phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 2 chương và 6 tiết. 17 Chƣơng 1 BỐI CẢNH, ĐIỀU KIỆN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG HAI LẦN KẾT TẬP KINH ĐIỂN PHẬT GIÁO SƠ KỲ 1. KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, BỐI CẢNH KINH TẾ, CHÍNH TRỊ XÃ HỘI ẤN ĐỘ GIAI ĐOẠN PHÂN PHÁI PHẬT GIÁO SƠ KỲ Khi nhắc đến những nền văn minh lớn trên thế giới, không thể không nhắc đến Ấn Độ, một trong những cái nôi của văn minh nhân loại. Ngoài việc sáng tạo nên nên một nền văn hoá lâu đời phát triển rực rỡ, con người Ấn Độ còn cống hiến cho nhân loại những triết lý thâm trầm về vũ trụ và nhân sinh, đóng góp to lớn vào nền triết học của nhân loại, cũng như thể hiện trình độ phát triển về mặt tư duy của con người trong những thời đại ban sơ nhất.
Và một trong số những hệ thống triết lý thâm trầm ấy chính là tư tưởng của Phật giáo. Tuy nhiên ta thấy rằng, theo nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử thì mọi tư tưởng tưởng, suy cho cùng đều xuất phát từ sự phản ánh của điều kiện sống, chịu sự chi phối của điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị - xã hội, Ấn Độ cũng không ngoại lệ. Nhận định về quan điểm này, C.Ăngghen cho rằng: “Chính con người, khi phát triển sự sản xuất vật chất và sự giao tiếp vật chất của mình, đã làm biến đổi, cùng với hiện thực đó của mình, cả tư duy lẫn sản phẩm tư duy của mình. Không phải ý thức quyết định đời sống mà chính đời sống quyết định ý thức” (C.
Cũng từ đây các ông khẳng định vai trò của triết học, khi đánh giá tầm quan trọng của triết học như những gì tinh tuý nhất về mặt tinh thần của mỗi dân tộc, là thứ còn lại để làm thước đo cho trình độ phát triển nhận thức của mỗi thời kỳ. Triết học Ấn Độ cổ đại nói chung và triết học Phật giáo nói riêng, không xuất phát từ trí tưởng tượng, không phải là sản phẩm thuần tuý tư biện nào, mà nó chính là kết tinh từ giá trị tinh thần và văn hoá dân tộc Ấn Độ. Tất cả những 18 điều này đều nảy sinh và tồn tại dựa trên những điều kiện tự nhiên, lịch sử, điều kiện về kinh tế, chính trị - xã hội của dân tộc Ấn Độ cổ đại. Khái quát điều kiện tự nhiên Triết học Ấn Độ cổ đại nói chung và triết học Phật giáo nói riêng là sản phẩm được kết tinh từ giá trị tinh thần và văn hoá dân tộc Ấn Độ.
Triết học Ấn Độ là một trong những hình thái ý thức xã hội bị quyết định bởi tồn tại xã hội và phản ánh những điều kiện tự nhiên, điều kiện khí hậu đa dạng, khắc nghiệt. Các tư tưởng ở Ấn Độ ra đời chịu tác động bởi điều kiện tự nhiên, cái nôi sinh ra con người đồng thời là một trong những áp lực chi phối đời sống, tư tưởng của người dân Ấn Độ. Điều kiện sống tác động, chi phối đến đời sống vật chất và tinh thần của người Ấn độ cổ đại đặc biệt là tư tưởng triết học, tôn giáo, tín ngưỡng.Ăngghen cho rằng: “.các triết gia không mọc lên như nấm từ đất, họ là sản phẩm của thời đại mình, của dân tộc mình, mà dòng sữa tinh tế nhất, quý giá và vô hình được tập trung lại trong những tư tưởng triết học” (C. Về vị trí địa lý, Ấn Độ là một bán đảo lớn nằm ở miền nam châu Á, phía Nam giáp Ấn Độ Dương.
Điều kiện tự nhiên ở Ấn Độ vô cùng khắc nghiệt, núi non hiểm trở, dãy núi Hymalya ở miền Bắc án ngữ theo đường vòng cung dài 2600km, tại đây có 40 ngọn núi cao trên 7000m so với mực nước biển. Hymalaya khoác lên mình tấm choàng bao phủ tuyết quanh năm được ví như thần trụ trời. Theo Will Durant nhận xét: “Xứ đó là một tam giác mênh mông, đáy ở phía bắc, tức dãy Himalaya quanh năm tuyết phủ; đinh ở phía nam, tức đầu đảo Tích Lan, quanh năm nóng như thiêu như đốt. Phía tây là Ba Tư mà dân chúng, ngôn ngữ, thần thánh đều rất gần gũi với Ấn Độ thời Veda, cơ hồ hai xứ là bà con chú bác với nhau.
Đây là ngọn núi thiêng để các bậc tu sĩ đến sống và chuyên tâm tu luyện, họ rời bỏ cuộc sống gia đình trần tục, đến ngồi thiền định dưới gốc cây và suy 19 tư về vũ trụ bao la này. Đúng như Jawaharlal Nehru đã viết: “… nơi gắn chặt với những chuyện thần thoại và truyền thuyết xưa, và nơi đã có nhiều ảnh hưởng đến tư tưởng và văn học của chúng tôi. Lòng yêu mến núi non của tôi và tình ruột thịt với Kashmir đã kéo tôi đến đó, và tôi được nhìn thấy không những cuộc sống, sinh lực và cái đẹp của hiện tại, và cả vẻ duyên dáng được ghi nhớ của các thời đại đã qua” (Jawaharlal Nehru , 1990, trang 70). Và cũng chính tại nơi đây, vô số các câu chuyện thần thoại được người Ấn Độ tạo ra để giải thích cho các hiện tượng đa dạng, phong phú, thăng trầm đang diễn ra đời sống hằng ngày.
Miền cực Bắc Ấn Độ nổi tiếng với hai con sông lớn là sông Ấn (Indus) và sông Hằng (Ganga), hai con sông này đều chảy từ ngọn núi vĩ đại Himalaya, tạo nên đồng bằng Ấn Độ phì nhiêu nổi tiếng. Trong đó, Sông Ấn chia làm năm nhánh, nên vùng đồng bằng ở năm nhánh sông ấy được gọi là vùng Pendjab, nghĩa là vùng năm con sông, Sông Ấn là nơi đã nảy sinh ra nền văn hóa nổi tiếng là Mohenjo Daro và Harappa từ thiên niên kỷ thứ III trước Công nguyên. Bắt nguồn từ chân ngọn núi Himalaya và chảy về phía Đông ngang qua vùng Bắc Ấn, sông Hằng được coi là một dòng sông linh thiêng của Ấn Độ và có ý nghĩa lớn lao đối với đời sống tinh thần của người Ấn Độ đặc biệt trong văn hoá, tín ngưỡng, tôn giáo. Đây là cái nôi phát triển của nền nông nghiệp lúa nước cổ xưa và là nơi phát sinh ra các quốc gia chiếm hữu nô lệ đầu tiên ở Ấn Độ cổ đại.
Theo Truyện cổ dân gian Ấn Độ: “.Vậy là sông Hằng có đến ba dòng chảy, chảy qua cả ba thế giới. Trên trời nó là Ngân hà, ở mặt đất nó là Hằng hà, dưới âm phủ nó có tên là Patalaganga. Vì dòng sông Hằng chảy qua cả ba thế giới nên nó còn được gọi là Tripathaga” (Lữ Trừng (HT Thích Phước Sơn dịch), 2011, trang 12). Đồng bằng lưu vực sông Ấn và sông Hằng bị chia thành hai phần Đông và Tây bởi dãy núi Aryawatar và vùng sa mạc Thar nóng nực như thiêu như đốt.
Cả hai dòng sông này bồi đắp thành hai đồng bằng màu mỡ miền Bắc 20 Ấn Độ, biến nơi đây thành cái nôi của nền văn minh Ấn Độ. Cư dân Ấn Độ gồm hai thành phần chính: người Dravida chủ yếu cư trú ở miền Nam và người Arya chủ yếu cư trú ở miền Bắc. Trải dọc miền Nam Ấn Độ là cao nguyên Deccan (Dekkan) rộng lớn, với hai dãy núi Đông Gat và Tây Gat chạy dọc hai bờ đông và tây của bán đảo Ấn Độ. Thiên nhiên ở đây cực kỳ khô cằn, khiến cho con người cũng như các mảng sinh thái động thực vật không thể thích nghi được, dẫn đến miền Nam Ấn kém phát triển hơn miền Bắc Ấn về nhiều mặt.
Với vị trí địa lý phức tạp đã làm cho đất nước Ấn Độ có khí hậu vô cùng đa dạng như thế, nơi đây hội đủ tất cả những yếu tố thời tiết khắc nghiệt nhất. Từ cực nam Ấn Độ đến vùng hạ lưu sông Ấn-Hằng khí hậu khô, oi bức và rất nóng. Ngược lại, cực bắc Ấn Độ giáp chân núi Himalaya lại rất lạnh lẽo, vào mùa đông có tuyết rơi. Song ở vùng tây bắc cách Himalaya chừng 100km có sa mạc Thar rộng lớn quanh năm hầu như không mưa.
Với những đối cực khắc nghiệt của thời tiết như vậy đã làm cho đất nước Ấn Độ có ba mùa: mùa nắng, mùa mưa và mùa đông. Điều kiện tự nhiên và khí hậu đa dạng, phức tạp khiến Ấn Độ có đầy đủ rừng rậm hoang sơ, có nguồn động thực vật phong phú, quý hiếm, đồi núi bao phủ và hoang mạc khô cằn. Tuy nhiên, do ngăn cách bởi đồi núi hiểm trở xung quanh khiến Ấn Độ trở nên biệt lập với thế giới bên ngoài, theo đó nền văn minh Ấn Độ có những biến chuyển riêng biệt. Nhìn một cách tổng thể, đất nước Ấn Độ vốn là một trong những nơi có nền văn minh sớm nhất trên trái đất này, những điều kiện tự nhiên trái ngược và khắc nghiệt ấy đã ảnh hưởng không nhỏ tới phong cách tư duy và đời sống tâm linh của người Ấn độ.
Chính tính chất đối lập và khắc nghiệt ấy, một mặt giúp cho người Ấn Độ có cách nhìn nhận, xem xét và quan niệm về tự nhiên không chỉ ở mặt này hoặc mặt kia của sự đối lập mà phải ở cả hai mặt đối lập trái ngược nhau đó. Đây chính là mầm mống của sự hình thành và phát triển tư tưởng triết học, cũng là những yếu tố tác động để sự biến 21 động về mặt tư tưởng khi đời sống con người từng bước được cải thiện trong tiến trình phát triển của xã hội. Mặt khác, chúng còn là những thế lực tự nhiên đè nặng và ghi dấu ấn đậm nét lên đời sống vật chất và tinh thần của dân tộc Ấn Độ. Bối cảnh kinh tế, chính trị - xã hội giai đoạn phân phái của Phật giáo sơ kỳ Với đặc điểm địa lý tự nhiên và khí hậu biến đổi khắc nghiệt, lịch sử Ấn Độ cổ đại cũng theo đó mà bị chi phối.
Dãy Himalaya ở phía Bắc bán lục địa này sừng sững như một bức tường thành khổng lồ, ngăn chặn đường tiếp xúc với các nền văn hóa ở phía Đông và Bắc. Chỉ có một lối duy nhất là những con đường núi đi qua Phú Hản (Afghanistan), nằm ở phía Tây Bắc của bán lục địa. Cũng có hai lưu vực lớn là lưu vực sông Indus ở Tây Bắc và lưu vực sông Hằng ở Đông Bắc bán lục địa, cả hai con sông đều tạo thành những môi trường bảo vệ quan trọng để củng cố một nền văn minh phức tạp, huyền bí. Điều này đã có tác động rất lớn đến các hoạt động phát triển kinh tế, văn hoá và xã hội của vùng đất này.
Trong bất cứ một xã hội nào, kinh tế là yếu tố vô cùng quan trọng, là yếu tố quyết định sự phát triển xã hội cũng như tư tưởng của xã hội đó.