựng quy ước, hương ước làng văn hóa, chuẩn hóa nghi thức hành lễ tiết kiệm, văn minh.
Câu hỏi thường gặp
1. Khái niệm "tang thức" trong luận án được định nghĩa theo những tầng nghĩa nào?
Trong luận án, "tang thức" được định nghĩa theo hai nghĩa: thứ nhất là nhận thức luận của con người về cái chết và thế giới sau khi chết; thứ hai là cách thức tổ chức chôn cất người chết, thể hiện qua quy trình một lễ tang gồm nhiều nghi thức diễn ra qua 3 giai đoạn: trước lễ tang, trong lễ tang và sau lễ tang.
2. Điểm khác biệt cốt lõi trong quan niệm về cái chết giữa Phật giáo và Công giáo là gì?
Phật giáo quan niệm con người do Ngũ uẩn hợp thành, bản chất là vô thường, vô ngã; cái chết là sự tan rã của thân xác vật lý, thần thức theo nghiệp lực bước vào giai đoạn Trung ấm (tối đa 49 ngày) để tái sinh luân hồi vào 6 cõi hoặc vãng sinh Cực lạc. Ngược lại, Công giáo quan niệm con người gồm thể xác và linh hồn bất tử do Thiên Chúa tạo dựng; cái chết là sự chuyển tiếp để linh hồn chịu sự phán xét riêng của Chúa, chờ đợi ngày phục sinh và sự phán xét chung trong ngày tận thế.
3. Tại sao trong tang lễ Công giáo không thực hiện nghi thức ngậm hàm (phạn hàm) và đốt vàng mã?
Công giáo xác định linh hồn bất tử thuộc về Thiên Chúa và số phận sau khi chết phụ thuộc vào ân sủng, đức tin và việc làm phúc đức của cá nhân chứ không phụ thuộc vào vật chất trần thế. Do đó, các tập tục ma thuật dân gian như phạn hàm (bỏ gạo, tiền vào miệng người chết để lộ phí đi đường) và đốt vàng mã bị loại trừ hoàn toàn khỏi phụng vụ Công giáo vì không tương thích với giáo lý đức tin.
4. Dữ liệu khảo sát xã hội học của luận án được tiến hành với quy mô mẫu như thế nào?
Tác giả đã triển khai điều tra xã hội học bằng bảng hỏi cấu trúc trên 3 mẫu khảo sát độc lập tại vùng đồng bằng Bắc Bộ: 216 phiếu điều tra về lễ tang truyền thống của người Việt, 234 phiếu điều tra về lễ tang của tín đồ Phật giáo, và 233 phiếu điều tra về lễ tang của tín đồ Công giáo; kết hợp với nhiều cuộc phỏng vấn sâu trực tiếp các chức sắc (linh mục, nhà sư), chức việc (ông trùm) và tín đồ tại 5 tỉnh/thành phố trọng điểm.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Tang thức của người Việt Bắc bộ là tín đồ Phật giáo và Công giáo" của Lê Thị Cúc là công trình khoa học hệ thống, phân tích sâu sắc mối quan hệ giữa nhận thức luận tôn giáo về cái chết và các hình thái thực hành nghi lễ tang ma tại đồng bằng Bắc Bộ. Bằng việc kết hợp hài hòa giữa phương pháp văn bản học, quan sát điền dã dân tộc học và điều tra xã hội học định lượng, tác giả đã làm rõ cấu trúc nghi lễ, chỉ ra những điểm tương đồng và dị biệt giữa tang thức Phật giáo và Công giáo trong thế đối sánh với truyền thống bản địa. Các kết luận và khuyến nghị của luận án đóng góp nguồn tư liệu khoa học chuẩn xác, phục vụ hữu ích cho công tác nghiên cứu tôn giáo học và quản lý văn hóa xã hội ở Việt Nam.