phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có 2 chương và 7 tiết. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐẠO CÔNG GIÁO 1. Khái niệm „Đạo Công giáo“ Công giáo (Katholik, Catholic, phổ biến) nguyên thủy có nghĩa là chung, hay phổ quát, nhưng trong lịch sử Kitô giáo, từ này được dùng theo nhiều cách. Hiện nay, „công giáo“ được sử dụng với năm nghĩa sau: i.
Hội thánh Công giáo, để phân biệt với các Hội thánh Kitô giáo không công nhận quyền tối thượng của Giáo hoàng. Đức tin công giáo, đức tin của tập thể các các tín hữu trên thế giới, hay cụ thể hơn, đức tin được chấp nhận „mọi nơi, mọi lúc và do mọi người“. Chính giáo, phân biệt với lạc giáo hay ly giáo. Hội thánh nguyên vẹn trước khi có cuộc ly khai ở phương Đông năm 1054; sau đó Hội thánh Phương Đông tự xưng là Chính thống, để đối lại với các Hội thánh Kitô giáo không chấp nhận những định tín của Công đồng Ephexo và Calcedinia về thiên tính của Chúa Kitô.
Ngày nay, nói chung, từ „công giáo“ chỉ những Kitô hữu theo một truyền thống đức tin và thờ phụng liên tục, và tin rằng các giám mục cũng như những linh mục là những người kế nhiệm của các tông đồ từ thời Chúa Kitô. Tính từ „công giáo“ (tiếng Latin: Cotholicus, tiếng Hy Lạp: Katholicos, tiếng Đức: katholisch, tiếng Anh: catholic,) có gốc tiếng Hy Lạp là „kath‘ holou“ nghĩa là: có liên quan tới sự toàn bộ. Thuật ngữ này lần đầu tiên được thánh Ignatio Antiokia sử dụng cho Hội thánh khoảng năm 107, theo nghĩa là toàn bộ hay phổ quát. Công đồng Constantinopolis I (381) thêm tính từ này vào Kinh Tin kính khi mô tả Hội thánh là một Hội thánh „duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền“.
Sau khi có sự phân chia Kitô giáo thành 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Kitô giáo phương Đông và Kitô giáo phương Tây năm 1054, các Hội thánh phương Đông bắt đầu nói về mình như „Chính thống“ trong khi hội thành phương Tây vẫn tiếp tục được biết đến như Hội thánh Công giáo. Từ thời cải cách vào thế kỷ XVI, người ta bắt đầu thêm từ „Roma“ vào sau từ „Công giáo“, nhưng trong những tài liệu chính thức của mình, Hội thánh ấy vẫn tiếp tục coi mình chỉ là „Hội thánh Công giáo“. Tính công giáo là tính phổ quát của Hội thánh do Jesus Kitô thiết lập. Kinh Tin kính của Công đồng Nicea tuyên xưng Hội thánh „duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền“.
Hội thánh là công giáo trước tiên về mặt không gian, vì Hội thánh có mặt trên khắp thế giới. Công giáo trong hiện thực là khi Hội thánh thực sự có mặt khắp nơi; công giáo trong khả năng vì ý muốn của chúa Kitô là muốn Hội thánh hiện diện giữa muôn dân. Công giáo trong thực tế có thể hiểu theo nghĩa vật lý khi nó bao gồm hết mọi người trên trái đất, dù không phải là tính từng cá nhân một; hoặc có thể hiểu theo nghĩa luân lý khi nó chỉ gồm đa số trong nhân loại. Dù có tính công giáo theo nghĩa luân lý là đủ để Hội thánh trở thành phổ quát, nhưng ý của Chúa Kitô là muốn Hội thánh nỗ lực không ngừng để phát triển.
Lý tưởng mà Hội thánh có gắng vươn tới là trở thành công giáo theo nghĩa vật lý. Lập trường chung của các nhà hộ giáo là muốn trở thành công giáo theo nghĩa luân lý, Hội thánh cũng phải được mở rộng ra trên phạm vi toàn thế giới. Có như thế, sau khi phát triển một thời gian, Hội thánh mới là công giáo theo nghĩa luân lý được và kể từ đó, Hội thánh sẽ mãi mãi tồn tại. Như vậy, công giáo là một thuộc tính của tôn giáo xuất phát từ Đức Kitô và về sau còn mang nghĩa là tôn giáo có tính phổ quát như định nghĩa của thánh Cyrillo thành Jerusalem viết vào cuối thế kỷ thứ II: “Giáo hội được gọi là Công giáo vì giáo hội lan tràn khắp thế giới từ đầu này đến đầu kia của trái đất, vì giáo hội giảng dạy một cách phổ biến, 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com không loại trừ tất cả các tín điều con người cần phải biết và cũng vì giáo hội muốn cho loài người, vua quan cũng như thường dân, người thông thái cũng như kẻ dốt nát suy phục sự tôn sùng đích thực” [Dt.
Bốn đặc tính của Giáo hội là: „duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền“. Những Giáo hội chấp nhận các đặc tính đó cũng có thể gọi là Công giáo. Vậy nên khái niệm Công giáo không phải chỉ là từ chuyên biệt của Giáo hội Công giáo Roma. Theo nghĩa này thì „Đạo Công giáo“ có liên quan tới một cộng đoàn đặc biệt nào đó của các tín hữu, một Hội thánh hữu hình, có tính lịch sử, và một truyền thống sống động, tất cả đều bắt nguồn từ Hội thánh của các tông đồ.
Theo một nghĩa rộng hơn thì „Đạo Công giáo“ đôi khi được hiểu như bao gồm các Hội thánh khác như Chính thống và những Giáo hội hiệp thông với Anh giáo, những Giáo hội vẫn hiệp thông với truyền thống Công giáo ở một mức độ nào đó. Không phủ nhận rằng những Hội thánh này và những Hội thánh khác còn hiệp thông với truyền thống Công giáo. Ở đây ta quan tâm tới Đạo Công giáo theo một nghĩa đặc biệt, có liên quan đến Hội thánh Roma thánh được gọi đơn giản là „Công giáo“. Đức tin, nghi lễ và luân lý của Hội thánh Công giáo Roma với tư cách là một thực tại lịch sử, đã được mặc khải nơi Chúa Jesus Kitô và được tiền định sẽ tồn tại cho tới ngày tận thế.
Đạo Công giáo là tất cả những gì Hội thánh dạy phải tin và phải sống để để được cứu độ và, ngoài sự cứu độ ấy, còn được thánh hóa. Hệ thống giáo lý, phụng vụ và đời sống này được gọi là công giáo (phổ quát), vì hệ thống ấy nhắm tới mọi người, mọi thời cũng như chưa đựng mọi điều cần thiết và thích hợp cho mọi hoàn cảnh của cuộc sống con người. Đạo Công giáo Roma là đức tin, phụng vụ và luân lý của tất cả những Kitô hữu hiệp thông với giám mục Roma, người mà họ nhìn nhận là người đại diện của Chúa Jesus và thủ lĩnh hữu hình của Hội thánh do Jesus thiết lập. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cách nói „Hội thánh Roma“ hay „Hội thánh Công giáo Roma“ đã có ít nhất từ thời Trung cổ nhưng những cách nói này mới được chú ý nhiều sau cuộc cải cách của Tin lành.
Mục đích là để nhấn mạnh phẩm chất khác biệt của một người không những là Kitô hữu vì đã được rửa tội mà còn là người Công giáo vì có hiệp thông với Giáo hoàng. Tóm lại, khái niệm Kitô giáo rộng hơn và đương nhiên Công giáo chỉ là một nhánh của Kitô giáo mà thôi. Danh từ Công giáo cũng chính thức được nhà nước ta ghi nhận trong Sắc lệnh 234/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 14-6-1955. Khái niệm đạo Công giáo đề cập đến trong chuyên luận này là tôn giáo thuộc giáo hội Công giáo Roma và được truyền vào Việt Nam từ đầu thế kỷ XVI.
Ở Việt Nam, Đạo Công giáo còn có những tên gọi khác là Đạo Hoa Lang, Đạo Gia-tô, đạo Cơ đốc, là Đạo Thiên chúa vì tôn giáo này thờ Thượng đế (Thiên chúa). Hiện nay, trong các văn bản chính thức đều gọi đạo Công giáo. Bối cảnh ra đời của Đạo Công giáo 1. Cơ sở kinh tế - xã hội Đạo Công giáo ra đời vào đầu Công nguyên, trong bối cảnh đế quốc La Mã thời cổ đại lâm vào khủng hoảng trầm trọng và chứa đầy mâu thuẫn.
Từ thế kỷ II, III trước Công nguyên ở Châu Âu, nhà nước chiếm hữu nô lệ Roma, sau khi hình thành, đã liên tiếp mở các cuộc viễn chinh xâm lược. Đến đầu Công nguyên, nhà nước Roma trở thành một đế quốc hùng mạnh với một lãnh thổ rộng lớn ven Địa Trung hải, trải dài từ tây sang đông bao gồm nhiều bán đảo Italia và các nước cùng Địa Trung hải (nằm ở ba châu lục: một phần của Châu Âu, một phần của Châu Á và một phần của Bắc Phi). Đây chính là giai đoạn phát triển cực thịnh của đế quốc La Mã cổ đại, một nhà nước đế chế được thiết lập bằng chiến tranh xâm lược và chủ yếu dựa vào lao động thô sơ. Sự hà khắc của chế độ chiếm hữu nô lệ, sự bất công, bóc lột 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nặng nề đã đẩy quần chúng lao động đến chỗ cùng cực và những khát vọng giải phóng, tự do, an ủi trở thành môi trường lý tưởng cho Đạo Công giáo ra đời.
Tuy nhiên, ngay trong lòng đế chế La Mã hùng mạnh đã xuất hiện các mâu thuẫn và rạn nứt. Đó là mâu thuẫn giữa nô lệ và chủ nô, mâu thuẫn giữa các dân tộc bị áp bức, bị xâm lược với đế quốc La Mã, kẻ đi xâm lược, mâu thuẫn giữa nhà nước trung ương tập quyền với cơ quan thống trị địa phương,. Những mâu thuẫn đó đã dẫn đến các cuộc khởi nghĩa vũ trang chống lại giai cấp chủ nô và quân xâm lược, không chỉ ở những vùng đất bị chinh phục mà còn ở chính quốc. Tuy nhiên, sức mạnh của đế chế La Mã đã nhanh chóng đập tan những cuộc khởi nghĩa đó.
Sự thất bại của các cuộc đấu tranh này khiến quần chúng lao động cảm thấy bi quan, tuyệt vọng trước cuộc sống hiện thực, họ tìm đến các lực lượng siêu nhiên để mong được giải thoát khỏi cuộc sống hiện thực. Sự ra đời của đạo Công giáo xuất phát từ tinh thần đó. Nó chính là ước mơ của quần chúng nhân dân lao động muốn được giải thoát khỏi cuộc sống thực tại đau thương đó, đồng thời cũng là sự phản ánh của họ trước thực tại đương thời. Họ không tìm thấy lối thoát trong đời sống hiện thực, vì thế họ tất yếu phải tìm đến với lối thoát tinh thần.
Quả thật, để tiếp tục tồn tại, những con người đau khổ và yếu đuối trong cái xã hội ấy cần được an ủi, cần lấy lại sự cân bằng về tâm lý, cần có niềm tin, dù là tin vào một sự cứu vớt của một sức mạnh siêu nhiên nào đó. Chính tôn giáo đã đáp ứng nhu cầu tinh thần của một bộ phận những con người như vậy. Rõ ràng, nhu cầu giải thoát của những con người yếu đuối trong tình trạng bị áp bức cùng cực là rất lớn.