Chương 1: CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRÌNH GIAO LƯU VĂN HÓA GIỮA ĐÀNG TRONG VÀ PHƯƠNG TÂY THẾ KỈ XVII, XVIII Mỗi nền văn hóa đi qua nhiều chặng đường lịch sử khác nhau sẽ được bồi đắp thêm những phẩm chất mới. Văn hóa không thể tự nó vận động đi lên mà phải có sự hỗ trợ của các yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội tại thời điểm hình thành và phát triển. Quá trình giao lưu văn hóa giữa Đàng Trong với các nước phương Tây trong các thế kỉ XVII, XVIII cũng không nằm ngoài quy luật trên, chịu ảnh hưởng, tác động bởi các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội đương thời. Thế kỉ XVII, XVIII là một giai đoạn lịch sử khá đặc biệt đối với Đàng Trong.
Đây là khoảng thời gian các chúa Nguyễn xây dựng một lãnh thổ độc lập với họ Trịnh ở Đàng Ngoài và mở rộng lãnh thổ xuống phía Nam, thời kỳ đẩy mạnh giao lưu với các nước phương Tây nhằm củng cố tiềm lực. Đây cũng là thời kỳ kinh tế tư bản chủ nghĩa ở các nước phương Tây phát triển mạnh mẽ sau những cuộc phát kiến địa lý. Nhu cầu thị trường và chinh phục đức tin đã thôi thúc giới thương nhân và các nhà truyền giáo cùng nhau đi trên một chuyến tàu sang các nước phương Đông, trong đó có Đàng Trong Việt Nam. Vậy các nhân tố cụ thể nào đã tác động đến quá trình giao lưu văn hóa giữa Đàng Trong và phương Tây trong thế kỉ XVII, XVIII? Nội dung chương này sẽ góp phần làm sáng tỏ vấn đề được đặt ra ở trên.
Quá trình tiếp xúc, giao lưu văn hóa giữa Việt Nam và phương Tây trước thế kỉ XVII Các nguồn sử liệu cho thấy, trước thế kỉ XVII, quá trình giao lưu văn hóa giữa Đàng Trong và các nước phương Tây diễn ra chưa nhiều, chủ yếu thông qua một số cuộc tiếp xúc đầu tiên của các nhà truyền giáo nên chưa đạt hiệu quả, dấu ấn để lại còn mờ nhạt. Theo nhiều nhà chép sử truyền giáo miền Đông Á, vào thế kỉ XIV, giáo sĩ Odorico de Perdenone trong cuộc vượt biển từ châu Âu sang châu Á có đỗ lại ở tỉnh Bình Định (lúc đó còn là đất của người Champa đời vua Chế A Nan (1318-1343). Trước Odorico de Perdenone, vào thế kỉ XIII, Marco Polo trên con đường từ Vân Nam xuống Champa cũng qua đất Việt [25, tr. Vào năm 1535, Antonio de Faria cũng đã vào cửa Hàn và đến Hội An.
Từ năm 1540, người Bồ đã bắt đầu đến buôn bán với vùng Nam nước Việt. Năm 1546, trong cuốn Lusiades, thi sĩ Camoens đã ca tụng cảnh đẹp thiên nhiên của Mekong xứ Cao 9 Miên, vùng biển xứ Champa và xứ Cauchichina. Từ sau năm 1555, người Bồ lập trụ sở thương mại ở Áo Môn, liên lạc buôn bán lại càng tiến triển. Công cuộc truyền giáo ở Đàng Trong được bắt đầu sớm hơn so với Đàng Ngoài.
Hoạt động truyền giáo của các giáo sĩ một phần lớn ở trong khu vực người Chân Lạp và Chiêm thành. Theo sử liệu ghi lại, giáo sĩ Gaspar de Santa Cruz cũng là một trong những vị tiên phong truyền giáo, đồng thời là người đầu tiên đến truyền giáo cho miền Nam đất Việt vào giữa thế kỉ XVI. Tiếp sau đó từ năm 1580 đến năm 1586, hai giáo sĩ Georges de la Motte, người Pháp và Luis de Fonseca, người Bồ đã đến truyền giáo tại vùng Quảng Nam lúc đó thuộc quyền cai quản của Nguyễn Hoàng. Năm 1588, hai linh mục Đa Minh khác, là Juan Maldonat và Pedro de Bastida, qua cửa Cần Cạo (Hà Tiên) đi Cao Miên, nhưng chỉ mấy tháng sau bị truy bắt: Pedro de Bastida bị tử thương và từ trần, còn Juan Maldonat bị trúng đạn chạy trốn sang được Thái Lan.
Năm 1596, Linh mục Alonso Ximenez và Linh mục Diego Aduarte với Trợ sĩ Juan Deca người Tây Ban Nha tới trước một cửa biển của Đàng Trong. Trong bản tường trình của mình, Linh mục Diego Aduarte không nói cửa biển tên gì, nhưng một người trong đoàn nói là Cachan (có lẽ là Cửa Hàn, Đà Nẵng). Ba giáo sĩ này đến không phải trong một đoàn truyền giáo, mà với tư cách là những thành viên của đoàn viễn chinh Tây Ban Nha đi yểm trợ vua Cao Miên, trên đường về Manila, ghé vào bờ biển Việt Nam để tìm mua lương thực. Họ được một vị phó vương (có lẽ là con Nguyễn Hoàng) tiếp đón nồng nhiệt.
Linh mục Aduarte thuật lại như sau: “Vị hoàng tử này cho chúng tôi nhiều tặng vật và dành cho chúng tôi nhiều ân tình, ông tha thiết mời gọi tôi ở lại kinh đô, hứa xây cho nhà nguyện. Tôi trả lời ông là tôi không thể nhận lời khi chưa có phép của giáo sĩ kia đang ở trên tàu. Ông để cho tôi đi trở về cửa khẩu” [9, tr. Cũng theo nguồn tư liệu của Trương Bá Cần, ở Đà Nẵng do có sự bất bình giữa nhà cầm quyền Việt Nam và viên chỉ huy Tây Ban Nha, đoàn thuyền của người Tây Ban Nha bị tấn công đã phải tìm cách chạy thoát ra ngoài khơi.
Linh mục Aduarte ở trên thuyền đã trốn thoát với người Tây Ban Nha, trong lúc Linh mục Alonso Ximenez ở trên bờ với hai giáo sĩ khác. Theo tài liệu, trong thời gian ở tại Đà Nẵng, linh mục Alonso Ximenez đã làm phép rửa tội cho hai tử tù trước giờ bị hành quyết. Sau đó, Giáo sĩ Ximenez đã theo thuyền của người Bồ Đào Nha trở về Manila. Ở vùng Quảng Nam, Thuận Hóa của Nguyễn Hoàng, từ sau khi người Bồ lập trụ sở thương mại ở Áo Môn, liên lạc thương mại giữa Áo Môn và cửa Hàn, cửa Hội An tiến triển đều đặn.
Thường thì các tàu buôn đến buôn bán đều có các vị thừa sai theo cùng. Các vị thừa sai này thuộc dòng Thánh Phanxico và Thánh Agostinô người Bồ có tu viện ở Áo Môn. Tuy nhiên, do thiếu sự tổ chức chặt chẽ nên không đi đến kết quả khả quan. Trương Bá Cần nhận xét: “Công cuộc truyền giáo của Dòng Đa Minh ở Việt Nam 10 thế kỉ XVI có thể nói là chưa có gì đáng được ghi nhận: phần lớn các giáo sĩ hoạt động trên phần đất thuộc Campuchia ngày nay” [9, tr.
Bên cạnh những ghi nhận cố gắng truyền giáo của Dòng Đa Minh vào Đàng Trong thế kỉ XVI thì Dòng Phan Sinh cũng có những ghi nhận về nổ lực truyền giáo ở đây. Thế kỉ XIV, XV các tu sĩ Phan Sinh đã có mặt tại Trung Quốc và Ấn Độ. Năm 1579, sau khi tu viện Phan Sinh được thành lập ở Manila đã cử Linh mục qua Macao lập tu viện. Tương truyền là có sứ bộ của Việt Nam sang thỉnh các thừa sai Bồ Đào Nha đến Việt Nam giảng đạo.
Giám mục Macao vì không có sẵn các tu sĩ Bồ Đào Nha thuộc các dòng khác nên đề nghị với các tu sĩ Phan Sinh sang truyền giáo ở Việt Nam. Tháng 6 năm 1580, Linh mục Pedro de Alfaro đã phải lên tàu đi Goa cùng với một tu sĩ Phan Sinh khác là Rodriguez de Lisboa. Chiếc tàu bị đắm, Linh mục Alfaro đã chết trôi dạt vào bờ theo ký sự của Dòng Phan Sinh. Dân chúng địa phương cho đây là một vị thần đáng kính nên đã tổ chức hỏa tang và chôn cất trọng thể.
Vì chi tiết hỏa táng này mà có tác giả cho rằng Linh mục đã trôi dạt vào vùng đất Champa. Năm 1586, theo sự sắp xếp của Tòa Thánh và của Bề Trên Dòng Phan Sinh, Việt Nam thuộc khu vực truyền giáo dưới sự bảo trợ của Bồ Đào Nha nên được giao cho Dòng Phan Sinh ở Macao. Hai giáo sĩ Phan Sinh người Bồ Đào Nha là Andre des Anges và Jacques de la Conception đến Việt Nam. Về khu vực truyền giáo của họ, các tài liệu của Dòng Phan Sinh chỉ nói là thuyền của Linh mục vì thời tiết xấu không vào được cửa khẩu của Triều đình mà tạm lánh vào cửa khẩu cách đó 6 dặm.
Một thuyền trưởng người Bồ Đào Nha trong bản tường thuật đã nói rằng: “Khi đến cửa biển Dom Jage (có lẽ là Sơn Trà), chúng tôi nhận được tin là Cacahan (có lẽ là cửa Hàn tức Quảng Nam, Đà Nẵng) có một tu sĩ Phan Sinh người Tây Ban Nha tên là Bartholome thân hình nhỏ, tóc bạc, trạc 50 – 60 tuổi, có tiếng là sống thánh thiện và khiêm tốn…. Nhờ dâng lễ vật cho nhà vua ở Sinoa (tức Thuận Hóa), ông đã được phép xây dựng một ngôi nhà và Nhà nguyện trong làng Caian (tức Hội An, Faifo)” [9, tr. Tuy nhiên, do không hiểu tiếng, họ chỉ giao dịch với chính quyền và người dân bằng dấu hiệu, có lúc họ đem tượng thánh ra chỉ trỏ, giải thích, tuy nhiên chẳng có kết quả gì. Nói tóm lại, ở Đàng Trong Việt Nam, Dòng Phan Sinh có nhiều nỗ lực truyền giáo ở thế kỉ XVI nhưng chưa đem lại hiệu quả.
Như vậy, từ những cứ liệu ở trên, có thể thấy rằng, trước thế kỉ XVII, những tiếp xúc và giao lưu văn hóa giữa cư dân bản địa ở khu vực Đàng Trong sau này chủ yếu diễn ra trên phương diện truyền giáo. Ở Nam bộ, các nhà truyền giáo Dòng Đa Minh đã có mặt tương đối sớm. Nhưng chủ yếu ở vùng đất thuộc Campuchia ngày nay, có lẽ cũng có hoạt động ở Nam bộ nhưng không đem lại hiệu quả nhiều. Ở Trung bộ, Dòng Phan Sinh đã tỏ ra tích cực, cử nhiều đoàn truyền giáo nhưng do sự tranh giành ảnh hưởng của người Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha nên quá trình truyền giáo thiếu liên tục.
11 Dòng Âu tinh cũng có mặt ở Quảng Nam - Đà Nẵng nhưng chỉ phục vụ cho thương nhân người Nhật và người Bồ. Còn Dòng Đa Minh thì chỉ thực sự có mặt vào những năm cuối thế kỉ XVI nhưng là đi theo đoàn viễn chinh của Tây Ban Nha trên đường từ Cao miên về Manila chứ không chủ đích truyền giáo ở Việt Nam. Công cuộc truyền giáo ở Đàng Trong Việt Nam chưa có chiều rộng và chiều sâu có lẽ vì chưa được tổ chức bài bản, cách thức truyền giáo chưa hiệu quả. Điều này đã ảnh hưởng nhất định không chỉ đối với công cuộc truyền giảng Phúc Âm mà còn đối với cả lĩnh vực giao lưu văn hóa đương thời.
Linh mục Borri, thừa sai từng có thời gian hoạt động ở Quảng Nam và Quy Nhơn trong giai đoạn 1618-1621 nhận xét: “Trước khi các linh mục Dòng Tên chúng tôi tới Đàng Trong, thói quen của người Bồ Đào Nha từ Malacca và Macao, của người Tây Ban Nha từ Manila, từ đây buôn bán là đem theo bên họ một vài tuyên úy để dâng thánh lễ và cử hành các bí tích cho họ trong suốt thời gian họ ở đó, thường ba, bốn tháng.